luận văn thạc sĩ chính trị học CÁC NHÓM lợi ÍCH TRONG đời SỐNG CHÍNH TRỊ các nước phương tây và bài học cho việt nam - Pdf 38

Bộ giáo dục và đào tạo

Học viện Chính trị - hành chính
Quốc gia hồ chí minh

Học viện Báo chí và Tuyên truyền


CC NHểM LI CH TRONG I SNG CHNH TR
CC NC PHNG TY HIN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số:
60 31 20

Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị

Cn Th - 2014


2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và luận cứ nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào. Nếu sai tôi xin
chịu trách nhiệm hoàn toàn./.

Hà nội, ngày

tháng

chúng tôi thì trên thực tế đã hình thành các nhóm lợi ích từ lâu. Đặc biệt
những năm gần đây, các nhóm lợi ích ngày càng hình thành và phát triển, góp
phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, trong xã hội Việt Nam chưa tồn tại một văn bản pháp quy nào


4

công nhận hoạt động của các nhóm lợi ích, phải chăng các nhóm lợi ích còn
hình thành và phát triển một cách tự phát, hiệu quả hoạt động còn chưa cao.
Trong khi đó, một xã hội phát triển và hội nhập toàn cầu ngày càng sâu
rộng như hiện nay, việc công nhận và phát triển các nhóm lợi ích chắc chắn sẽ
mang lại những lợi ích to lớn cho đất nước. Mặt khác, trong bối cảnh quốc tế
mới Đảng và Nhà nước ta cũng chủ trương làm bạn với tất cả các nước trên
nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi. Vì vậy, việc nghiên
cứu để hiểu biết rõ hơn về các nhóm lợi ích trong đời sống chính trị của các
nước phương Tây phải chăng là cần thiết, góp phần vào việc xây dựng và phát
triển các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay.
Những lý do trên cho thấy, việc nghiên cứu về các nhóm lợi ích và vai trò của
nó trong đời sống chính trị ở các nước phương Tây không chỉ có ý nghĩa lý luận mà
còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nhóm lợi ích từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của
các học giả ở cả trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu của các
tác giả nước ngoài về nhóm lợi ích nói chung và ở Anh, Đức, Mỹ, Pháp,
v.v.. nói riêng rất đa dạng và phong phú với những nội dung và cách tiếp
cận khác nhau. Trong đó có thể kể đến các công trình nghiên cứu đã được
xuất bản như:
Frank R. Baumgartner and Beth Leech (1998), Basic Interests: The
importance of Groups in Politics and political Science, Princeton University Press.

Lê Minh Quân (2011), Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Đăng Thành (2002), Chính trị của chủ nghĩa tư bản - hiện đại
và tương lai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hồ Văn Thông (1998), Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển
hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Viện khoa học pháp lý (2005), Thiết chế nhà nước và bộ máy nhà
nước một số nước trên thế giới, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
Cũng đã có một số luận văn, luận án đề cập tới những vấn đề liên quan
đến nhóm lợi ích như Luận văn thạc sĩ Chính trị học của Phạm Thị Hoa với


6

đề tài Vận động chính sách ở Hoa Kỳ, Luận văn thạc sĩ Chính trị học của
Hoàng Thị Hà về Vận động chính sách ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ
Chính trị học của Lưu Văn Quảng với đề tài Bầu cử ở một số nước phương
Tây, lý luận và hiện thực, v.v..
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mới dừng lại ở việc
nghiên cứu nhóm lợi ích dưới góc độ chuyên ngành hẹp của mình. Cho đến
nay, vấn đề này vẫn chưa được đặt trong tổng thể nghiên cứu của chính trị
học; đặc biệt cũng chưa có tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu nhóm lợi ích ở
các nước phương Tây một cách có hệ thống, từ đó liên hệ và đưa ra một số
kiến nghị cho việc công nhận và phát triển các nhóm lợi ích ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Từ việc nghiên cứu tìm hiểu các nhóm lợi ích và vai trò của nó trong
đời sống chính trị ở các nước phương Tây, luận văn nêu khái quát những giá
trị phổ biến và những hạn chế của các nhóm lợi ích này, từ đó liên hệ vận
dụng đối với Việt Nam hiện nay.

- Đây là luận văn đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống
về nhóm lợi ích ở các nước phương Tây.
- Chỉ ra được những giá trị và hạn chế của các nhóm lợi ích trong đời
sống chính trị ở các nước phương Tây nói chung, ở Anh, Đức, Mỹ và Pháp
nói riêng.
- Đưa ra một số kiến nghị về việc công nhận và phát triển các nhóm lợi
ích ở Việt Nam.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần cung cấp những tri thức mới về vai trò của các nhóm
lợi ích trong đời sống chính trị ở các nước phương Tây nói chung và ở Việt Nam
nói riêng.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy các môn khoa học chính trị, trong đó có chính trị học.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.


8

Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ NHÓM LỢI ÍCH Ở CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY
1.1. Khái niệm và phân loại các nhóm lợi ích
1.1.1. Khái niệm
Hiện nay, ở các nước phương Tây, có quá nửa số người trong độ tuổi
tham gia vào các nhóm lợi ích khác nhau. Tại các nước Anh, Pháp, Mỹ
chúng ta khó có thể tìm thấy một công dân mà không phải là thành viên của
một nhóm lợi ích nào đó.
Ở Mỹ, giữa thế kỷ XX khoảng 2/3 dân cư là thành viên của một
nhóm lợi ích nghiệp dư hay chuyên nghiệp nào đó. Chỉ có 1/3 là giới trẻ,

Thực tế cho thấy lợi ích riêng của nhóm là động cơ chính thúc đẩy các
thành viên của nhóm câu kết với nhau để tìm kiếm lợi ích cục bộ. Tuy vậy, có
những nhóm lợi ích không hình thành bằng sự liên kết chủ động giữa các
thành viên mà chỉ có thể nhận dạng về khả năng gây ra áp lực chính trị xã hội
vì tình trạng lợi ích chung của họ. Về mặt xã hội, khả năng tác động vào quá
trình lập chính sách hoặc thực thi chính sách của bộ máy nhà nước phụ thuộc
phần lớn vào quy mô của nhóm. Nhóm lợi ích phải có quy mô nhất định mới
có thể gây ảnh hưởng đến chính phủ hoặc tạo sự chú ý của xã hội. Cùng với
yếu tố quy mô nhóm, tình trạng lợi ích nhóm cũng gây ảnh hưởng mạnh mẽ.
Những nhóm chịu mất mát quá lớn dễ tạo ra sự ủng hộ và lòng thương cảm.
Những nhóm được lợi lớn vì ưu thế độc quyền cũng dễ bị phản đối, cô lập.
Các nhóm lợi ích có những điểm khác biệt một cách tương đối so với
các đảng phái chính trị. Mục tiêu của đảng phái là hoạt động chính trị và
giành quyền lãnh đạo bộ máy nhà nước. Mục tiêu của nhóm lợi ích là tác
động vào bộ máy nhà nước để đạt được nhiều lợi ích hơn. Nếu không có sự
phân biệt này có thể lầm lẫn giữa nhóm lợi ích với các đảng phái. Xét về tổng
thể nhóm lợi ích không phải là các đảng phái chính trị cũng không phải là cơ
quan chính phủ. Mục tiêu chủ yếu của nhóm lợi ích là tạo sự ảnh hưởng. Mục
tiêu của đảng phái là tìm kiếm quyền lực và thực sự nắm quyền lực khi đắc


10

cử, còn cơ quan chính phủ không cần vận động hoặc tạo ảnh hưởng vì nó có
thể đưa ra quyết định của riêng mình.
Trong cơ chế đa đảng ở một số quốc gia, đảng phái nào đưa ra chính
sách đem lại lợi ích nhiều hơn cho đa số nhân dân thì được đa số ủng hộ. Tuy
nhiên có thể có đảng phái mưu cầu lợi ích cục bộ sau khi nắm quyền bộ máy
nhà nước và một số nhà chính trị có thể vì lợi ích cá nhân mà câu kết với
nhóm lợi ích. Sự câu kết đó có thể đem lại lợi ích cho một số ít người nhưng

phản đối một cách thường xuyên hơn các nhà lãnh đạo của đảng mình trong
quá trình bổ nhiệm các vị trí của chính phủ.
Tuy nhiên các nhóm lợi ích và các đảng chính trị có thể vừa bổ sung vừa
thay thế cho nhau. Một ứng cử viên cho cơ quan lập pháp có thể nghĩ rằng cách
tốt nhất để được bầu là hãy liên kết với một đảng chính trị nào đó. Thay vào đó
anh ta cũng có thể nhận thấy rằng, sẽ có lợi hơn nếu anh ta liên kết với một
nhóm hoặc các nhóm lợi ích cụ thể. Hoặc anh ta có thể quan tâm tới cả hai cách
để bổ sung cho nhau và liên kết với cả hai. Một người muốn tác động tới cơ
quan lập pháp cũng sẽ phải hành động tương tự - có thể thành lập hoặc gia
nhập một đảng chính trị, thành lập hoặc gia nhập một nhóm lợi ích, hoặc cả hai.
Mặc dù có sự khác nhau về mục tiêu và quy mô hoạt động nhưng cả hai
loại thành tố này đều thực hiện vai trò đại diện lợi ích. Các đảng phái chính trị
mang những quan điểm đại diện phổ biến hơn và quy mô hơn còn các nhóm
lợi ích đại diện cho những quan điểm bộ phận.
Tùy theo đặc điểm và khả năng ảnh hưởng của mỗi nhóm mà người ta
sử dụng một số tên gọi khác nhau đối với các loại hình nhóm lợi ích. Có nhiều
nhóm ban đầu hình thành một cách tự phát và sau đó phát huy vai trò của
mình một cách tự giác. Nhiều nhóm được hình thành một cách tự giác ngay từ
ban đầu. Hoạt động phát triển của nhóm lợi ích ở mức tự giác có vai trò bảo
vệ và vận động cho quyền lợi của nhóm. Trong trường hợp này người ta còn
gọi những nhóm ấy là nhóm quyền lợi. Ảnh hưởng của nhóm quyền lợi đến
các họat động kinh tế, xã hội đến mức độ nhất định bắt đầu có ý nghĩa đáng
kể đến quy trình xây dựng chính sách. Nhóm quyền lợi có khả năng gây ảnh


12

hưởng như vậy được một số nhà chính trị phương Tây gọi là nhóm áp lực,
những nhóm vừa có khả năng gây áp lực vừa có khả năng can thiệp trực tiếp
vào quyết định chính sách còn được gọi là nhóm đặc quyền.

nhóm lợi ích hình thành từ văn bản hành chính. Các yếu tố về đặc điểm nhân
thân như giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, dân tộc, v.v.. cũng có thể được lấy
làm tiêu chí xác định nhóm lợi ích.
Việc phân loại nhóm lợi ích có sự khác nhau tùy thuộc vào những cách
tiếp cận khác nhau. Với quan điểm cho rằng: “Nhóm lợi ích là một tổ chức
của những cá nhân với muc tiêu là tác động đến các quyết định chính sách của
nhà nước một cách có lợi cho nhóm mình” [5, tr.110] thì nhóm lợi ích có thể
được phân loại thành:
Các tổ chức lợi ích nguyên thủy: chủ yếu được hình thành trên nền tảng
những đặc điểm tương đồng như: đẳng cấp xã hội, mức sở hữu, truyền thống
gia đình, giới tính, tôn giáo, phạm trù đạo đức, nơi sinh trưởng, trường phái
học thuật, màu da, sắc tộc, v.v..
Các nghiệp đoàn: được tổ chức khá chặt chẽ, các thành viên tự tham
gia, có tôn chỉ mục đích rõ ràng, đồng nhất.
Các nhóm áp lực chính trị: là các nhóm cụ thể, có cương vị và vai trò
xã hội, có khả năng gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng chính sách
như các nhóm viên chức, tôn giáo, chuyên gia cấp cao, các nhóm tài phiệt
hoặc câu lạc bộ các nhà doanh nghiệp.
Các nhóm khác: nhóm cá nhân, hiệp hội, nhóm liên kết, v.v..
Một số quan điểm khác cho rằng, nhóm lợi ích có thể được nhận dạng và
phân loại theo mục tiêu của nhóm. Theo đó, nhóm lợi ích được phân loại thành:
Nhóm kinh tế: Nhóm doanh nghiệp, nhóm chuyên gia, nhóm những
người lao động, v.v..
Nhóm lý tưởng: Vì hòa bình, vì môi trường, chống vũ khí hạt nhân, tìm
kiếm người ngoài hành tinh.
Nhóm lợi ích quốc gia: Nhóm công dân, nhóm nghiên cứu lợi ích công
cộng, nhóm bảo vệ lợi ích người tiêu dung, v.v..


14


15

những mục tiêu chính trị riêng của mình tới trực tiếp hơn những nhà làm luật.
Để liên hệ với những nhà làm luật, những người làm lobby thường thực hiện
dưới hình thức đưa các bằng chứng ra trước các ủy ban pháp luật hay gián
tiếp thông qua các buổi chiêu đãi, tại đó các quan hệ xã hội được thiết lập.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển nhóm lợi ích ở một số nước
phương Tây
1.2.1. Ở các nước Tây Âu
* Thời kỳ trước khi ra đời Liên minh Châu Âu
Sự ra đời của các nhóm lợi ích ở Tây Âu gắn liền với lịch sử ra đời của
Nghị viện Anh. Vào thế kỷ XII, Anh là quốc gia hùng mạnh nhất Châu Âu,
thiết lập chế độ chuyên chế cao độ, mọi quyền hành đều tập trung vào nhà vua,
dẫn đến nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa của lãnh chúa, nông dân. Năm 1265, bá
tước Môn-phơ lên nắm chính quyền, xác lập liên minh giữa quý tộc phong kiến
với thị dân và kỵ sĩ. Ông triệu tập một hội nghị không chỉ các nhà quý tộc, tăng
lữ mà còn có cả đại biểu của thị dân. Mỗi lãnh địa được cử hai đại biểu thị dân
đến dự. Hội nghị này được coi là nghị viện đầu tiên của nước Anh.
Đến đầu thế kỷ XIV, do sự phân biệt đẳng cấp, nghị viện Anh bắt đầu
chia thành hai viện: Viện Quý tộc (Thượng viện) gồm đại biểu của giới quý
tộc, tăng lữ cao cấp, chủ yếu đại diện cho quyền lợi của các lãnh chúa, gắn bó
với giới thượng lưu, ít quan tâm đến cuộc sống của người dân; Viện Bình dân
(Hạ viện) gồm đại biểu của kỵ sĩ, thị dân, đại diện cho lợi ích của nhân dân,
do cử tri trực tiếp bầu ra. Việc họ có được tái cử hay không tùy thuộc vào sự
tin cậy của cử tri. Dù phải phục vụ lợi ích chính trị của các đảng phái khác
nhau nhưng các nghị sĩ vẫn coi việc đại diện cho quyền lợi của cử tri đã bầu
ra họ là yếu tố quyết định trong đợt bầu cử tiếp theo. Vì vậy họ thường xuyên
giữ mối liên hệ chắt chẽ với những người dân ủy quyền cho mình. Mỗi lần
đến dự các kỳ họp, các nghị sĩ thường dành thời gian đọc tài liệu, trao đổi với

ý, không bộ phận người dân hay cá nhân nào được chiếm lấy”. Mặc dù
không được chính quyền ủng hộ, nhưng trên thực tế các nhóm lợi ích vẫn
tồn tại và hoạt động.


17

Tại Đức, từ đầu thế kỷ XIX, khi các đảng phái chính trị đầu tiên ra đời
kéo theo sự hình thành hàng loạt các nhóm lợi ích. Các nhóm tài trợ cho các
đảng trong các cuộc bầu cử liên bang, các bang và chính quyền địa phương.
Nhiều đảng hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn tài chính của các nhóm này.
Đổi lại các nhóm lợi ích tác động tới quyền lực nhà nước thông qua các đảng
viên của mình nắm quyền trong bộ máy nhà nước. Các cuộc vận động hành
lang của họ đã làm thay đổi nhiều quyết định của Nghị viện và Chính phủ.
Các nhóm có tính thể chế, các tổ chức của giới chủ, các tổ chức công đoàn,
các tổ chức nông nghiệp là những nhóm gây áp lực mạnh nhất tại chính
trường Đức.
* Thời kỳ sau khi liên minh Châu Âu được thành lập
Các nhóm lợi ích ở Tây Âu phát triển mạnh khi EU ra đời. Trong cơ
cấu của EU, Nghị viện Châu Âu, Ủy ban Châu Âu, Hội đồng Bộ trưởng châu
Âu…có quyền lực to lớn nhất, tác động trực tiếp tới lợi ích của các nước
thành viên. Để bảo vệ và đấu tranh vì quyền lợi của mình, các nhóm lợi ích và
nhà nước ở những quốc gia có các nhóm lợi ích hoạt động sôi nổi, đặc biệt là
hoạt động vận động hành lang như Anh, Đức, Bỉ, Hà Lan, v.v.. đã nhanh
chóng lập kế hoạch và tiến hành các hoạt động một cách bài bản, quy mô. Các
quốc gia như Pháp, Tây Ban Nha, Hy Lạp mặc dù không có quy định và cấm
các nhóm lợi ích hoạt động nhưng trước việc một châu Âu thống nhất với rất
nhiều lợi ích đan xen và sau những thua thiệt về quyền lợi quốc gia đã phải
tính đến các hoạt động vận động hành lang tại EU với một số lượng khá lớn
chủ thể tham gia.

bộ luật hiện hành được đề ra vào tháng 4/1994, khi thủ tướng John Major
thành lập Ủy ban Nolan (Ủy ban về các tiêu chuẩn trong đời sống công) để
nghiên cứu các mối quan tâm hiện nay về tiêu chuẩn hành vi của tất cả những
lãnh đạo các cơ quan công quyền, bao gồm việc vận hành các hoạt động tài
chính và thương mại, đề xuất các thay đổi cơ chế hiện nay để đảm bảo các tiêu
chuẩn cao nhất về tính liêm khiết của công chức trong bộ máy công quyền.


19

Tại thượng viện Anh, không có bản đăng ký chính thức hay danh sách
công khai các nhà vận động hành lang và không có quy tắc hay bộ luật hành
vi nào áp dụng cho những người vận động hành lang. Nhìn chung, Thượng
viện có cơ sở vật chất phục vụ cho các thượng nghị sĩ chứ không dành cho
những người vận động hành lang nói riêng và các nhóm lợi ích nói chung,
mặc dù các nghị sĩ được các nhóm lợi ích hỗ trợ để phục vụ cho các cuộc họp
và thực thi chức năng của mình.
Tháng 11.1995, Thượng viện đồng ý lập Bản đăng ký các lợi ích của
nghị sĩ theo đề xuất của Ủy ban thủ tục, theo đó: 1) Bắt buộc các thượng nghị
sĩ kê khai các khoản tiền thuê được do cung cấp tư vấn về các vấn đề Nghị
viện cho bên ngoài; 2) Bắt buộc các thượng nghị sĩ kê khai các lợi ích tài
chính tại các công ty vận động hành lang; 3) Các thượng nghị sĩ tùy chọn
đăng ký và thể hiện các lợi ích khác (tài chính hoặc phi tài chính). Bản đăng
ký này được xuất bản hàng năm. Để thực hiện bản đăng ký này, một tiểu ban
của Ban đặc quyền Thượng viện được thành lập có chức năng giám sát các
nghị sĩ. Tiểu ban này sẽ điều tra tất cả các cáo buộc về một thượng nghị sĩ nào
đó vi phạm các quy định của Bản đăng ký.
Tại Hạ viện, báo cáo của Ủy ban Nolan được thông qua vào tháng
5.1995 đã không đề xuất việc đăng ký bắt buộc đối với các nhà vận động
hành lang nhưng có đề nghị cấm các hạ nghị sĩ tham gia các hợp đồng liên

tiếp tục vận động trực tiếp vào EU và rất nhiều hiệp hội như Verband der
Chemischen Industrie có đại diện ở Brussels. Cùng thời điểm này, các công ty
Đức cũng miễn cưỡng ra khỏi nghiệp đoàn quốc gia khi cần sự tin tưởng vào
các phương thức ảnh hưởng đến chính quyền EU và liên bang.
Ở Pháp, Thượng viện không có bản đăng ký hay danh sách các nhóm
lợi ích. Các nhóm hay tổ chức chuyên nghiệp muốn tiếp xúc với Thượng viện
cần đệ đơn tới đoàn chủ tịch Thượng viện. Ban tổng thư ký của đoàn chủ tịch
sẽ giải quyết yêu cầu này. Ban này có thể cho phép các nhóm vận động
hành lang tiếp cận với các thượng nghị sĩ ở các hành lang của nghị viện.
Nếu họ được coi là quan trọng hay có tính đại diện lớn sẽ được cấp giấy


21

thông hành vào sảnh hội nghị của Thượng viện và vào nơi làm việc của các
thượng nghị sĩ.
Tại Hạ viện, không có danh sách hay bản đăng ký các nhóm lợi ích, chỉ
có một điều khoản duy nhất có liên quan là: theo các sắc lệnh chung về việc
đi lại trong Hạ viện thì tất cả những ai có thẻ đặc biệt được Chủ tịch Hạ viện
cấp thì mới được tiếp cận tòa nhà Hạ viện. Điều 79 Luật về thủ tục cấm các
nghị sĩ sử dụng địa vị của mình vào việc khác ngoài việc thực thi trách nhiệm
của nghị sĩ với các hình phạt cụ thể cho việc bất tuân thủ. Họ cũng bị cấm
tham gia vào các tổ chức hay nhóm bảo vệ lợi ích cá nhân, địa phương hay
nghề nghiệp, hoặc có cam kết với các nhóm này trong hoạt động của mình.
Ở Italia, không có quy định cụ thể về hoạt động của các nhóm lợi ích.
Trong nhiệm kỳ thứ 9 (1983-1987), bốn dự luật đã được Ủy ban làm việc và
an sinh xã hội của Quốc hội thảo luận liên quan đến việc điều chỉnh các hoạt
động công của các chuyên gia, tuy nhiên chúng không thể trở thành luật. Các
nhóm lợi ích có thể được nhận thẻ để ra vào các tòa nhà của Thượng viện
nhưng không được tới các phòng diễn ra các cuộc họp của các ủy ban. Người

nước và Phần 33 đoạn 1 các quy tắc thủ tục của Hội đồng Liên bang cho phép
các ủy ban của Hội đồng nhà nước và Hội đồng Liên bang được triệu tập các
chuyên gia hay các nhân chứng khác, theo đó các chuyên gia đại diện cho các
nhóm lợi ích cũng có thể được mời trình bày quan điểm của họ tại một ủy ban
nào đó về một dự luật.
Ở Thụy Điển, cho đến nay vẫn chưa có quy định hay thông lệ hoạt
động nào liên quan đến hoạt động của các nhóm lợi ích. Tuy có nhiều dự luật
được đưa ra thảo luận nhưng đều không được thông qua, thậm chí đã có một
vài tranh cãi xung quanh nguy cơ các nghị sĩ tham gia vào các nhóm lợi ích
hoặc chính quyền nhà nước và về việc các nhóm lợi ích tham gia vào công
việc điều hành chính quyền nhà nước. Những vấn đề này vẫn tiếp tục là
chủ đề thảo luận nhưng vẫn chưa có đề xuất nào được thông qua để trở
thành đạo luật.


23

Các nhóm lợi ích ở các nước Tây Âu đang cố gắng xâm nhập vào hoạt
động của các thể chế EU, tìm cách ảnh hưởng đến các quy tắc, biện pháp hội
nhập, sự phát triển và nguồn tài trợ. Bản thân các quan chức EU cũng rất cần
thông tin từ các nhóm, từ đó nâng cao vai trò của các thể chế và chính sách EU.
1.2.2. Ở Mỹ
* Thời kỳ các nhóm lợi ích hoạt động tự do
Thời kỳ này diễn ra khi Mỹ là thuộc địa của Anh và là thời kỳ đầu của
nền cộng hòa. Vào thế kỷ XVIII, các thương nhân, nhà sản xuất, nhóm thiểu
số về tôn giáo, sắc tộc đã tích cực tìm kiếm các chính sách có lợi từ chính
quốc ở London và từ thống đốc, hội đồng lập pháp của các bang thuộc địa.
Các nhóm này hoạt động ngày càng chuyên nghiệp hơn. Các nhóm lợi ích ở
thuộc địa đệ trình đơn thỉnh cầu tới chính phủ, thuê những chuyên gia để “xử
lý công việc tinh tế và phức tạp liên quan đến việc đạt được sự nhân nhượng

sự, người dân Mỹ đóng giả thổ dân da đỏ đã đổ hơn 300 thùng chè của công
ty Đông Ấn thuộc Anh xuống biển, châm ngòi cho cuộc cách mạng Mỹ.
Tới thời điểm nổ ra cuộc cách mạng đã có rất nhiều nhóm hoạt động
chính trị xuất hiện: các hiệp hội của thương nhân, các phòng thương mại, các
giáo phái tôn giáo, các tổ chức thúc đẩy sự nghiệp cấp tiến, các nhóm quan
tâm tới phát triển địa phương, các hiệp hội sắc tộc, các hội bảo hiểm, các câu
lạc bộ thúc đẩy những mục tiêu xã hội và trí thức, các tổ chức của công nhân,
các hiệp hội nghề nghiệp và quân sự. Đoàn đại biểu của các nhóm lợi ích
cũng như của các bang thuộc địa đã tiến hành vận động hành lang tại Hội nghị
Lập hiến. Họ nhất trí với nhau gặp gỡ sau những cánh cửa khóa kín và giữ bí
mật về các dự định của mình cho đến khi hội nghị kết thúc. Không một biên
bản chính thức nào được ghi nhận “phòng trường hợp những dự định của họ
bị rò rỉ và họ bị vây chặt bởi những nhóm công dân đang tìm cách thúc đẩy
lợi ích riêng của mình” [18, tr.549].
Đúng như tiên đoán của James Madison, vị Tổng thống thứ tư, người
cha của Hiến pháp Mỹ, khi hệ thống chính trị Mỹ cho phép “các bè phái” phát
triển, các nhóm lợi ích xuất hiện ngày càng nhiều ở thời kỳ đầu của nền cộng


25

hòa. Khi đó, chính quyền các bang và địa phương là nơi đưa ra những quyết
định quan trọng nhất đối với công dân, vì vậy hoạt động vận động hành lang
của các nhóm lợi ích chủ yếu được diễn ra xung quanh nghị viện và chính phủ
các bang.
Tới thập niên 1830, các tổ chức dưới mọi thể hoại đã trở thành một bộ
phận không thể tách rời khỏi đời sống nước Mỹ. Vị khách người Pháp Alexis
de Tocqueville đã kinh ngạc ghi nhận sự phong phú, đa dạng của các nhóm có
tổ chức tại Hoa Kỳ: “Không một quốc gia nào trên thế giới mà nguyên tắc
liên hiệp được sử dụng thành công, hoặc được áp dụng cho đông đảo đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status