BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Chính trị học
Mã số
: 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH TRỊ HỌC
Cần Thơ - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin xam đoan công trình này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu, thông tin trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Nội dung
luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học
nào. Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Cần thơ, ngày
tháng
Tác giả luận văn
hiệu lực quản lý, giải quyết các vấn đề phức tạp của quản lý đô thị hiện nay.
Trong thời gian vừa qua, mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm và
ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo quá trình xây dựng, tổ chức và
hoạt động chính quyền các cấp, đặc biệt là hệ thống chính quyền địa phương
nhưng nhìn chung, chúng ta còn lúng túng trong việc xác định một mô hình
phù hợp, đặc biệt là mô hình chính quyền đô thị, một vấn đề còn mới cả về lý
luận và thực tiễn ở Việt Nam. Cụ thể, Nghị quyết Ðại hội lần thứ XI của Ðảng
2
đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa
phương. Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban
nhân dân các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc
quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân
cấp. Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị,
hải đảo. Tiếp tục thực hiện thí điểm chủ trương không tổ chức hội đồng nhân
dân huyện, quận, phường” [20, tr.56]. Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI cũng đã ban hành Kết luận số 64-KL/TW ngày
28/5/2013 về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính
trị từ Trung ương đến cơ sở”. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung 2013)
cũng có những quy định về “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn,
đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định” [21, tr.13].
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một số mô hình chính quyền đô thị
được coi là thành công trên thế giới và khu vực, đặc biệt là tính đến tính khả
thi trong việc áp dụng vào Việt Nam là một yêu cầu tất yếu, sẽ giúp cho
chúng ta có thêm căn cứ cả về lý luận và thực tiễn để xây dựng và vận hành
hệ thống chính quyền đô thị phù hợp theo hướng tinh gọn mà hiệu quả.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Mô hình chính
- Đề án “Mô hình tổ chức chính quyền đô thị” của Bộ Nội vụ (2003).
Đề án quán triệt nguyên tắc đổi mới trong cải cách hành chính nói chung, tổ
chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói riêng; hướng tới cải cách
toàn diện các lĩnh vực, nhưng ưu tiên trong giai đoạn này là đẩy mạnh phân
cấp, ủy quyền và tăng cường tự quản cho địa phương, tập trung cho các đô thị
là thành phố trực thuộc trung ương và các đô thị trực thuộc tỉnh, tạo động lực
phát triển cho mỗi địa phương, vùng miền và cả nước.
- Bùi Thế Vĩnh có Đề tài khoa học cấp thành phố “Tổ chức lại hệ thống
chính quyền khu vực nội thành Hà Nội” (2003) đã nghiên cứu về cơ cấu, tổ
4
chwcs hệ thống chính quyền Thành phố Hà Nội hiện nay và đưa ra một số đề
xuất, kiến nghị về việc tổ chức lại hệ thống chính quyền khu vực nội thành
Thành phố Hà Nội nhằm đáp ứng thực tiễn.
- Nguyễn Ðăng Dung công trình nghiên cứu về Mô hình tổ chức chính
quyền đô thị trong tổng thể mô hình chính quyền địa phương hiện nay (2004)
đã nêu rõ những mối quan hệ tương quan giữa chính quyền đô thị và chính
quyền nông thôn trong tổng thể hệ thống chính quyền địa phương và chỉ rõ
những điểm khác biệt giữa hai mô hình này. Từ đó, đã đề xuất một số mô
hình để xây dựng chính quyền đô thị cho phù hợp với nước ta trong giai đoạn
hiện nay.
- Nguyễn Thị Kim Thoa và Nguyễn Sỹ Đại có công trình nghiên cứu về
Tổ chức chính quyền địa phương Cộng hoà Liên bang Đức (2006). Công trình
nghiên cứu đã chỉ ra cơ cấu, tổ chức của chính quyền địa phương của một số
nước Châu âu. Đặc biệt là tổ chức chính quyền địa phương ở Cộng hoàn Liên
bang Đức.
- Phan Xuân Biên làm chủ biên cuốn sách Một số vấn đề về xây dựng
chính quyền đô thị từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2006.
giữa người dân với chính quyền, về chi phí triển khai thí điểm mô hình.
- Đào Ngọc Nghiêm có bài viết về “Chính quyền đô thị - từ thực tiễn
yêu cầu đổi mới Việt Nam” đăng trên Tạp chí Kiến trúc năm 2013. Bài viết đã
nêu ra những căn cứ pháp lý quan trọng để triển khai xây dựng mô hình
Chính quyền đô thị ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả đã phân tích cơ cấu, tổ
chức của mô hình chính quyền địa phương hiện nay ở nước ta hiện nay, từ đó
đề xuất ra các phương án khác nhau trong việc xây dựng mô hình Chính
quyền đô thị sao cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, dân cư ở
từng khu vực.
- Sử Đình Thành có bài tham luận về Phân cấp ngân sách gắn với đổi
mới chính quyền địa phương đô thị tại Hội thảo Tổ chức chính quyền địa
6
phương ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn được tổ chức tại Ninh
Thuận năm 2013. Tác giả chủ yếu đi sâu phân tích về quá trình đô thị hóa và
những thay đổi quản lý ngân sách của chính quyền địa phương đô thị và quản
trị đô thị ở nước ta, về mối quan hệ quản trị đô thị, quản lý ngân sách đô thị và
những thay đổi quan trọng trong quản lý ngân sách đô thị ở Việt Nam hiện nay.
Như vậy, có thể khẳng định, đã có nhiều tác giả, nhà nghiên cứu có sự
đầu tư nghiên cứu các vấn đề về mô hình chính quyền đô thị nói riêng, mô
hình chính uyền địa phương nói chung. Tuy nhiên, hầu hết các công trình
nghiên cứu, bài viết, tham luận trên mới chỉ đề cập đến một hoặc một số khía
cạnh xung quanh vấn đề xây dựng mô hình chính quyền đô thị. Ngoài ra, có
nhiều công trình nghiên cứu từ cách đây hơn 10 năm nên chưa phản ánh được
hết quan điểm, chủ trương của Đảng từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X,
lần thứ XI về việc tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa
phương và về nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân các cấp; bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong
Đề tài này sử dụng các phương pháp cơ bản, phổ biến trong nghiên cứu
khoa học xã hội nói chung và nghiên cứu chính trị học nói riêng, gồm:
* Phương pháp luận: Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử, những quan điểm, lập trường chính thức của Đảng và
Nhà nước Việt Nam về xây dựng chính quyền đô thị, về đổi mới, hoàn thiện
hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
* Phương pháp lôgic, nghiên cứu tình huống, so sánh hệ thống: Các
nghiên cứu xuất phát từ những chính sách của Đảng, Nhà nước ta; so sánh với
chính sách, chủ trương của các nước trên thế giới về xây dựng chính quyền đô
thị; từ đó có những đề xuất, kiến nghị xác đáng.
* Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để thu thập và đánh giá
các nguồn tài liệu liên quan tới đề tài, bao gồm văn kiện Đảng, chính sách của
Nhà nước, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới đề
8
tài nghiên cứu.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như:
phương pháp lịch sử, thống kê, dự báo làm bổ trợ khi triển khai thực hiện đề tài.
6. Những đóng góp của đề tài
- Góp phần củng cố cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu, xây
dựng, tổ chức chính quyền đô thị ở Việt Nam.
- Đề xuất giải pháp, kinh nghiệm cho việc tổ chức, quản lý trên các lĩnh
vực an ninh, văn hóa, kinh tế, xã hội trong thành phố, đô thị.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung luận văn được chia thành 2 chương 5 tiết.
10
có liên hệ về kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lỏi, tiêu biểu là mối quan
hệ từ công ăn việc làm đến việc di chuyển hàng ngày ra vào mà trong đó
thành phố đô thị cốt lỏi là thị trường lao động chính. Thật vậy, các đô thị
thường kết hợp và phát triển như trung tâm hoạt động kinh tế/dân số trong
một vùng đô thị lớn hơn.
Các vùng đô thị thường thường được định nghĩa bằng việc sử dụng các
quận (như ở Hoa Kỳ) hoặc các đơn vị chính trị cấp quận làm đơn vị nền tảng.
Quận có chiều hướng hình thành các ranh giới chính trị bất di bất dịch. Các
kinh tế gia thường thích làm việc với các thống kê xã hội và kinh tế dựa vào
các vùng đô thị. Các đô thị được dùng để thống kê thích hợp hơn trong việc
tính toán việc sử dụng tỉ lệ đất quân bình trên đầu người và mật độ dân cư
[71, tr.02].
Định nghĩa về đô thị thì khác nhau tại các quốc gia khác nhau. Các
quốc gia châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô
thị và dùng ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố để quyết
định ranh giới của đô thị. Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng
đất và mật độ dân số nhất định nào đó, một điều kiện nữa là phần đông dân
số, không có hành nghề nông nghiệp.
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm
2009 của Chính phủ, một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì
phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau: có chức năng đô thị; quy mô dân số
toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên; mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính
chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành,
nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo các khu phố xây dựng tập trung;
tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội
thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao
động; đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ
và mật độ dân cư phải tối thiểu là 200 người trên một cây số vuông [70,
tr.15].
Tại Canada, một đô thị là một vùng có trên 400 người trên một cây số
vuông và tổng số dân phải trên 1.000 người. Nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn
trong phạm vi 2 km của nhau, các đô thị này được nhập thành một đô thị duy
nhất. Các ranh giới của một đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các
khu tự quản (thành phố) hoặc thậm chí là ranh giới tỉnh bang [72, tr.10].
Tại Trung Quốc, một đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn
có mật độ dân số hơn 1.500 người trên một cây số vuông. Đối với các khu
thành thị có mật độ dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ
dân số sống trong các đường phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận
nhau được tính là dân số thành thị [73, tr.07].
Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do
xây cất (gọi là một "đơn vị thành thị" (unité urbaine) [74, tr.05] - gần giống
như cách định nghĩa của đô thị Bắc Mỹ và các vùng vành đai ngoại ô
(couronne périurbaine). Mặc dù cách dịch chính thức thuật từ aire urbaine của
INSEE là "urban area" trong tiếng Anh, [75, tr.32] đa số người Bắc Mỹ sẽ
nhận thấy rằng nó tương tự với định nghĩa về vùng đô thị của mình. Tại Thụy
sĩ chỉ có những đơn vị hành chánh được gọi là thành phố, hoặc là nó có hơn
10 ngàn dân hoặc dưới thời Trung cổ nó được ban cho quyền được gọi là
thành phố. Tại Nhật Bản, các đô thị được định nghĩa như là các vùng cận kề
nhau gồm các khu dân cư đông đúc. Điều kiện cần thiết là đô thị phải có mật
độ dân số trên 4.000 người trên một cây số vuông. Cục thống kê Tân Tây Lan
định nghĩa đô thị Tân Tây Lan cho các mục đích thống kê. Chúng là các khu
định cư có dân số trên 1.000 người. Tại Ba Lan, định nghĩa chính thức về "đô
thị" đơn giản là ám chỉ đến các địa phương có danh xưng là thị trấn, thành
phố. Vùng "nông thôn" là những vùng nằm ngoài ranh giới của các thị trấn
15
đường ôtô tráng nhựa, điện nước, cống thoát nước liên hoàn duy nhất, nhà ở,
nhà phố liền kề. Nông thôn gắn liền với vườn cây - đồng ruộng, vườn rau - ao
cá, gia súc gia cầm; Về nghề nghiệp: cư dân đô thị, thành phố, thị xã, thị trấn
đa số không làm nghề nông (làm ruộng, trồng trọt, đánh bắt hải sản, đốn củi,
làm rừng…). Phần đông họ sinh sống bằng buôn bán hàng hóa hoặc ăn uống,
dịch vụ lao động, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, chế biến thực phẩm,
ngân hàng tài chính, dạy học; Về lối sống, sinh hoạt: cư dân đô thị, thành phố,
thị xã, thị trấn thường có đời sống văn hóa cao hơn nông thôn, văn minh tiến
bộ hơn. Tinh thần chấp hành luật pháp của cư dân đô thị tốt hơn ở nông thôn.
Về diện tích, mật độ dân cư: diện tích các đô thị, thành phố thường nhỏ hơn
so với cùng cấp ở nông thôn, nhưng mật độ dân cư thường cao hơn gấp hàng
chục, trăm lần ở các xã, huyện; Về ý thức chính trị: cư dân đô thị có ý thức
chính trị cao hơn nông thôn: dân chủ, công bằng, tự do, nhanh nhạy tiếp thu
cái mới. Họ có tính tập thể cộng đồng mạnh mẽ, tính kỷ luật lao động và đời
sống cao hơn cư dân nông thôn, nhưng cũng dễ dàng bị khích động, manh
động ảnh hưởng đến an ninh trật tự công cộng. Về các nhóm giai cấp, tầng
lớp xã hội thì ở đô thị đặc trưng chủ yếu là giai cấp công nhân, ngoài ra còn
có các tầng lớp giai cấp khác như tư sản, thợ thủ công, viên chức, trí thức,
v.v... Còn đối với nông thôn thì đặc trưng chủ yếu ở đây là nông dân, ngoài ra
ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú nông, nhóm thợ
thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, v.v... Về lĩnh vực sản xuất chủ yếu ở đô thị có
đặc trưng là sản xuất công nghiệp; ngoài ra, còn có các lĩnh vực khác như
dịch vụ, thương nghiệp, sản xuất tinh thần, v.v... Còn đối với nông thôn thì
đặc trưng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp; ngoài ra, còn phải kể đến cấu
trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có
vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Về lối sống, văn hóa của
được giới hạn về mặt hành chính, hoạt động của nó có tính độc lập tương đối.
Thứ năm, đô thị mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất, kinh
17
tế và văn hóa. Nền văn hoá được kế thừa và phát triển với bản sắc dân tộc
Việt Nam.
* Khái niệm chính quyền đô thị
Theo Tiến sĩ Võ Trí Hảo, giảng viên Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh:
“Nói một cách dễ hiểu, chính quyền đô thị là một thuật ngữ để chỉ một mô
hình chính quyền địa phương thành lập ở các đô thị, dùng để phân biệt với
mô hình chính quyền nông thôn” [23, tr.42]. Như vậy, theo cách quan niệm
này, khái niệm chính quyền đô thị được hiểu khi đặt trong tương quan so sánh
với một mô hình chính quyền địa phương khác, đó là chính quyền nông thôn.
Mô hình chính quyền đô thị là mô hình tập trung quản lý. Trách nhiệm
quản lý của chính quyền đô thị thường được tập trung vào cấp thành phố, cấp
còn lại chỉ là cánh tay nối dài, chứ không phải một cấp quyền lực khác. Cấp
cơ sở chỉ quản lý hành chính dân cư, đặc biệt không tham gia quản lý kinh
doanh [23, tr.38]. Chính quyền đô thị là mô hình quản lý hành chính dựa trên
đặc thù của đô thị, có sự phân biệt rõ rệt với nông thôn, đào tạo và phát huy
nguồn lực con người đến mức tối đa. Bộ máy quản lý của chính quyền đô thị
phải quy tụ nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, ưu tú cả về tài năng và đạo
đức, gây ảnh hưởng tốt đến lối sống của toàn xã hội. Thủ tục hành chính được
tinh giản triệt để, số công chức được tinh giản. Sự tinh giản thủ tục hành
chính, tinh giản công chức dựa trên sự tinh giản các cấp trung gian quản lý,
mà công nghệ thông tin là phương tiện của việc này. Ngân sách cho bộ máy
hành chính cồng kềnh như hiện nay sẽ được tập trung cho những công chức
xứng đáng được tuyển chọn minh bạch. Thị trưởng là người đứng đầu và có
quyền lực cao nhất trong địa phương và người dân bầu theo cơ chế dân chủ
nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, môi trường... nên đòi hỏi một người đứng
đầu chính quyền chịu trách nhiệm trước dân cao hơn, đòi hỏi được dân bầu
trực tiếp, chịu trách nhiệm trực tiếp và bị phế truất trực tiếp bởi lá phiếu của
người dân. Tuy nhiên, ở các nước phát triển, dân trí cao, thì đặc điểm thứ hai
này được mở rộng áp dụng cả với vùng nông thôn.
19
Một trong những mục tiêu mà chính quyền đô thị hướng tới là bộ máy
hành chính được tinh giản đến mức tối đa, người thủ trưởng đô thị sẽ có
quyền quyết định nhanh và tức thì nhiều vấn đề quan trọng với đô thị, mô
hình chính quyền đô thị là mô hình tập trung quản lý ở cấp Thành phố. Nhiều
ý kiến cho rằng, chính quyền đô thị hiện đại là “nhà nước thu nhỏ lại, tư nhân
phình ra”, Nhà nước chỉ làm chức năng quản lý, đề ra chính sách hợp lý, còn
huy động người dân tham gia phát triển thành phố; xây dựng trong người dân
thói quen ứng xử đô thị, tuân thủ luật pháp triệt để...
Chính quyền đô thị quản lý một cộng đồng thống nhất, công dân có
quyền làm thủ tục hành chính ở bất kỳ nơi nào mà họ thấy thuận tiện nhất;
không nhất thiết phải đúng quận, chỉ rất ít thủ tục đòi hỏi phải đi đúng tuyến;
việc cấp chỗ học, trường phổ thông công lập được căn cứ vào bán kính từ nơi
cư trú đến trường học gần nhất chứ không nhất thiết phải đúng tuyến; cảnh sát
thành phố đang thi hành công vụ, khi thấy hành vi vi phạm pháp luật có
quyền và nghĩa vụ bắt giữ mà không phân biệt địa bàn. Vì địa bàn thành phố
về mặt an ninh trật tự được coi là một địa bàn thống nhất nên cảnh sát trưởng
phải chịu trách nhiệm về các hành vi vi phạm pháp luật.
Quản trị đô thị có những khác biệt so với quản trị nông thôn. Cũng có thể
cùng một chức năng như chính quyền nông thôn, nhưng thực hiện nhiệm vụ
trong từng chức năng của chính quyền đô thị lại khác biệt hoàn toàn. Với những
biến đổi đa dạng về đời sống kinh tế - xã hội, với mật độ dân số cao cùng với với
Như vậy, có thể khái quát lại, chính quyền đô thị là hình thức tổ chức
chính quyền địa phương ở các đô thị - địa bàn tập trung dân cư, có trình độ
phát triển kinh tế - xã hội và dân trí cao. Được tổ chức chặt chẽ và tập trung
theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, tăng tính linh hoạt và hiệu quả của bộ máy.
Trong đó, nhấn mạnh vai trò và tính chịu trách nhiệm của người đứng đầu
đồng thời đề cao trách nhiệm công dân và sự tham gia của người dân vào
quá trình xây dựng và vận hành hệ thống.
1.1.2. Khái niệm mô hình chính quyền đô thị
21
Mô hình chính quyền đô thị cấp thành phố trực thuộc Trung ương gồm có
cơ quan dân cử (hội đồng nhân dân) và cơ quan hành chính (ủy ban hành chính)
hoặc cơ quan hành chính là Tòa thị chính, đứng đầu Tòa thị chính là Thị trưởng,
là một hình thức của chính quyền địa phương thuộc hệ thống tổ chức của Chính
phủ (hệ thống hành pháp). Hội đồng nhân dân do nhân dân trực tiếp bầu ra.
Người đứng đầu cơ quan hành chính là Chủ tịch Ủy ban hành chính do Hội đồng
nhân dân bầu, kết quả bầu cử vẫn do cấp trên phê chuẩn. Chủ tịch Ủy ban hành
chính bổ nhiệm cấp phó. Hoặc
Mô hình chính quyền đô thị cấp quận trực thuộc thành phố thì không tổ
chức Hội đồng nhân dân, chỉ tổ chức cơ quan hành chính quận. Người đứng đầu
cơ quan hành chính quận là Chủ tịch Ủy ban hành chính quận do Chủ tịch Ủy
ban hành chính thành phố trực thuộc Trung ương bổ nhiệm. Dưới Chủ tịch Ủy
ban hành chính Quận có một số Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính quận do Chủ
tịch Ủy ban hành chính quận đề nghị Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố trực
thuộc Trung ương bổ nhiệm. Cơ quan hành chính quận là cơ quan đại diện của
cơ quan hành chính thành phố.
Mô hình chính quyền đô thị cấp phường trực thuộc quận thì không tổ
chức Hội đồng nhân dân, chỉ tổ chức cơ quan hành chính phường. Mô hình tổ
nhiệm. Bên cạnh đó, việc giảm bớt cấp quản lý của mô hình chính quyền đô thị
sẽ làm khoảng cách từ dân đến chính quyền gần hơn. Về vấn đề quản lý trật tự
xã hội, hành chính sẽ hiệu quả hơn; tăng tính tự chủ, tự quản cho chính quyền đô
thị sẽ tăng trách nhiệm của cơ quan quản lý để đáp ứng nhu cầu cấp bách về một
cơ chế “mềm” phục vụ quản lý, phát triển. Chính quyền được tự chủ quyết định
số lượng biên chế của bộ máy các cấp và chính sách, chế độ tiền lương cho cán
bộ, công chức, viên chức. Ngoài ra, chính quyền cũng được trao thêm quyền quy
định các hành vi xâm phạm trật tự, an toàn, văn minh đô thị phát sinh mới (chưa
có văn bản luật quy định là vi phạm hành chính) và quy định mức xử phạt nhằm
tăng cường giáo dục, răn đe.