luận văn thạc sĩ chính trị học Đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị cấp xã ở huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay - Pdf 38

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐỔI MỚI, KIỆN TOÀN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
CẤP XÃ Ở HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Cần Thơ - 2011


2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống chính trị (HTCT) nước ta là một chỉnh thể thống nhất, gắn bó
hữu cơ với nhau được hình thành và phát triển trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong công
cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn
đề đổi mới chất lượng HTCT nói chung, trong đó nhấn mạnh việc đổi mới và
nâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở nói riêng. Bởi vì, trong HTCT Việt Nam
chính quyền cấp cơ sở có vai trò rất quan trọng trong HTCT là cấp chấp hành,
làm cầu nối trực tiếp giữa toàn bộ HTCT với nhân dân, hằng ngày tiếp xúc và
làm việc với nhân dân, nắm bắt và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân
dân, tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng

bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở chưa thoả đáng [39, tr37].
Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có 12 huyện, 01 thị xã. Cấp cơ sở có: 199
đơn vị hành chính với: 179 xã, 6 phường, 14 thị trấn. Trong đó, huyện Hạ
Lang có 14 đơn vị hành chính với: 13 xã và 01 thị trấn. Hạ Lang là một trong
những huyện miền núi, biên giới của tỉnh Cao Bằng, có 8 xã biên giới tiếp
giáp với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Từ xưa tới nay các huyện biên
giới của tỉnh Cao Bằng nói chung và huyện Hạ Lang nói riêng là phên dậu
vững chắc trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Đặc biệt
trong thời kỳ đổi mới đẩy mạnh hội nhập quốc tế, các xã biên giới có vai trò
quan trọng trong việc mở cửa giao lưu kinh tế, văn hóa với nước láng giềng
Trung Quốc. Ngoài ra, việc hoàn thành phân giới cắm mốc trên biên giới đất
liền Việt Nam -Trung Quốc ngày 31-12-2008 là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện
thuận lợi để nhân dân vùng biên giới ổn định đời sống, yên tâm sản xuất, xóa
đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao đời sống.


4
Trong những năm qua HTCT cấp xã tỉnh Cao Bằng nói chung và huyện
Hạ Lang nói riêng, không ngừng được đổi mới, nhằm phát huy quyền làm chủ
của nhân dân và thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở một cách rộng khắp, đổi
mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, cải cách hành chính nhà
nước, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của chính quyền; phát huy vai trò
tập hợp, vận động, đoàn kết các tầng lớp nhân dân của Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân tích cực sản xuất, kinh doanh, xây dựng kết cấu hạ tầng
thực hiện các chương trình xoá đói, giảm nghèo, phổ cập giáo dục và chăm
sóc sức khoẻ, các cuộc vận động thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, xây
dựng đời sống văn hoá... Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ của đất
nước nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội ở địa
phương, bảo vệ đường biên, mốc giới, tổ chức và hoạt động của HTCT cấp xã

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam trong những năm qua vấn đề HTCT nói chung và HTCT
các cấp từ Trung ương đến cơ sở (cấp xã) nói riêng đã được nhiều nhà lý luận,
nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu, theo thời gian có thể tóm tắt
một số tình hình nghiên cứu đó, như sau:
- GS.Nguyễn Đức Bình, GS, PTS.Trần Ngọc Hiên, GS.Đoàn Trọng
Truyến, Nguyễn Văn Thảo, PGS. PTS. Trần Xuân Sầm (đồng chủ nhiệm),
“Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới”
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999.
- PGS. Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), “Hệ thống chính trị cấp cơ sở
và dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các
tỉnh miền núi phía Bắc nước ta”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá
IX về “ Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2002.


6
- TS. Vũ Hoàng Công Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng
và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2002.
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá X
về “ Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với của HTCT”
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2007.
- GS,TS. Dương Xuân Ngọc, “Tiếp tục đổi mới, kiện toàn hệ thống
chính trị nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2010.
- TS. Lưu Minh Trị, “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn ngoại thành Hà Nội (cấp xã) trong giai đoạn hiện nay”, năm 1993.
- Đặng Thị Hiền, “Đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở nông
thôn (thông qua khảo sát thực tế của tỉnh Tuyên Quang)”, Luận văn thạc sĩ

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích: Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động
của HTCT nước ta nói chung, HTCT cấp cơ sở nói riêng và đánh giá đúng
thực trạng việc đổi mới, kiện toàn HTCT cấp xã ở huyện Hạ Lang, tỉnh Cao
Bằng, luận văn đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới,
kiện toàn HTCT cấp xã đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và dân chủ hoá xã
hội trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn sẽ tập trung
giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Khái quát một số vấn đề lý luận chung về HTCT và HTCT cấp xã.
- Đánh giá thực trạng đổi mới, kiện toàn HTCT cấp xã ở huyện Hạ
Lang, tỉnh Cao Bằng.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới, kiện
toàn HTCT ở cấp xã huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng đáp tương thích với đổi
mới kinh tế - xã hội và dân chủ hoá trong giai đoạn hiện nay.


8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: HTCT ở cấp xã huyện Hạ Lang, tỉnh Cao
Bằng, bao gồm tổ chức và hoạt động của tổ chức Đảng, Chính quyền, Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cấp xã, mối quan hệ giữa các tổ chức
này với tư cách là các thành tố hợp thành HTCT cấp xã huyện Hạ Lang, tỉnh
Cao Bằng.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về HTCT cấp xã (xã,
thị trấn) ở huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay.
- Về thời gian: Luận văn tập trung khảo sát HTCT cấp xã ở huyện Hạ
Lang, tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

1.1.1. Khái niệm hệ thống chính trị
Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền luôn
được tổ chức và thực hiện bằng một thể chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó
là, HTCT. Ở Việt Nam, thuật ngữ HTCT lần đầu tiên được Đảng ta đưa ra
trong Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (tháng 3-1989) Đảng ta mới dùng khái
niệm HTCT. Sau đó, Đại hội VII, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), thuật ngữ HTCT được diễn đạt
khá đầy đủ trong các điều 9, 10,11, 12 [10, tr19]. Từ đó trở đi, khái niệm
HTCT được sử dụng rộng rãi không chỉ trong nghị quyết, trong các công trình
nghiên cứu khoa học mà cả trong sinh hoạt chính trị thường nhật.
HTCT là một trong những phạm trù cơ bản và bao trùm của Khoa học
chính trị. Cho đến nay, tuỳ thuộc vào cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn còn
nhiều cách hiểu chưa hoàn toàn thống nhất về HTCT. Có cách tiếp cận từ góc
độ cấu trúc quyền lực của nhân dân, xem HTCT là hình thức tổ chức dân chủ
để thực hiện quyền lực của nhân dân; quan niệm khác lại tiếp cận từ góc độ
cấu trúc quyền lực của giai cấp cầm quyền, cho rằng: HTCT là hệ thống
quyền lực của giai cấp cầm quyền, hay gọi là hệ thống chuyên chính của giai
cấp cầm quyền, nghĩa là HTCT chỉ bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội do
giai cấp cầm quyền lập ra để bảo vệ quyền lực và lợi ích của chính giai cấp
cầm quyền. Các tổ chức chính trị - xã hội khác không do giai cấp cầm quyền
tổ chức ra, thậm chí được xem là bất hợp pháp, không được coi là thành tố
của HTCT. Tổng hoà của hai quan niệm trên, cách tiếp cận thứ ba thực tế


11
hơn, xem HTCT vừa là hệ thống quyền lực của giai cấp cầm quyền vừa là hệ
thống quyền lực của nhân dân, quan niệm: HTCT không chỉ là hệ thống
chuyên chính của giai cấp cầm quyền mà là tất cả các tổ chức chính trị - xã
hội hợp pháp hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp có liên quan đến quyền lực thống
trị của giai cấp thống trị. Đó là hệ thống tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp,

HTCT xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thể hiện bản chất của nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lí, nhân dân
làm chủ. Đảng Cộng sản, với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiền phong của nhân dân lao động, đại biểu cho lợi ích
của nhân dân lao động và của toàn dân tộc, có sứ mệnh lãnh đạo toàn bộ xã
hội thông qua nhà nước và các đoàn thể nhân dân; Nhà nước có chức năng
quản lí mọi mặt đời sống xã hội, công cụ, phương tiện để qua đó nhân dân
thực hiện quyền làm chủ; các đoàn thể nhân dân có chức năng tập hợp các
giai cấp, tầng lớp xã hội tham gia việc quản lí nhà nước, quản lí xã hội.
Bởi vậy, có thể quan niệm HTCT nước ta là hệ thống các tổ chức: Nhà
nước CHXHCN Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trân tổ quốc và các
tổ chức chính trị - xã hội khác (Tổng Liên đoàn lao động, Hội Liên hiệp phụ
nữ, Hội liên hiệp thanh niên, Hội nông dân và Hội Cựu chiến binh), cùng các
quan hệ giữa chúng với nhau hợp thành cơ chế dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo
đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân chủ yếu bằng nhà nước dưới
sự lãnh đạo Đảng trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Ngoài ra, trong xã hội ta còn nhiều tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp, các tổ chức tôn giáo...có vai trò ngày càng tăng và thường
xuyên có đại diện trong Quốc hội, HĐND, song không phải là thành viên độc
lập của HTCT mà tham gia vào hệ thống với tư cách là thành viên của Mặt
trận Tổ quốc - một liên minh chính trị rộng lớn nhất của cả dân tộc.


13
Tóm lại, xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, từ bản
chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, HTCT ở nước ta nhằm xây dựng và phát
triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu đó, tính đồng bộ
trong hoạt động và tính thống nhất về mục tiêu, tính chủ động sáng tạo của
các tổ chức trong HTCT và việc giải quyết tốt các mối quan hệ ngang dọc

bốn cấp quản lý hành chính nhà nước hiện hành ở nước ta, cấp cơ sở. Như
vậy, cấp xã gồm xã, thị trấn là thuộc về cấp cơ sở của hệ thống quản lý hành
chính bốn cấp. Khi xét HTCT ở phần trên với tư cách là một chỉnh thể thống
nhất, duy nhất có bốn cấp độ thì cấp cơ sở là một cấp của hệ thống chính trị
hay cấp độ của HTCT. Tuy nhiên, cấp độ cơ sở của HTCT còn bao gồm cả
phường. Nhưng ở đây, luận văn chỉ đề cập đối tượng là: xã, thị trấn thuộc
huyện. Trong đó, đặc biệt khảo sát cấp xã ở huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng từ
năm 2001 đến nay.
Dựa vào những nét khái quát chung nhất về HTCT như đã nêu trên
theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể hiểu: Hệ thống chính trị ở cơ
sở là toàn bộ các tổ chức chính trị cấp cơ sở xã, phường, thị trấn (tổ chức
đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân) và mối quan hệ giữa chúng được
tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc xác định, gắn bó hữu cơ, thống
nhất với nhau về mục đích, chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo
của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
ở cơ sở.
1.1.3. Đặc điểm hệ thống chính trị ở cơ sở
HTCT ở cơ sở là một bộ phận cấu thành của HTCT Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, nên nó cũng mang những đặc điểm chung của toàn bộ HTCT.
Ngoài những đặc điểm chung đó, xét khía cạnh địa vị pháp lý và thực tế thì
HTCT ở cơ sở còn mang những đặc điểm riêng;


15
Thứ nhất, HTCT cơ sở là cấp thấp nhất trong HTCT nước ta hiện nay
Đây là đặc điểm xét theo khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính pháp lý
của chỉnh thể HTCT duy nhất thống nhất ở nước ta hiện nay. Song quyết
không phải cấp thấp nhất là cấp kém quan trọng nhất. Mà thậm chí, xét theo
khía cạnh thực thi mọi đường lối chính sách của Đảng và nhà nước thì đây lại
là cấp quan trọng nhất. Bởi vì, mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà

HTCT ở cơ sở mang tính tự quản cao.
Thứ năm, HTCT ở cơ sở nhất là ở cơ sở là cấp mà quan hệ dòng họ,
văn hoá làng xã, quan hệ dân tộc, tôn giáo tác động mạnh nhất
HTCT ở cơ sở là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã có thể tác
động mạnh nhất có ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ nội bộ trong tổ chức và
hiệu quả hoạt động của HTCT ở cơ sở. Trong quan hệ với dân, cán bộ ở cơ sở
có thể bị chi phối, ràng buộc rất lớn bởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các
truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã. Do đó, phải hết sức chú ý
khắc phục tư tưởng dòng họ, bè phái, lợi dụng chức quyền theo kiểu “một
người làm quan cả họ được nhờ” hoặc “chi bộ ta”…
Những đặc điểm trên của HTCT ở cơ sở, phản ánh, một mặt ở sự thống
nhất, duy nhất của cả HTCT được tổ chức và hoạt động theo tính thống nhất
về mục tiêu và nguyên tắc. Mặt khác nó cũng phản ánh nhiều mâu thuẫn, có
loại mâu thuẫn biện chứng của sự phát triển, có loại mâu thuẫn hình thức triệt
tiêu sự phát triển. Vấn đề là phát hiện mâu thuẫn và phải có những giải pháp
cụ thể xử lý những mâu thuẫn một cách cụ thể để đổi mới và kiện toàn HTCT
ở cơ sở đáp ứng vị trí, vai trò quan trọng cần phải có của nó trong giai đoạn
cách mạng mới hiện nay.
1.2. Tính tất yếu khách quan của việc đổi mới, kiện toàn hệ thống
chính trị cấp cơ sở
1.2.1. Chức năng, vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở
HTCT ở nước ta được tổ chức theo một hệ thống từ Trung ương đến
cơ sở. Cơ sở phân cấp theo quản lý hành chính gồm có xã, phường, thị trấn.


17
HTCT ở cơ sở bao gồm: Tổ chức cơ sở Đảng, Hội đồng Nhân dân xã,
phường; Uỷ ban Nhân dân xã, phường; Mặt trận Tổ quốc xã, phường và các
tổ chức chính trị - xã hội khác như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh xã, phường, thị trấn...Tất cả

Cách bức với cơ sở lại càng trở nên nghiêm trọng hơn khi hệ thống
thể chế hành chính quan liêu bị xơ cứng bởi các tầng nấc, giấy tờ, công văn,
chỉ thị của các cấp trên; bởi cả những khó khăn, trở ngại về giao thông đi lại
do hạ tầng cơ sở kém phát triển, bởi thiếu thông tin, không có thói quen cập
nhật thông tin từ cơ sở của đội ngũ công chức, viên chức quan liêu. Nhất là
cơ sở nông thôn miền núi, với những làng bản xa xôi gần như cách biệt,
thậm chí không ít nơi bị bỏ quên, bị lãng quên, không được đầu tư, chăm
sóc, không được quan tâm để nó diễn ra một cách tự phát. Những cơ sở loại
đó vốn đã lạc hậu, khó khăn, chậm phát triển lại càng trở nên khu vực đặc
biệt khó khăn hơn.
Cái thấp nhất, nhỏ nhất trong quản lý không bao giờ được đồng nhất
với tính chất kém quan trọng hơn, ít quan trọng hơn so với những cái cao hơn,
lớn hơn. Tư duy so sánh hình thức ở đây đem áp dụng cho vị trí, vị thế của cơ
sở là một sai lầm đã từng xảy ra khi nhận thức về cơ sở và ứng xử với cơ sở.
Do đó, nhận thức trước đây về cơ sở còn nhiều điểm chưa đúng và chưa chính
xác về đặc điểm, vai trò của cơ sở trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt
động lãnh đạo và quản lý ở cơ sở. Tồn tại này cần sớm được khắc phục để vị
trí và tầm quan trọng của cơ sở được khẳng định trong thực tế đúng như bản
thân nó vốn có. Chính thực tiễn đổi mới, nhất là khi đi vào kinh tế thị trường
và vận động dân chủ hoá ngày nay đã mở ra nhiều vấn đề về cơ sở, đòi hỏi
phải đổi mới nhận thức về nó.


19
Về phương diện nhận thức quản lý, không phải vì cơ sở là cấp thấp
nhất nên đội ngũ cán bộ cơ sở bố trí thế nào cũng được. Hiện trạng đội ngũ
cán bộ cơ sở hiện nay, đang yếu kém, bất cập, phần lớn không được đào tạo,
chưa có chính sách, chế độ ổn định, hợp lý là hậu quả của nhận thức không
đúng vì cách tổ chức, bố trí cán bộ nêu trên. Mỗi cấp trong hệ thống quản lý
có vị trí, vai trò, chức năng riêng của nó. Nhận thức và giải quyết không đúng

về vị trí, vai trò của cơ sở khi mà dân và cuộc sống của dân vừa là điểm xuất
phát, vừa là mục tiêu của mọi hoạt động lãnh đạo và quản lý, của việc đổi mới
tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị. Do đó, đổi mới nhận thức về vai
trò của cơ sở, chúng ta đặc biệt lưu ý tới những điểm dưới đây:
Cơ sở không chỉ là địa bàn cư trú của dân, mà còn là nơi diễn ra mọi
hoạt động sinh sống và làm ăn của nhân dân lao động của đời sống xã hội. Đó
vừa là địa bàn diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người lao động,
của các cơ sở doanh nghiệp theo các thành phần kinh tế... vừa là nơi diễn ra
trao đổi, lưu thông hàng hoá, là đầu mối của thị trường, nơi hình thành các
quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng. Do đó, nói tới cơ sở là
nói tới người dân và hình thức tổ chức các hoạt động sống của cộng đồng, các
mối quan hệ xã hội. Mỗi cơ sở là một cộng đồng xã hội, ở đó có hoạt động
kinh tế, có giao lưu văn hoá và đồng thời tất yếu phải hình thành nên cộng
đồng xã hội, chính trị, bởi có vai trò của quản lý hành chính của Nhà nước
theo pháp luật, nhằm đảm bảo an ninh, trật tự xã hội và tổ chức đời sống
chính trị của các công dân.
Cấp cơ sở, không chỉ là cấp thực hiện chức năng quản lý của nhà nước
mà còn là nơi diễn ra các hoạt động tự quản của cộng đồng xã hội. Đây là nét
đặc trưng của nước ta, do đặc điểm và truyền thống lịch sử nên tính cố kết
cộng đồng đặc biệt nổi bật ở cơ sở. Tính chất vừa quản lý, vừa tự quản ở cơ
sở thể hiện trong mối quan hệ giữa xã và thôn, đây là mối quan hệ tác động


21
qua lại, phân công, phối hợp chứ không phải là sự tách bạch cứng nhắc, siêu
hình. Về nguyên tắc, cấp cơ sở có chức năng quản lý hành chính nhà nước.
Nhưng để quản lý trên địa bàn cấp xã thì phải xuống tận thôn, đơn vị tự quản
cộng đồng. Trưởng thôn có thể được UBND xã uỷ nhiệm cho một số công
việc của xã được tổ chức thực hiện trong cộng đồng dân cư ở thôn. Song điều
chủ yếu của thôn là tự quản. Việc tự quản các hoạt động cũng không khép

quần chúng ở cơ sở mà nảy sinh rất nhiều sáng kiến của dân, xuất hiện những
điển hình tiên tiến của xã hội ở ngay cơ sở, làm cho cán bộ trưởng thành, phát
huy được phẩm chất và năng lực trong công tác thực tế, nhờ đó làm tăng uy
tín, ảnh hưởng của Đảng, Nhà nước trong quần chúng. Cơ sở không những
cung cấp cán bộ cho phong trào, cho cơ sở và cấp trên, mà còn là nơi quần
chúng chứng thực tính đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách hoặc
từ thực tiễn cơ sở mà kiểm nghiệm, phát hiện, điều chỉnh, sửa chữa, làm cho
đường lối, chính sách ngày càng phù hợp với thực tiễn, càng hợp với lòng dân
và được lòng dân hơn.
Cơ sở là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế chính trị từ vĩ mô
phải tác động tới. Vì cơ sở gắn liền với dân, có quy mô dân số và diện tích.
Do đó, cơ sở tuy là cấp thấp nhất trong cấp quản lý nhưng lại là tầng sâu nhất
trong quản lý và lãnh đạo, là địa chỉ quan trọng nhất mà mọi chỉ thị, nghị
quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải tìm đến,
phải bằng mọi cách tổ chức, tuyên truyền, vận động làm cho dân hiểu, dân tin
và dân làm.
Cơ sở là cấp hành động và tổ chức hành động, nghĩa là cấp tổ chức
triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Do đó, bố trí
tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ ở cơ sở phải rất chú trọng tới tính thiết thực,
hiệu quả, cán bộ phải giỏi thực hành, biết thực hành lý luận một cách sáng tạo,
muốn vậy phải được trang bị tri thức và lý luận khoa học, có kinh nghiệm thực


23
tiễn, đồng thời lại phải có phương pháp, đặc biệt là làm công tác dân vận, biết
vận động thuyết phục quần chúng, miệng nói, tay làm, tai lắng nghe.
Cơ sở là nơi chính quyền trong lòng dân, cán bộ cơ sở từ dân mà ra.
Đặc biệt, cơ sở là nơi trực tiếp nhất của thực tiễn, thể hiện ý thức và năng lực
dân chủ của dân bằng cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Do đó, cả về mặt lý luận và thực tiễn, cơ sở là cấp có nhiều lợi thế và khả

2009, trên toàn Việt Nam có 85.846.997 người, quy mô phân bố ở các vùng
kinh tế - xã hội, trong đó đông dân nhất là vùng đồng bằng sông Hồng với
khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là vùng bắc Trung bộ và duyên hải nam
Trung bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là vùng đồng bằng sông Cửu
Long với khoảng 17,1 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với
khoảng 5,1 triệu người. Cũng theo cuộc điều tra thì Việt Nam có khoảng 25,4
triệu người, tương ứng với 29,6% sống ở khu vực thành thị và khoảng 60,4
triệu người cư trú ở khu vực nông thôn.
Do đó, HTCT ở cơ sở nhất là vùng nông thôn có một vị trí và vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển xã hội, đối với việc đảm bảo và giữ vững ổn
định chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh.
Nếu giữ vững ổn định chính trị - xã hội là tiền đề, là điều kiện tiên
quyết để thực hiện đổi mới và phát triển thì phải đặc biệt chú trọng và chăm lo
sự ổn định và phát triển ở cơ sở. Nếu để sự yếu kém của HTCT ở cơ sở xảy ra
thì hệ quả tất yếu dẫn đến gây mất ổn định chính trị - xã hội. Thực tế vừa qua
ở nước ta càng cho thấy sự cần thiết, bức xúc của việc củng cố, xây dựng và
phát triển cơ sở đã đến lúc đặt ra phải có giải pháp đổi mới, kiện toàn để tạo
sự chuyển biến tích cực của HTCT ở cơ sở. Kinh nghiệm lịch sử và bài học
của ông cha ta về việc an dân, trị quốc, cũng như kinh nghiệm đấu tranh cách


25
mạng qua các thời kỳ do Đảng lãnh đạo đã cho thấy: việc giữ dân, giành dân
có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự bền vững của chế độ. Chính quyền
trong lòng dân, cơ sở xã hội của chế độ là lòng dân, là sức mạnh đồng thuận
xã hội của dân chúng từ cơ sở. Do vậy, để ổn định chính trị và phát triển xã
hội, nhất thiết phải sớm khắc phục những yếu kém của HTCT ở cơ sở, phải
xây dựng HTCT ở cơ sở trở thành HTCT thực sự của dân, do dân và vì dân.
Có một HTCT được lòng dân, được dân tin, dân yêu mến, dân giúp đỡ, dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status