LUẬN văn THẠC sĩ CHÍNH TRỊ học CÔNG tác vận ĐỘNG các tín đồ tôn GIÁO ở TỈNH QUẢNG NGÃI HIỆN NAY - Pdf 39

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành là nhờ sự giúp đỡ của:
Thường trực Tỉnh ủy Quảng Ngãi; Ban dân vận Tỉnh ủy;
Ban Giám hiệu Trường Chính Trị Quảng Ngãi, Ban Tôn
giáo tỉnh; Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh; Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tỉnh; các đoàn thể của tỉnh: Hội LHPN, Hội
nông dân Việt Nam, Liên đoàn lao động, Hội LHTN, Hội
người cao tuổi, Hội cựu chiến binh; cùng các Ban Tôn
giáo thị xã Quảng Ngãi; huyện Bình Sơn; huyện Sơn
Tây... Đã tạo điều kiện vật chất, động viên tinh thần,
cung cấp nhiều thông tin, tư liệu quan trọng... Bản thân
xin được tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ tận tình và quí báu
ấy.


2

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác vận động quần chúng nói chung, công tác vận động tín đồ
các tôn giáo nói riêng là công tác thường xuyên và tưởng chừng như quá
quen thuộc trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trước kia
cũng như trong sự nghiệp cách mạng XHCN hiện nay do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo, thế nhưng khi Đảng ta thực hiện bước chuyển đổi cách
mạng, đẩy mạnh công cuộc đổi mới và từng bước đưa nước ta bước vào
quỹ đạo của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì công tác
vận động tín đồ các tôn giáo - một công tác vận động quần chúng "đặc biệt"
lại càng phải hết sức coi trọng.
Hơn thế nữa, những chuyển biến tích cực và tiêu cực của đời sống

Đề tài đã được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Ở địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi có đề tài khoa học do đồng chí Từ Tân Vũ (chủ nhiệm đề tài)
"Vấn đề tôn giáo và đổi mới công tác tôn giáo trong tình hình hiện nay ở
tỉnh Quảng Ngãi"; Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Ngãi có đề tài khoa
học "Đổi mới công tác vận động quần chúng có đạo của Bộ đội Biên
phòng ở khu vực biển - đảo Quảng Ngãi" (D7- 97) do đồng chí Phan Thanh
Long (chủ nhiệm đề tài). Luận án Thạc sĩ có đề tài "Công tác vận động
quần chúng theo đạo Thiên chúa ở miền Bắc nước ta hiện nay" (5.03.14).
Ngoài ra, còn có một số công trình được đăng tải trên các tạp chí "Mấy suy
nghĩ về bộ đội làm công tác dân vận ở vùng đồng bào có đạo" của thượng
tá Nguyễn Ngọc Kim (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 8/2000); "Đoàn
B15 với công tác vận động quần chúng ở vùng đồng bào dân tộc và tôn
giáo" của đại tá Võ Quang Hải (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng
11/1999); "Vận động giáo phái Cao đài, nét độc đáo, sáng tạo của Đảng
bộ Tây Ninh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước" của Võ Thị Hoa (Tạp
chí Lịch sử Đảng, tháng 2/2000).


4

Các công trình nêu trên chỉ đề cập đến những khía cạnh, những vấn
đề có liên quan đến công tác vận động tín đồ các tôn giáo, chưa đi sâu
nghiên cứu một cách có hệ thống về công tác vận động tín đồ tôn giáo ở
một địa phương cụ thể nhằm đưa ra những giải pháp khả thi cho việc thực
hiện thắng lợi công tác vận động tín đồ các tôn giáo trong tình hình mới.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ thực trạng tình hình công
tác vận động tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi hiện nay; qua đó đề
xuất phương hướng và giải pháp đúng đắn góp phần đưa công tác vận động
tín đồ tôn giáo ở địa phương phù hợp với yêu cầu của tình hình. Với mục

hoạch định chính sách vận động quần chúng tín đồ của các cấp ủy, chính
quyền và các đoàn thể ở địa phương; hy vọng luận văn sẽ góp phần bé nhỏ
trong việc xây dựng cơ sở đoàn kết dân tộc, đoàn kết và bình đẳng tôn giáo.
- Trong chừng mực nhất định, luận văn cũng là một tài liệu tham
khảo có giá trị trong việc giảng dạy (thuộc hệ thống Trường Chính trị) cũng
như nghiên cứu về tình hình công tác vận động tín đồ tôn giáo ở địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn
gồm 2 chương, 4 tiết.


6

Chương 1
TÍN ĐỒ CÁC TÔN GIÁO Ở TỈNH QUẢNG NGÃI TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM
1.1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG
NGÃI TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT - TINH THẦN CỦA TÍN ĐỒ
CÁC TÔN GIÁO

Nằm trong địa phận của các tỉnh miền Trung Trung Bộ, tỉnh Quảng
Ngãi gần như ở khoảng giữa hai đầu của đất nước. Theo quốc lộ 1A về
phía bắc cách Thủ đô Hà Nội 883km; về phía nam cách thành phố Hồ Chí
Minh 838 km. Từ 14032'40'' - 15025' độ vĩ bắc và từ 108006' - 109004'35'' độ
kinh đông [24, tr. 2], tỉnh Quảng Ngãi giáp với tỉnh Quảng Nam ở phía bắc;
giáp với tỉnh Bình Định ở phía Nam; về phía Tây, tỉnh Quảng Ngãi bị ngăn
cách với tỉnh Kontum bởi các chi nhánh của dãy núi Trường Sơn hùng vĩ;
về phía Đông giáp mặt với biển Đông.
Tỉnh Quảng Ngãi có bờ biển dài 130km, bờ biển quanh co và khúc
khuỷu tạo ra nhiều cửa lạch, vũng Vịnh. Đó là nơi cư trú thuận lợi của
nhiều tàu, thuyền hoạt động trên vùng biển Quảng Ngãi. Đặc biệt, có vũng

Như vậy, điều kiện tự nhiên ở Quảng Ngãi là bất lợi cho đời sống
của nhân dân, vốn là một địa phương có cư dân nông nghiệp chiếm tỷ trọng
cao. Chúng ta đều biết rằng, khó khăn về đời sống kinh tế chính là mảnh
đất tốt để cho tín ngưỡng, tôn giáo sinh sôi, nẩy nở. Song tùy theo biên độ
nhiệt của tình hình chính trị mà đời sống tín ngưỡng, tôn giáo có những
biểu hiện (sôi nổi hoặc thầm lặng) khác nhau, mang những mục đích khác
nhau. Vì lẽ đó mà cũng có thể nói rằng: tác động xấu của điều kiện địa lý tự
nhiên là tiền đề cho sự phát sinh tín ngưỡng tôn giáo. Nhưng điều có tính
quyết định cho sự hình thành và phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo chính là
do tác động của yếu tố xã hội.


8

Theo "Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam" thì tỉnh Quảng
Ngãi nguyên là đất Cổ Lũy của Chiêm Thành. Năm 1402 Hồ Quý Ly cất
binh đánh Chiêm Thành, chiếm phần đất Cổ Lũy và chia Cổ Lũy thành hai
châu: Châu Tư và Châu Nghĩa trực thuộc lộ Thăng Hoa của nước Đại NguBên cạnh binh sĩ và quan lại trấn giữ, nhà Hồ đưa dân Việt ở Nghệ An và
Thuận Hóa vào định cư, sinh sống lâu dài [65, tr. 62-63]. Từ đó, trên đất
Cổ Lũy ngoài các tộc người bản xứ còn có thêm người Việt cùng sinh sống.
Đến đời Hồng Đức, hai Châu Tư và Nghĩa được đổi thành phủ Tư Nghĩa
trực thuộc thừa tuyên Quảng Nam. Đời Tây Sơn, phủ Tư nghĩa được đổi
thành trấn hòa Nghĩa. Năm 1808, Gia Long đổi trấn Hòa Nghĩa thành trấn
Quảng Nghĩa. Vì kỵ tên húy của Nguyễn Phúc Toản nên trấn Quảng Nghĩa
được đổi thành trấn Quảng Ngãi. Năm 1832 trấn Quảng Ngãi được đổi
thành tỉnh Quảng Ngãi.
Căn cứ vào hai câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ:
"Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long"
Cũng minh chứng được rằng con người đất Quảng ngày nay chính

của tỉnh Quảng Ngãi thì có 6 huyện (thị) ở khu vực đồng bằng; 1 huyện
trung du, 1 huyện hải đảo và 5 huyện miền núi. Dân cư phân bố không đều,
tập trung chủ yếu ở đồng bằng chiếm 83,8% còn ở miền núi, hải đảo dân cư
thưa thớt chiếm 16,3% dân số của tỉnh. ở các vùng đồng bằng, trung du và
hải đảo đại đa số là dân tộc kinh., có đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội
thuận lợi và tiến bộ hơn so với các dân tộc ít người ở miền núi. Dù ở khu
vực lãnh thổ nào đi nữa, nhìn chung cư dân Quảng Ngãi chủ yếu vẫn là cư
dân nông nghiệp. Do vậy, yếu tố cộng đồng làng xã, cộng đồng dòng họ
cũng ít nhiều chi phối đến đời sống mọi mặt của con người. Tuy nhiên so
với bản quán tổ tiên thì tính cộng đồng làng xã, cộng đồng dòng họ không
bị ràng buộc chặt chẽ mà chỉ là cái nghĩa, cái tình trong quan hệ giữa con


10

người với con người trong một cộng đồng. Những truyền thống quí báu của
tổ tiên cũng được lưu truyền và ứng dụng vào đời sống ở vùng đất mới, tất
nhiên phải qua sự chọn lọc và phát triển phù hợp với đời sống văn hóa bản
địa. Đối với đời sống tín ngưỡng và tôn giáo, người dân Quảng Ngãi cũng
mang đầy đủ những yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo của một cư dân nông
nghiệp đa thần: ở vùng biển, người dân coi trọng việc xây dựng Lăng, Miếu
thờ cá voi (cá Ông) với những nghi thức long trọng và trang nghiêm. Cư
dân ở đồng bằng và trung du vẫn dựng đình, miếu để thờ Thành Hoàng của
làng, xã; còn cư dân miền núi vẫn bảo lưu đậm nét những tín ngưỡng đa
thần nguyên thủy của họ.
Có thể nói rằng, Quảng Ngãi là một tỉnh bị tàn phá ác liệt bởi nhiều
cuộc chiến tranh liên tiếp, kéo dài; lại thêm điều kiện thiên nhiên, thời tiết
khắc nghiệt, nên tỉnh Quảng Ngãi rất khó khăn trong việc phục hồi và phát
triển kinh tế - văn hóa - xã hội.
Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa

hội. Đây là đặc điểm có tính chất nền móng của đoàn kết tôn giáo, đoàn kết
dân tộc từ xưa đến nay.
Theo số liệu của Ban Tôn giáo tỉnh, hiện nay toàn tỉnh có 42.049 tín
đồ nhưng con số này chỉ tập trung ở các tôn giáo lớn của tỉnh: Đạo Phật,
đạo Cao Đài, đạo Công giáo và đạo Tin lành. Ngoài ra, còn một số tín đồ
đạo Phật của người Hoa (có hai cơ sở thờ tự tại thị xã Quảng Ngãi); tín đồ
đạo Hồi, tín đồ đạo Hòa Hảo; tín đồ của các tà đạo đang lén lút hoạt động
trong các địa bàn dân cư của tỉnh (Thanh Hải vô Thượng sư, đạo Tâm linh,
đạo Bhai...). Bên cạnh những tôn giáo và tà đạo kể trên, còn có hoạt động
của tín ngưỡng dân gian như: Thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng (ở dân
tộc Kinh); tín ngưỡng đa thần nguyên thủy (của dân tộc ít người) đã phản
ánh một bức tranh tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống nhân dân địa
phương hiện nay là rất phong phú và phức tạp. Theo đạo rầm rộ, rồi nhạt
đạo, khô đạo, bỏ đạo và tái theo đạo là cái vòng luẩn quẩn trong đời sống
tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương, nó phản ánh một sự bế tắc
trong cuộc sống của con người; nó phản ánh một tư tưởng tự do trong tôn


12

giáo và đồng thời cũng chứng tỏ sự cởi mở, không cực đoan, cuồng tín
trong đời sống đạo của nhân dân, và một phần nào đó nó cũng nói lên tính
thực dụng trong tôn giáo. Xu hướng này hiện nay có tình trạng "mượn đạo
tạo đời", "theo đạo kiếm gạo mà ăn...", đây là những bả vật chất quen thuộc
của các thế lực phản động hoặc số người lợi dụng đội lốt tôn giáo dùng để
lừa bịp, tập hợp quần chúng nhân dân nhẹ dạ cả tin vào tổ chức tôn giáo
này, tôn giáo nọ nhằm thực hiện các mưu đồ chính trị, kinh tế, xã hội khác
nhau.
Là một tỉnh có truyền thống hiếu học nhưng nhân dân nông nghiệp,
nông thôn lại không có điều kiện đi học nên dân trí thấp. Do vậy ở một bộ

của Ban Dân vận Trung ương Đảng, trong bài viết: "Vấn đề tín đồ của một
tôn giáo" có ghi nhận những yếu tố cơ bản về tín đồ của một tôn giáo như sau:
Trước hết là tự nguyện tiếp nhận tín ngưỡng và giáo lý tối
thiểu của tôn giáo bằng một hành vi (nghi thức) nhập đạo căn
bản. Ví dụ: Việc chịu phép rửa tội của đạo Công giáo, quy y tam
bảo (phật, pháp, tăng) của đạo Phật... Thứ đến phải tuân thủ
những giới luật tối thiểu đối với một tín đồ. Ví dụ: Việc thọ ngũ
giới của đạo Phật, giữ 10 điều răn và các phép bí tích của đạo
Công giáo... Cuối cùng là thành viên tự giác của một giáo hội hay
một cộng đồng tôn giáo [25, tr. 4].
Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn - Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu tôn
giáo cho rằng:
Tín đồ của một tôn giáo là người chịu theo một qui định
của tôn giáo đó (qui định về tổ chức, qui định về giáo lý, qui định
về hành vi). Ví dụ: Đạo Công giáo khi sinh ra đã chịu lễ bắp tem
nghĩa là sống cả đời trong đạo; đạo Tin lành thì con người trưởng
thành từ 16 - 18 tuổi trở lên chịu lễ bắp tem; còn đối với tín đồ
đạo Phật khi họ quy y, ăn chay và theo quy định của đạo Phật...


14

Như vậy, tín đồ là dấu hiệu để phân biệt người theo tôn giáo và
người không theo tôn giáo, dấu hiệu đó do từng tôn giáo quy định.
(Trích theo đề cương bài giảng của GS Đặng Nghiêm Vạn: Mối
quan hệ giữa tôn giáo và cộng đồng xã hội (ngày 28/8/2000)).
Thiết nghĩ, những nhận định nêu trên có thể khái quát hóa thành
khái niệm về tín đồ của một tôn giáo. Đây cũng là vấn đề cần phải thống
nhất trước khi nghiên cứu về tình hình, đặc điểm của từng tín đồ tôn giáo
cụ thể ở địa phương. Mặt khác, cũng cần nên lưu ý đến đặc điểm, tình hình

lôi kéo. Chúng lợi dụng chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về tôn
giáo để đưa ra những yêu sách, kiến nghị không đúng với quy định của luật
pháp, làm ảnh hưởng đến đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong cộng đồng
xã hội.
1.2.1. Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Phật
Trong bản báo cáo tại Đại hội lần thứ II của Ban trị sự Phật giáo
tỉnh Quảng Ngãi ghi rõ: đến năm 2000, trong toàn tỉnh có 3.215 tín đồ
được nhận quy y. Nhưng theo đồng chí chuyên viên đảm nhận công tác
Phật giáo của Ban Tôn giáo tỉnh cho biết: Tín đồ đạo Phật trong toàn tỉnh
hiện nay có khoảng 24.577 tín đồ gồm cả hai loại (thuần thành và không
thuần thành) (xem biểu 2, trang 44).
Tín đồ thuần thành là tín đồ có quy y và thực hiện năm giới của
nhà phật.
Tín đồ không thuần thành, không tham gia quy y nhưng tin và theo
đạo Phật, đi lễ chùa, ăn chay vào ngày rằm (ngày 15 âm lịch) và ngày
mồng một (01 âm lịch) hằng tháng, và thờ Phật trong nhà. Số lượng tín đồ
không thuần thành có số lượng lớn hơn số lượng tín đồ thuần thành nhiều
lần. Do vậy, đứng về mặt số lượng tín đồ Phật giáo hiện nay thì không thể


16

có con số chính xác mà chỉ nêu lên một cách tương đối để có cơ sở đánh
giá.
Phật giáo xuất hiện ở tỉnh Quảng Ngãi rất sớm, nhưng chỉ ở dạng
"tiềm tàng" trong từng con người, trong từng gia đình của các cư dân phía
Bắc vào lập nghiệp. "Khi nhà sư Minh Hải (Pháp Bảo) - Nhà sư thuộc thiền
phái Lâm Tế - Một tông phái chủ yếu của Phật giáo miền Trung và miền
Nam hiện nay, thành lập chùa Thiên Ấn vào năm 1677 thì ở tỉnh Quảng
Ngãi mới chính thức có tổ chức Phật giáo ra đời" [85, tr. 8]. Song vào thời

tộc như một truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chung lưng đấu cật
cùng với dân tộc hay không.
Phật giáo là một tôn giáo đại diện cho sự từ bi, độ lượng, đại xá
trong quan hệ đời thường giữa người với người. Vì vậy, trải qua bao thăng
trầm, tín đồ đạo Phật ở Quảng Ngãi vẫn tồn tại với số lượng, đông đúc,
mặc dù tổ chức giáo hội và giáo lý của Phật giáo rất lỏng lẻo.
Trong những năm 20 của thế kỷ 20, thực dân Pháp cũng đã thấy
được sự hiện hữu của Phật giáo trong lòng dân tộc là không thể chối bỏ
được, mặc dù có sự suy vong trầm trọng về đạo pháp. Do đó, trong xu
hướng "Tương kế tựu kế" thực dân pháp cho phép Phật giáo thực hiện công
cuộc "chấn hưng" đạo pháp để qua đó nắm lấy đạo Phật làm cơ sở xã hội,
thực hiện mưu đồ chính trị của chúng. Thế nhưng "phong trào chấn hưng
Phật giáo" không đi theo xu hướng của chính quyền thực dân mong muốn.
Các Hội Phật học lần lượt ra đời ở khắp nơi trên đất nước để tuyên truyền
quan điểm mới về giáo lý nhà Phật, cải tổ tổ chức, củng cố lại giáo hội
nhằm khắc phục những tồn tại, vì rằng nguyên nhân làm cho đạo Phật suy
vong cũng phát xuất từ những tồn tại của nó. Ngày 20/8/1938 tại tổ đình
Thiên Ấn, Chi hội An Nam phật học hội tỉnh Quảng Ngãi được thành lập,
thành phần của Chi hội bao gồm cả nhân sĩ, trí thức, thương gia. Trụ sở của
Chi hội đặt tại chùa Hội Phước - thị xã Quảng Ngãi. Tiếp theo sự ra đời của
Chi hội An Nam phật học hội tỉnh thì ở các huyện Ban Tịnh độ của Hội


18

cũng thành lập, trở thành phong trào sôi nổi vừa phát triển hội viên, vừa
tuyên truyền phật pháp. Sự kiện này tạo điều kiện thuận lợi cho tín đồ an
tâm hành đạo, phần nào đó cũng động viên họ gắn bó với truyền thống yêu
nước của dân tộc.
Bên cạnh tổ chức Phật giáo yêu nước, xuất hiện các tổ chức phật

giáo ở tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và ở miền Nam Việt Nam nói chung. Với
mưu đồ "Công giáo hóa" miền Nam Việt Nam, gia đình họ Ngô dùng tất cả
mọi thủ đoạn đàn áp, khống chế, bách hại nhân dân miền Nam mà đối
tượng gánh chịu chính sách ngụy tạo này không ai khác ngoài tín đồ Phật
giáo. Mỹ - Diệm đánh đồng tín đồ Phật giáo với người cộng sản ở miền
Nam Việt Nam là một. Do vậy, cuộc sống ảm đạm bao quanh tín đồ Phật
giáo miền Nam Việt Nam lúc này đã được các nhà nghiên cứu ghi nhận qua
vài nét phát họa sau đây:
Trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng "tại Quảng Ngãi, bằng việc tổ
chức các lớp học chủ nghĩa nhân vị, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt ép
dân, chủ yếu là tín đồ Phật giáo bỏ đạo của mình để theo Thiên chúa giáo,
có nơi Phật giáo bị đã kích mạnh. Nếu những ai phản đối thì đủ mọi thứ tai
ương ập đến" [20, tr. 15].
Hàng loạt những trò mưu ma, xảo quyệt được chính quyền Ngô
Đình Diệm tung ra để nhằm áp chế, cải đạo đối với tín đồ Phật giáo thật là
kinh khủng. Thư đề ngày 23/9/1961 của Khuôn hội Phật giáo xã Sơn Mỹ
gởi tỉnh Quảng Ngãi cho biết:
Trong thời gian gần đây, cứ theo các báo cáo có Ông thầy
Dư người Công giáo ở Phú Hòa về giảng đạo và dạy thuyết Duy linh
tại xã Sơn Mỹ, đi đến thôn, Ông ấy dùng lời lẽ ép hội viên chính
thức của Phật giáo, buộc họ ký đơn tình nguyện vào Thiên chúa
giáo, nếu không thì dùng biện pháp chính quyền khủng bố. Như
ghép vào tội tình nghi, lướng hướng bắt học tập, thu giấy căn cước


20

và thẻ chứng minh của Phật giáo, làm cho sinh hoạt trở ngại [20,
tr. 20].
Kết quả của mưu đồ trên là hầu hết các "cán bộ" từ thôn, xã trở lên

hơn không kém. Vì vậy, "phong trào đấu tranh của các bậc cao tăng, tín đồ
phật từ diễn ra liên tục suốt thập kỷ 60- 70 mà người đứng đầu phong trào
là hòa thượng Thích Giải Hậu" [85, tr. 15].
Ngày 31/10/1967, đại đức Thích Hạnh Đức tự thiêu tại chùa Tỉnh hội
đã gây ra một chấn động lớn trong đời sống tinh thần của tín đồ Phật giáo
Quảng Ngãi. Được sự chỉ đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, đám tang
của đại đức Thích Hạnh Đức đã trở thành cuộc biểu tình của hơn 20.000
nghìn người xuống đường thị uy lực lượng, đối mặt với kẻ thù của dân tộc.
Dưới sự hướng dẫn và lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng
tỉnh Quảng Ngãi, trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước nhiều tổ chức Phật
giáo yêu nước ra đời trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi: "Giáo hội Phật giáo
Việt Nam thống nhất" (1954). Tổ chức "gia đình phật tử" (1963); các
phong trào đấu tranh cho hòa bình, chống bắt lính trong phật tử... đi vào
hoạt động đạt được kết quả thiết thực, góp phần cùng cả nước làm nên cuộc
chiến thắng mùa xuân lịch sử 1975.
Sau ngày giải phóng đất nước đến năm 1989, tình hình địa phương
và đất nước có sự đổi thay lớn, tác động đến đời sống của tín đồ Phật giáo.
Song đa phần tín đồ Phật giáo hành động theo hiến chương của giáo hội
Phật giáo Việt Nam "đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Từ khi có
Nghị quyết 24/BCT (16-10-1990) tín đồ Phật giáo ở Quảng Ngãi hoạt động
sôi nổi với nhiều hình thức phong phú. Bên cạnh việc cúng dường, niệm
phật, lo toan chuyện công đức, các tín đồ Phật giáo còn tham gia các công
tác xã hội mà rõ nét nhất là công tác từ thiện xã hội. Song, việc hiểu sâu sắc
về chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo của
tín đồ đạo Phật thì còn nhiều vấn đề khá mơ hồ. Do đó, dễ dẫn đến động
thái cực đoan, yêu sách một khi có kẻ xấu mua chuộc và lợi dụng. Vấn đề


22


nay, toàn tỉnh đã hình thành 32 đơn vị Gia đình phật tử, trong đó 18 đơn vị
đã được Ban trị sự cấp quyết định công nhận; 14 đơn vị còn lại hình thành
tự phát nên Ban trị sự xem xét để có kiến nghị lên cấp trên xin được công
nhận sinh hoạt theo yêu cầu của đơn vị.
Thời gian gần đây, một số đối tượng cầm đầu đơn vị Gia đình phật
tử trái phép có những hoạt động phục hồi lại tổ chức Gia đình phật tử thuộc
phật giáo Việt Nam thống nhất trước năm 1975. Trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi, tuy chưa có sự hình thành tổ chức Gia đình phật tử của nhóm Nguyễn
Châu (tức Nguyễn Sĩ Thiều đang hoạt động chống lại chủ trương của Giáo
hội Phật giáo Việt Nam, muốn lập Gia đình phật tử thành một tổ chức, tách
với Giáo hội để một số người lợi dụng như một côngcụ hoạt động chính trị
- tư tưởng). Nhưng đã có một số huynh trưởng của Gia đình phật tử trước
năm 1975, núp bóng danh nghĩa Gia đình phật tử thuộc Giáo hội Phật giáo
Việt Nam để lén lút hoạt động theo hướng của nhóm Nguyễn Châu. Đối
với tỉnh Quảng Ngãi, việc phân rẽ nội bộ giáo hội cũng như Gia đình phật
tử hiện nay xuất phát từ sự tồn tại và hoạt động chống phá ngấm ngầm của
nhóm thuộc phe phái Huyền Quang. Bên cạnh đó có sự "tiếp sức", "móc
nối" của số phần tử "Phật giáo Hải ngoại" đang ở nước ngoài hoạt động trái
phép đã và đang là chỗ dựa về vật chất cũng như tinh thần, tạo điều kiện
cho bọn cực đoan trong gia đình phật tử ở Quảng Ngãi ngoi lên hoạt động
tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, lôi
kéo tín đồ, đạo hữu gây chia rẽ nội bộ Giáo hội cũng như đời sống bình an
của tín đồ phật giáo ở địa phương.
1.2.2. Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Công giáo


24

Hiện nay tín đồ đạo Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi có 5.885 người,
sống tập trung chung quanh 13 nơi thờ tự, có 8 chức sắc và 3 Hội đoàn chủ

Ngãi có những bước thăng trầm mang tính lịch sử, tác động khá lớn đến
đời sống muôn mặt của tín đồ.
Năm 1671, khi dòng tu Mến thánh giá được thành lập tại An Chỉ
(xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành) đã đánh dấu về sự ra đời, phát triển
của đạo Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi. Tiếp đó, các họ đạo và nhà thờ lần
lượt được xây dựng và xác lập: Châu me, Kỳ thọ, Chà và, Chợ mới, Ân
Hội, Chà là... Như vậy, ở từng vùng, khu vực dân cư trong toàn tỉnh các
vành đai của họ đạo được hình thành. Tuy nhiên, sự hình thành nên vành
đai các họ đạo ở Quảng Ngãi là một quá trình lâu dài, bởi lẽ đạo Công giáo
khá xa lạ với tín ngưỡng truyền thống của địa phương. Kể từ khi các nhà
truyền giáo phương Tây đặt chân lên mảnh đất này cho đến thế kỷ thứ XIX
(gần 300 năm truyền giáo) đạo Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi mới có một
lực lượng tín đồ khoảng 7.000 người (số liệu của đề tài nghiên cứu khoa
học, Từ Tân Vũ, trang 15). Thế nhưng đến đời các vua triều Nguyễn (từ
Gia Long đến Tự Đức) đạo Công giáo ở Quảng Ngãi bị bài xích và cấm
cách nên hạn chế đáng kể đến việc phát triển tín đồ. Điều đáng ghi nhận
hơn là vào năm 1883, với phong trào "Bình Tây sát tả" do sĩ phu yêu nước
khởi xướng đã đã phá mạnh vào lực lượng chức sắc và giáo dân đạo Công
giáo.
"Trong bối cảnh đó, các họ đạo, nhà thờ ở Quảng Ngãi cũng bị bách
bại khốc liệt. Hầu hết các nhà thờ họ đạo bị đốt phá, các giáo sĩ pháp như
Guegan (Cố Hồng) ở Phú Hòa, Poiriere (Cố Tân) ở Bầu Gốc, Garin (Cố
Châu) ở Cù và bị giết chết. Trong tổng số 7.000 tín hữu lúc bấy giờ, sau
thảm sát chỉ còn 1000 người" [85, tr. 16]. Do nhận thức lệch lạc của các sĩ
phu, văn thân yêu nước cho rằng, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là do
sự tiếp tay của đồng bào giáo dân, giáo sĩ đạo Công giáo. Vì vậy, họ đã vô



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status