LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO TỪ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH DƯỚI GÓC ĐỘ DẠY TIẾNG - Pdf 48

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THANH LINH

ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO TỪ
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
DƯỚI GÓC ĐỘ DẠY TIẾNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***

TRẦN THANH LINH

ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO TỪ
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
DƯỚI GÓC ĐỘ DẠY TIẾNG

Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 603160

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC


1.2. Đặc điểm từ trong tiếng Việt và tiếng Anh ....................................................... 21
1.2.1. Đặc điểm từ trong tiếng Việt....................................................................... 21
1.2.2. Đặc điểm từ trong tiếng Anh....................................................................... 22


ii

1.3. Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt và tiếng Anh .............................................. 22
1.3.1. Các quan niệm chủ yếu về đơn vị cấu tạo từ .............................................. 23
1.3.2. Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt .............................................................. 25
1.3.3. Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Anh .............................................................. 26
1.3.4. Phân loại đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt và tiếng Anh.......................... 26
1.4. Phân loại từ tiếng Việt và tiếng Anh về mặt cấu tạo........................................ 28
1.4.1. Phân loại từ tiếng Việt về mặt cấu tạo ........................................................ 28
1.4.2. Phân loại từ tiếng Anh về mặt cấu tạo ........................................................ 29
1.5. Phương thức cấu tạo từ ....................................................................................... 30
1.5.1. Khái niệm phương thức cấu tạo từ ............................................................. 30
1.5.2. Đồng đại và lịch đại trong nghiên cứu phương thức cấu tạo từ .................. 33
Chương 2: PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
2.1. Phương thức chuyển âm ...................................................................................... 36
2.1.1. Biến âm trong ngữ lưu ................................................................................ 36
2.1.2. Biến âm trong lịch sử .................................................................................. 38
2.1.3. Biến âm văn hoá .......................................................................................... 39
2.2. Phương thức chuyển ngữ nghĩa từ vựng............................................................ 40
2.2.1. Chuyển nghĩa đen........................................................................................ 41
2.2.2. Chuyển nghĩa bóng ..................................................................................... 42
2.3. Phương thức chuyển từ loại ................................................................................ 43
2.3.1. Chuyển loại thực từ. .................................................................................... 43



2.3.1. Chuyển loại thực từ. .................................................................................... 77
2.3.2. Chuyển loại hư từ ........................................................................................ 81
3.4. Phương thức ghép (compounding) ..................................................................... 82
3.4.1. Ghép thực từ ................................................................................................ 82
3.4.2. Ghép hư từ ................................................................................................... 87
3.5. Phương thức thành lập từ hoàn toàn mới (coinage) ......................................... 88
3.6. Phương thức phụ tố (affixation) ......................................................................... 89
3.6.1. Thêm tiền tố ................................................................................................ 90
3.6.2. Thêm hậu tố................................................................................................. 91
3.7. Phương thức vay mượn (borrowing).................................................................. 95
2.7.2. Vay mượn trực tiếp ..................................................................................... 95
2.7.3. Vay mượn chuyển tự. .................................................................................. 97
Chương 4: THỦ PHÁP DẠY TỪ DỰA VÀO ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC
CẤU TẠO TỪ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
4.1. Thủ pháp dạy từ dựa vào đối chiếu phương thức chuyển âm trong tiếng
Việt và tiếng Anh ...................................................................................................... 100
4.1.1. Đối chiếu phương thức chuyển âm trong tiếng Việt và tiếng Anh ........... 100
4.1.2. Thủ pháp dạy từ chuyển âm trong tiếng Việt và tiếng Anh ...................... 101


v

4.2. Thủ pháp dạy từ dựa vào đối chiếu phương thức chuyển nghĩa trong tiếng
Việt và tiếng Anh ....................................................................................................... 104
4.2.1. Đối chiếu phương thức chuyển nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh ....... 104
4.2.2. Thủ pháp dạy từ chuyển nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh .................. 104
4.3. Thủ pháp dạy từ dựa vào đối chiếu phương thức chuyển từ loại trong tiếng
Việt và tiếng Anh ....................................................................................................... 107
4.3.1. Đối chiếu phương thức chuyển từ loại trong tiếng Việt và tiếng Anh ...... 107
4.3.2. Thủ pháp dạy từ chuyển loại trong tiếng Việt và tiếng Anh ..................... 107

Phụ lục 2: Đối chiếu tỉ lệ từ tiếng Việt và tiếng Anh
theo phương thức cấu tạo......................................................................... 149
Phụ lục 3: Ngữ liệu tiếng Việt được khảo sát ............................................................ 154
Phụ lục 4: Ngữ liệu tiếng Anh được khảo sát ............................................................ 175


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

STT

NỘI DUNG

TRANG

01

Hình 1.1. Phân loại từ tố trong tiếng Việt

27

02

Hình 1.2. Phân loại hình vị trong tiếng Anh

28


1

- Đối chiếu phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt và tiếng Anh để tìm ra
những tương đồng và dị biệt về phương thức cấu tạo từ của hai thứ tiếng này.
- Trên cơ sở đối chiếu, xác định cách thức, thủ pháp giảng dạy từ tiếng Việt
dựa trên phương thức cấu tạo cho người bản ngữ tiếng Anh học tiếng Việt như một
ngoại ngữ và ngược lại.
- Cuối cùng, luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
đến lĩnh vực cấu tạo từ trong tiếng Việt và tiếng Anh.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thuật ngữ phương thức cấu tạo từ không còn xa lạ gì với các nhà ngôn ngữ
học. Trong nghiên cứu cấu tạo từ, đơn vị cấu tạo từ đóng vai trò quan trọng trong
toàn bộ vấn đề nghiên cứu. Sau đây chúng tôi xin điểm qua lịch sử nghiên cứu về từ
và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt và tiếng Anh.
2.1. Trong tiếng Anh
Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Anh đã được nhiều nhà ngôn ngữ quan tâm và
nghiên cứu. Thuật ngữ hình vị (morpheme) vẫn còn xa lạ đối với một ngôn ngữ biến
hình như tiếng Anh mãi cho đến cuối thế kỷ XVIII. Trước đó, từ vẫn được xem là
đơn vị cơ bản. Từ cũng được xem là đơn vị hoàn chỉnh và nhỏ nhất về mặt ngữ âm
và ý nghĩa.
Ferdinand de Saussure (1973) và các nhà ngôn ngữ học theo trường phái cấu
trúc luận ở châu Âu đều biết rằng không thể chỉ căn cứ vào khái niệm từ khi nghiên
cứu các ngôn ngữ Ấn – Âu mà còn phân tích từ thành những đơn vị nhỏ hơn từ.
Những đơn vị nhỏ nhất và có nghĩa được xem như những hình vị. Tuy nhiên, hình
vị bản thân nó đã xuất hiện theo quá trình phát triển của chữ viết từ rất lâu. Thuật
ngữ hình vị đã được nêu ra nhiều trong ngôn ngữ học so sánh với những nghiên cứu
so sánh loại hình và so sánh lịch sử các ngôn ngữ Ấn – Âu. Ngoài ra, khái niệm


3

nghĩa vị được hiểu như là một đơn vị nhỏ nhất, khu biệt về nghĩa và nó cũng đồng


Ngoài ra, còn có những quan điểm khác nhau về đơn vị cấu tạo từ trong các
ngôn ngữ Ấn – Âu. Quan điểm tạo sinh luận của Noam Chomsky (1965) dựa vào sự
phân biệt cấu trúc bề mặt và bề sâu. Ông cho rằng hình vị (morpheme) thuộc về
cấu trúc bề sâu và nó đối lập với các yếu tố cấu tạo từ (formative) ở cấu trúc bề mặt.
Theo quan điểm nghĩa vị luận, Hjemslev xem tín hiệu (sign) làm khái niệm
cơ sở để sản sinh ra các khái niệm như hình vị (dt Đỗ Hữu Châu 2004). Tín hiệu
được xem như một đơn vị hai mặt thuần hình thái.


4

Hiện nay, hầu hết nhà ngôn ngữ học Anh đều dựa theo quan điểm cấu trúc
luận Mỹ của Bloomfield để làm cơ sở nghiên cứu các phương thức cấu tạo từ trong
tiếng Anh hiện đại. Các nhà nghiên cứu hình thái học tiếng Anh căn cứ vào khả
năng hình thành từ và các tổ hợp các hình vị nêu trên để phân loại thành những
phương thức cấu tạo.
Trong việc nghiên cứu từ tiếng Anh hiện đại, các nhà nghiên cứu tiêu biểu
như Norman C. Stageberg (1965) - An Introductory English grammar, Howard
Jackson (1982) – Analyzing English, Irina V. Arnold (1986) – The English Word,
Andrew Carstairs-McCarthy (2002) – An Introduction to English Morphology, Ingo
Plag (2003) – Word-formation in English, Geert Booij (2005) – The Grammar of
Words,… đều cho rằng từ tiếng Anh được cấu tạo chủ yếu bằng phương thức thêm
tiếp tố/ phụ tố (affixation) và phương thức ghép (compounding). Phương thức thêm
tiếp tố là phương thức cấu tạo từ trong đó từ được tạo thành từ bằng cách thêm tiền
tố, hậu tố hoặc trung tố vào một hình vị khác. Phương thức ghép là phương thức cấu
tạo từ trong đó từ được tạo thành bằng cách ghép hai hình vị với nhau.
Ngoài hai phương thức cấu tạo từ cơ bản của tiếng Anh nêu trên, còn có
những phương thức cấu tạo từ khác trong tiếng Anh như phương thức chuyển âm
(sound change), phương thức chuyển từ loại (conversion),…

các từ. Theo ý kiến của chúng tôi, đây được xem là một định nghĩa về phương thức
cấu tạo từ được thực hiện trong nội tại từ của ngôn ngữ dựa trên quan điểm hình
thái học.
Trong việc nghiên cứu phương thức cấu tạo từ tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu
(1981) đã khẳng định trong ấn bản Từ vựng – Ngữ nghĩa rằng tiếng Việt sử dụng ba
phương thức sau đây: phương thức từ hóa, phương thức ghép và phương thức láy.
Dựa trên cách hiểu của Đỗ Hữu Châu (1981) về từ hóa hình vị, chúng ta nhận thấy
rằng một hình vị vừa đóng vai trò là một âm tiết và vừa có khả năng hoàn chỉnh về
ngữ pháp và ý nghĩa. Đỗ Hữu Châu (1981) cũng cho rằng bản thân hình vị cũng
mang ý nghĩa và nó đóng vai trò như những thành phần cấu tạo của câu. Thêm vào


6

đó, khi nghiên cứu về cách phân chia các từ trong tiếng Việt thì Đỗ Hữu Châu
(1981) lấy tính chất hình vị làm căn cứ thứ nhất của việc phân chia.
Trong ấn bản Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại, Hồ Lê (1976) đã xem các
hình thức ngữ âm nhỏ nhất như những nguyên vị và sau đó phân chia những nguyên
vị thành sáu loại chính: nguyên vị thực, nguyên vị ngữ pháp, nguyên vị hệ thống,
nguyên vị tiềm tàng, nguyên vị tình cảm, nguyên vị mục đích. Các từ tiếng Việt
được phân loại thành từ đơn, từ ghép thực bộ phận (những từ do một nguyên vị thực
với một nguyên vị hệ thống hoặc một nguyên vị tiềm tàng kết hợp với nhau) và từ
ghép thực hoàn toàn (những từ ghép do hai nguyên vị thực – nguyên vị tự thân có
nghĩa kết hợp với nhau). Các từ ghép thực hoàn toàn được Hồ Lê (1976) chia nhỏ
theo quan hệ cú pháp thành từ ghép song song và từ ghép chính phụ.
Ngoài ra, Nguyễn Văn Tu (1976) xem từ tố như những đơn vị cấu tạo nên từ
trong tiếng Việt trong đó từ tố được xác định như đơn vị gốc của từ và nó cũng
được xem như đơn vị nhỏ nhất, có nghĩa. Từ tố được phân loại thành từ tố có nghĩa
từ vựng và từ tố mang ý nghĩa bổ sung, từ tố độc lập và từ tố không độc lập.
Nguyễn Văn Tu (1976) đã nêu ra trong ấn bản Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại

rộng vốn từ của tiếng Việt, những đơn vị từ mới được cấu tạo dựa trên cơ sở những
từ đã có. Những đơn vị như thế được gọi là ngữ cố định. Nguyễn Thiện Giáp (2011)
quan niệm rằng ngữ cố định có giá trị tương đương với từ và cũng phân biệt ngữ cố
định với cụm từ tự do ở tính hoàn chỉnh về cấu tạo và khả năng tái hiện như một
đơn vị có sẵn. Hai quá trình cấu tạo nên ngữ cố định trong tiếng Việt là quá trình từ
vựng hóa và cú pháp hóa. Quá trình cú pháp hóa dựa theo cấu trúc bề mặt và bề sâu
trên hình tuyến để cấu tạo ngữ cố định. Thêm vào đó, quá trình từ vựng hóa được
cho rằng là quá trình biến đổi một kết hợp các từ (cụm từ) thành một đơn vị cố định
của ngôn ngữ và hoạt động với tư cách tương đương với một từ đơn.
Trong ấn bản Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban (2008) quan niệm rằng
hai đơn vị cấu tạo nên từ tiếng Việt là tiếng và từ tố trong đó tiếng và từ tố không
thể hợp nhất lại với nhau và giữa chúng có mối liên hệ nhất định. Khi Diệp Quang
Ban (2008) đối chiếu hai đơn vị này với nhau với hai cách xem xét khác nhau. Khi


8

xem xét số lượng tiếng cấu tạo từ tiếng Việt thì Diệp Quang Ban (2008) cho rằng từ
đơn được cấu tạo từ một tiếng và tiếng đó luôn luôn có nghĩa, tức là một từ tố. Từ
phức có nhiều hơn một tiếng và có thể là từ đơn tố hay đa tố. Thêm vào đó, khi xem
xét số lượng từ tố cái mà tham gia vào cấu tạo nên từ tiếng Việt thì Diệp Quang Ban
(2008) cho rằng từ đơn tố có thể là từ đơn hay từ phức, còn từ đa tố luôn luôn là từ
phức.
Trong đề tài nghiên cứu khoa học về “Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt
nửa sau thế kỷ XX” do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam quản lý, Nguyễn Thị Trung
Thành (2009) đã đứng trên phương diện nghiên cứu lịch sử phát triển của từ vựng
tiếng Việt nửa sau thế kỷ XX bằng con đường cấu tạo từ. Đây là thời kỳ mà vốn từ
tiếng Việt được mở rộng và phát triển chủ yếu bởi hai phương thức “láy” và “ghép”.
Ngày càng nhiều những đơn vị đa tiết được hình thành qua hai phương thức cấu tạo
từ cơ bản nêu trên. Ngoài ra, tiếng Việt còn vay mượn ngày càng phong phú và đa

xem tiếng vị như đơn vị cấu tạo từ nhỏ nhất, có tính nội dung ý nghĩa (đơn vị ngữ
pháp nhỏ nhất về mặt chức năng cũng như kết cấu, đơn vị được lặp đi lặp lại và có
thể tham gia vào cấu tạo từ) và hình thức (phân đoạn ngữ âm nhất định nhỏ nhất,
phân đoạn chữ viết nhất định nằm giữa hai khoảng trống) và phân loại phương thức
cấu tạo từ tiếng Việt dựa vào ngữ pháp - ngữ nghĩa và dựa vào ngữ pháp với đơn vị
xuất phát là từ. Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt về mặt ngữ pháp có những
phương thức sau: từ hóa tiếng vị, phương thức láy tiếng vị, phương thức ghép tiếng
vị. Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt về mặt ngữ nghĩa được phân loại thành những
phương thức sau: phương thức chuyển nghĩa, phương thức chuyển âm nhưng cùng
nghĩa, phương thức chuyển âm, trái nghĩa và phương thức mô phỏng hay miêu tả. Ở
cấp độ ngữ pháp với đơn vị xuất phát là từ, Mai Thị Kiều Phượng (2011) nghiên
cứu sâu vào phương thức cấu tạo từ chuyển loại trong cấp độ ngữ pháp.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn này là phương thức cấu tạo từ
trong tiếng Việt và tiếng Anh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu


10

Luận văn chủ yếu khảo sát và so sánh đối chiếu các phương thức cấu tạo từ
trong tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời ứng dụng vào việc dạy từ tiếng Việt cho
người bản ngữ tiếng Anh và dạy từ tiếng Anh cho người bản ngữ tiếng Việt.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng phương pháp các phương pháp sau:
4.1.1. Phương pháp so sánh – đối chiếu
Phương pháp so sánh - đối chiếu ngôn ngữ được sử dụng nhằm tìm ra sự
tương đồng và dị biệt giữa phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt và tiếng Anh.

từ vựng nhằm góp phần vào công tác giảng dạy tiếng Việt và tiếng Anh như một
ngoại ngữ.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Trong dạy tiếng: luận văn là tài liệu tham khảo nhằm phục vụ cho việc dạy
và học tiếng Việt cho học viên bản ngữ tiếng Anh và ngược lại; giúp cho người học
cũng như người dạy có thể nhận diện những cách thức cấu tạo cũng như ngữ nghĩa
của từ và vận dụng chúng vào việc giảng dạy và học tập của mình; giúp cho người
học gia tăng vốn từ cũng như vận dụng chúng một cách hiệu quả.
Số lượng từ khảo sát không cao vì khuôn khổ giới hạn của một luận văn cũng như thời gian và năng lực của
tác giả còn hạn chế.
1


12

- Trong dịch thuật: luận văn là tài liệu tham khảo cho công tác dịch thuật;
giúp cho người dịch nắm bắt nhanh chóng các phương thưc cấu tạo từ cũng như ngữ
nghĩa của từ; góp phần vào việc chuyển dịch được nhanh chóng và chính xác.
6. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 1 trình bày khái niệm từ, đặc điểm từ, đơn vị cấu tạo từ và phương
thức cấu tạo từ trong tiếng Việt và tiếng Anh. Đồng thời, chúng tôi cũng phân loại
từ trong tiếng Việt và tiếng Anh dựa vào phương thức cấu tạo. Chương này sẽ là cơ
sở lí luận cho những chương tiếp theo.
Chương 2: PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
Chương này miêu tả, phân tích đặc điểm của các phương thức cấu tạo từ
trong tiếng Việt. Từ đó làm cơ sở cho việc đối chiếu đặc điểm phương thức cấu tạo
từ trong tiếng Việt và tiếng Anh ở chương 4.
Chương 3: PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO TỪ TRONG TIẾNG ANH
Trong chương này, chúng tôi miêu tả, phân tích đặc điểm của các phương

một khái niệm thống nhất về từ trong ngôn ngữ học đại cương. Từ được xem như
một đơn vị tồn tại một cách hiển nhiên và cơ bản trong ngôn ngữ. Xét về vị trí của
từ trong ngôn ngữ, từ được xem như đơn vị lớn nhất khi đặt nó trong mối tương
quan với những đơn vị thấp hơn nó như âm vị và hình vị; còn với tư cách như đơn
vị tạo câu thì lúc này từ lại được xem như đơn vị nhỏ nhất.
1.1.1. Khái niệm từ trong tiếng Việt
Dựa vào đặc điểm ngữ âm, Lê Văn Lý (1948) chỉ đưa ra khái niệm về từ đơn
và từ ghép mà không đưa ra một định nghĩa chung về từ tiếng Việt. Về từ đơn, “từ
trong tiếng Việt bấy giờ sẽ biểu hiện thành một ký hiệu âm thanh mà hình thức của
nó có thể bắt đầu từ một âm vị đơn, (…) hoặc một kết hợp gồm nhiều âm vị, mà sự
biểu hiện về mặt âm thanh chỉ là một lần phát âm hoặc chỉ là một âm tiết và khi
viết, được biểu lộ ra bằng một đơn vị tách biệt và có ý nghĩa có thể biểu hiện được”
[72, tr. 130]. Về từ ghép, “từ ghép chỉ gợi lên một khái niệm và từ ghép chính là
một thể toàn vẹn về ngữ âm không thể phân tách ra được” [72, tr.130]. Đồng ý với
quan niệm của Lê Văn Lý, Phan Khôi (1955) và Nguyễn Lân (1956), dựa vào tiêu


15

chuẩn mỗi từ gợi lên một khái niệm, định nghĩa “từ là một lời để tỏ ra một khái
niệm trong lời nói” [26, tr.160] hoặc là “những tiếng có nghĩa, tức là mỗi khi nghe
thấy” [28, tr. 10].
M. B. Emeneau (1951) chỉ ra rằng “từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học,
nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng
những thanh điệu” [58, tr. 3]. Theo quan điểm này, mỗi từ tiếng Việt là một âm tiết
hoặc một chữ viết liền nhau. Đồng quan niệm với M. B. Emeneau, Cao Xuân Hạo
(2006) đề cập đến những đơn vị khác thường trong đó bao gồm tiết vị
(syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllable), đơn tiết
(monosyllable) hoặc chỉ là từ (word) của ngôn ngữ đơn lập và phân tiết tính, cụ thể
là tiếng Việt. Âm tiết là sự kết hợp của ba trục: âm vị, hình vị và từ. Cao Xuân Hạo

“Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của
lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý
nghĩa (từ vựng và ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” [39, tr. 64].
Một điểm đáng lưu ý trong khái niệm này là tính hoàn chỉnh về ngữ âm. Vỏ
ngữ âm của từ sẽ trùng với ranh giới của từ. Chấp nhận khái niệm về từ của P. A.
Budagop, Nguyễn Văn Tu (1976) coi “từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình
thức vật chất (vỏ âm thanh và hình thức) và có ý nghĩa có tính chất biện chứng và
lịch sử” (dt Nguyễn Văn Tu 1976). Nguyễn Văn Tu và Nguyễn Kim Thản đều nói
đến khả năng vận dụng độc lập của từ trong giáo trình ngôn ngữ học dùng ở bậc đại
học trong những năm 1957 – 1958. Theo cách hiểu như trên, từ có thể vận dụng một
cách độc lập và không bị ràng buộc bởi một yếu tố cấu tạo từ khác.
Xét về chức năng định danh, Hồ Lê (1976) định nghĩa:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status