mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ chiếm trên 50% dân số và lao động xã hội, là lực lợng to lớn,
đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của nớc ta. Họ với t cách là
ngời mẹ sinh thành nuôi dỡng cho đất nớc các thế hệ công dân tiếp nối thực
hiện sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Ngoài ra phụ nữ Việt Nam còn
tham gia tích cực vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Phụ
nữ Việt Nam có truyền thống vẻ vang, nguyên Tổng Bí th Đỗ Mời đã nêu
trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII: "Từ
xa đến nay, phụ nữ Việt Nam luôn luôn giữ vị trí quan trọng trong quá trình
hình thành cộng đồng dân tộc, trong sự nghiệp đấu tranh lâu dài dựng nớc
và giữ nớc cũng nh trong cuộc đời thờng. Truyền thống và phẩm giá của
phụ nữ nớc ta đợc hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là lòng yêu n-
ớc, tính nhân ái, đức hy sinh, trí thông minh. Tám chữ vàng "Anh hùng bất
khuất, trung hậu, đảm đang" mà Bác Hồ kính yêu và nhân dân ta trao tặng
phụ nữ nớc ta chính là sự đúc kết một cách sâu sắc truyền thống vẻ vang và
phẩm giá cao đẹp đó" [93, 90-91].
Trong quá trình xây dựng CNXH, nhất là trong sự nghiệp đổi mới
toàn diện đất nớc theo định hớng XHCN hiện nay việc xây dựng đạo đức
lành mạnh của xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Điều đó đòi
hỏi phải nhận thức đúng đắn vấn đề kế thừa và phát huy giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc nói chung và của ngời phụ nữ Việt Nam nói riêng,
tạo điều kiện cho việc xây dựng chuẩn mực đạo đức mới phù hợp yêu cầu
phát triển của xã hội. Đồng thời đó cũng là một nội dung quan trọng trong
việc góp phần "xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc".
Trong những năm đổi mới vừa qua vai trò của phụ nữ càng đợc khẳng
định trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Song, do tác động của cơ
1
chế thị trờng, những giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam bị
giảm sút, bị xói mòn. Không ít chị em chạy theo lối sống thực dụng, cá
pháp có tính định hớng nhằm phát huy có hiệu quả các giá trị đạo đức
truyền thống ở ngời phụ nữ Kiên Giang hiện nay.
b) Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện mục đích trên luận văn phải thực hiện ba nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Làm rõ các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam và
tầm quan trọng, nội dung, yêu cầu của việc phát huy chúng trong tình hình
hiện nay.
- Phân tích thực trạng của việc phát huy các giá trị đạo đức truyền
thống ở phụ nữ Kiên Giang; phân tích những nguyên nhân của thực trạng
đó; từ đó rút ra những vấn đề cần giải quyết để thực hiện kế thừa và phát
huy những giá trị đạo đức truyền thống ở phụ nữ.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả các
giá trị đạo đức truyền thống ở phụ nữ Kiên Giang.
4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
a) Đối tợng
- Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ trong đề tài này muốn đề
cập đến mặt tích cực.
- Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ trong luận văn này đợc hiểu
là giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc nhng đợc biểu hiện đặc thù ở
phụ nữ, do đó nó trở thành truyền thống của phụ nữ.
b) Phạm vi
Đề tài này nghiên cứu chủ yếu là thực tế Kiên Giang, đồng thời có
nghiên cứu tài liệu của những công trình nghiên cứu khác.
3
5. Đóng góp của đề tài
- Khái quát nêu lên những giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ
Việt Nam cần đợc kế thừa và phát huy.
- Đề xuất những và giải pháp có tính định hớng để kế thừa và phát
huy những giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong việc xây
4
của lịch sử dân tộc đợc gọi là những giá trị truyền thống. Trong đó những
giá trị đạo đức truyền thống (GTĐĐTT) đóng vai trò quan trọng trong đời
sống xã hội. Giá trị có thể đợc hiểu là: "Những thành tựu của con ngời góp
vào sự phát triển đi lên của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc
của con ngời xã hội. Giá trị vì thế đợc xác định bởi sự đánh giá đúng đắn
của con ngời, xuất phát từ thực tiễn và đợc kiểm nghiệm qua thực tiễn" [25,
16].
Giá trị đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con ngời. Nó
là cái con ngời dựa vào để xác định mục đích, phơng hớng cho hoạt động
của mình, là cái mà con ngời mong muốn đợc theo đuổi. Giá trị là cơ sở
đánh giá thái độ, hành vi đúng, sai, nên có và không nên có của con ngời.
Giá trị là cơ sở của các chuẩn mực, quy tắc xác định cách thức hành động
của con ngời. Cách thức và hành động xã hội đợc chỉ đạo bởi các giá trị -
Ngời ta dựa vào giá trị đợc xã hội chấp nhận để lựa chọn cách thức suy nghĩ
và hành động phù hợp nhất. Các giá trị, nhất là các giá trị chung, phổ biến đ-
ợc coi nh phơng tiện cơ bản để tạo nên sự liên kết, hợp tác mọi thành viên
trong nhóm, cộng đồng. Bất kỳ một chế độ xã hội nào cũng đợc tổ chức trên
cơ sở những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định.
Trong việc nghiên cứu giá trị, do những mục đích cụ thể khác nhau
ngời ta thờng phân loại giá trị theo cách khác nhau.
ở cấp độ chung nhất, ngời ta phân biệt: giá trị vật chất và giá trị tinh
thần. Giá trị tinh thần đợc chia thành các loại giá trị cơ bản nh: giá trị khoa
học, giá trị đạo đức (GTĐĐ), giá trị thẩm mỹ, giá trị chính trị. Trong đó
GTĐĐ gắn với nhu cầu điều chỉnh quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo h-
ớng tạo nên sự thống nhất hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Có
thể nói: "Giá trị đạo đức là những thái độ và hành vi đợc con ngời lựa chọn,
đợc đánh giá là có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, đợc lơng tâm
5
đồng tình và d luận biểu dơng. GTĐĐ vì thế có ý nghĩa thiết yếu đối với đời
cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc [14, 74-86]. Theo Giáo
s Nguyễn Hồng Phong thì tính cách dân tộc gần nh là tất cả nội dung của
GTĐĐTT bao gồm: tính tập thể - cộng đồng; trọng đạo đức; cần kiệm, giản
dị, thực tiễn; tinh thần yêu nớc bất khuất và lòng yêu chuộng hòa bình,
nhân đạo, lạc quan [62].
Kết quả nghiên cứu của chơng trình khoa học công nghệ cấp Nhà n-
ớc: con ngời Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã
hội (KX. 07) cũng đã khẳng định: cốt lõi của các giá trị truyền thống là đạo
đức, phẩm chất, nhân cách con ngời Việt Nam bao gồm: tinh thần yêu nớc,
vì nghĩa, lòng thơng ngời [58, 32-34].
Những GTĐĐ tinh thần truyền thống dân tộc đợc nói đến khá nhiều
trong các văn kiện của Đảng. Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về: "Một số
định hớng lớn trong công tác t tởng hiện nay" ghi rõ: "Những giá trị văn
hóa truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nớc nồng nàn,
ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý "thơng ngời nh thể thơng thân", đức tính
cần cù, vợt khó sáng tạo trong lao động" [57, 19]. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ năm Ban chấp hành Trung ơng Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng
định: "Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam đợc vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn
năm đấu tranh dựng nớc và giữ nớc. Đó là lòng yêu nớc nồng nàn, ý chí tự
cờng dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia
đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý,
đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản
dị trong lối sống" [92, 56].
Qua các t liệu nêu trên có thể rút ra một số nhận xét:
7
- Trong hệ thống giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam,
GTĐĐ chiếm vị trí u trội so với các giá trị truyền thống dân tộc ta nói
chung.
qua bao thăng trầm của lịch sử, đợc bổ sung và phát triển qua từng thời kỳ,
theo yêu cầu phát triển của dân tộc và thời đại, chủ nghĩa yêu nớc là một
trong những giá trị cao quý bền vững nhất của dân tộc ta.
Truyền thống yêu nớc của dân tộc ta bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ
với lòng thơng yêu và quý trọng con ngời, nhất là ngời lao động.
Lòng thơng ngời của ông cha ta có nguồn gốc sâu xa từ trong sinh
hoạt công xã, nông thôn, chế độ ruộng công, làng cùng họ từ đời cộng đồng
nguyên thủy và đợc củng cố, phát triển qua quá trình chung lng khai phá
giang sơn, giữ gìn đất nớc.
Lòng thơng ngời là một trong những truyền thống quý báu của dân
tộc ta. Nó gắn liền với tinh thần chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm cứu
dân, cứu nớc, chống lại mọi bất công, chà đạp lên cuộc sống con ngời. Nó
thấm nhuần tình thơng yêu đùm bọc lẫn nhau giữa ngời và ngời trong sản
xuất, chiến đấu, trong sinh hoạt thờng ngày và lòng yêu chuộng hòa bình,
hữu nghị giữa các dân tộc, lạc quan tin tởng vào sức mạnh của nhân dân và
tiền đồ tơi sáng của dân tộc. Đúng nh Đại hội lần thứ V Đảng Cộng sản
Việt Nam khẳng định: "Ngời Việt Nam vốn có lòng yêu nớc thiết tha, có
tinh thần dân chủ bình đẳng trong quan hệ giữa ngời với ngời, "thơng nớc -
thơng nhà, thơng ngời - thơng mình" là truyền thống đậm đà của nhân dân
ta" [89].
Truyền thống thơng ngời của dân tộc Việt Nam đợc kết tinh cao đẹp
trong con ngời, cuộc đời và đạo đức Hồ Chí Minh. Ngời là biểu tợng sáng
chói về lòng nhân ái cho dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới noi theo.
Vì thơng nớc, thơng dân, thơng mình mà Bác đi tìm đờng cứu nớc, trải qua
9
bao gian truân thử thách, vào tù ra tội cũng vì yêu thơng con ngời. Bác nói:
"Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nớc ta hoàn
toàn độc lập, dân ta đợc hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo
mặc, ai cũng đợc học hành" [44, 161]. Từ ngày có Đảng đến nay, truyền
thống yêu nớc và dân chủ của nhân dân ta đợc nâng lên một trình độ mới và
Khiêm tốn, giản dị, trung thực, lạc quan và thủy chung là những
phẩm chất đạo đức cần phải có, là một trong những GTĐĐ của dân tộc và
con ngời Việt Nam, một trong những định hớng giá trị thuộc về lối sống
nếu ai làm trái sẽ bị xã hội lên án và phê phán.
Thật vậy, Bác Hồ của chúng ta đã dẫn lời của Dơ pu Puốc vin trong "Đây
công lý" của thực dân Pháp ở Đông Dơng nh sau: "Yêu mến quê hơng,
quyến luyến gia đình, thờ kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính
nghĩa, ham thích khoa học, thơng yêu giống nòi, tôn trọng lẽ phải, ghét xa
hoa, không ham tiền tài, khinh vũ lực, không sợ gian khổ hy sinh đó là đặc
điểm về bản tính của ngời Việt Nam đợc hình thành từ bao thế hệ, những
thế hệ luôn cố gắng thực hiện đạo đức ấy một cách thành kính. Ngời Việt
Nam bình thờng mà ta gặp ở bất kỳ ở đâu cũng đều nh vậy cả" [29, 265].
1.1.2. Những nhân tố quy định đặc điểm đạo đức của ngời phụ nữ
Việt Nam
Đạo đức phụ nữ Việt Nam không tách rời những GTĐĐTT của dân
tộc Việt Nam. Nhng đạo đức truyền thống của dân tộc đợc biểu hiện đặc
thù ở ngời phụ nữ; điều đó đợc cắt nghĩa bởi toàn bộ điều kiện sinh hoạt xã
hội của họ.
* Vai trò của phụ nữ trong sản xuất
Sản xuất vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển của xã
hội loài ngời; trong đó phụ nữ đóng vai trò to lớn.
Thuở sơ khai ban đầu, ngời ta cùng lao động chung: cùng sản xuất,
hái lợm; nhng săn bắt với kỹ thuật nguyên thủy không phù hợp với phụ nữ.
Sự phân công lao động theo giới tính phát sinh và phát triển dần trong bày
11
ngời nguyên thủy. Đó là một cơ sở để xuất hiện và tồn tại chế độ mẫu
quyền.
Kinh tế hái lợm do những ngời phụ nữ phụ trách, đảm nhiệm một
nguồn thức ăn thờng xuyên và quan trọng về số lợng cho các tập đoàn ngời
nguyên thủy. Đồng thời họ còn có vai trò quan trọng trong việc phát sinh
nguyên nhân xã hội đòi hỏi ngời phụ nữ phải tích cực tham gia vào những
khâu quan trọng, chủ yếu của nền sản xuất nông nghiệp. Sẵn có truyền
thống cần cù, đảm đang sáng tạo trong sản xuất thời nguyên thủy - một
truyền thống không đứt đoạn, do đặc điểm kéo dài thời gian quá độ từ chế
độ mẫu quyền sang xã hội phụ quyền ở buổi đầu lịch sử có giai cấp - ngời
phụ nữ Việt Nam trong thời đại các xã hội có giai cấp cũ đã kế thừa và phát
12
huy truyền thống của mình, để liên tục đảm đang việc sản xuất nông nghiệp
trong những điều kiện và hoàn cảnh mới, trên những nhu cầu và đòi hỏi mới
của lịch sử.
Sự tham gia tích cực của ngời phụ nữ vào nền kinh tế nông nghiệp
cũng đồng thời biểu lộ và chứng minh những phẩm chất tinh thần của họ.
Sẵn sàng gánh vác công việc chung, sẵn sàng vì mọi ngời mà làm việc, đây
là điểm nhận thấy đầu tiên trong đức tính truyền thống của ngời phụ nữ
Việt Nam, vì họ tham gia tích cực vào lao động sản xuất trong các xã hội
cũ. Chính vì tinh thần làm chủ và ý thức cộng đồng nh thế, mà các thế hệ
phụ nữ Việt Nam xa đã biểu lộ một tinh thần dũng cảm tuyệt vời trong khi
đảm nhiệm những công việc lao động sản xuất của mình. Dũng cảm trong ý
thức quyết vợt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp, hoàn cảnh chật hẹp, mà lễ giáo
xã hội có giai cấp trớc đây đã quy định cho chức phận chủ yếu của họ.
Dũng cảm ở chỗ năm này qua năm khác, ngày này qua ngày khác, đơng
đầu với nắng ma, sơng giá, nóng nực, bùn lầy, biến khó khăn vất vả thành
niềm vui.
Bên cạnh tinh thần dũng cảm đó là tinh thần cần cù nhẫn nại đợc
hình thành từ trong những điều kiện sản xuất khó nhọc. Chính nhờ tinh thần
cần cù nhẫn nại đó mà ngời phụ nữ có vai trò quan trọng đặc biệt trong các
hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Nh vậy, qua việc thực hiện vai trò quan trọng của ngời phụ nữ Việt
Nam trong nền sản xuất nông nghiệp theo chiều dài lịch sử, hình thành ở họ
những đức tính truyền thống quý báu: Dũng cảm, đảm đang, sáng tạo và
Chức năng sinh đẻ và nuôi dạy con cái cùng những công việc trong
nhà của ngời phụ nữ nguyên thủy rõ ràng là mang tính chất xã hội. Nó là
một trong những cơ sở quan trọng để nâng cao vai trò và địa vị của ngời
phụ nữ trong xã hội mẫu quyền.
Trong xã hội phong kiến, các gia đình Việt Nam xa, thời gian từ tấm
bé đến khi trởng thành ngời phụ nữ phải thực hiện những nghĩa vụ và trách
nhiệm của con ngời. ở đây có những nghĩa vụ và trách nhiệm đối với cha
mẹ - và họ hàng thân thuộc.
Ngay từ thời gian rất sớm, đứa con gái đã đợc giao phó những công
việc theo hớng chức nghiệp chủ yếu của cả một đời ngời phụ nữ "gái thì giữ
việc trong nhà": lên năm, lên bảy - quét nhà, rửa bát; lên bảy lên tám - đun
14
nớc, trông em; lên chín lên mời - nấu cơm, thổi cám Lớn lên chút nữa, các
cô gái nhỏ bắt đầu đợc giao phó những công việc quan trọng hơn. Ngoài
việc tập tành quán xuyến tất cả mọi việc trong nhà, còn phải tham gia sản
xuất: hoặc làm ruộng, hoặc làm một nghề thủ công, chủ yếu là nghề dệt,
hoặc là buôn bán nhỏ. Đây là thời kỳ cô gái dốc sức "làm giàu cho cha" và
sửa soạn "làm dâu nhà ngời". Rời nhà cha mẹ để về ở nhà chồng, thời gian
này ngời phụ nữ phải vừa tiếp tục làm nghĩa vụ và trách nhiệm của ngời con
trong gia đình mới, vừa nhận thêm nghĩa vụ và trách nhiệm của ngời vợ. Vì
vậy, ngời phụ nữ phải có rất nhiều nghị lực và khả năng mới làm tròn đợc
nghĩa vụ và trách nhiệm nặng nề. Ngời phụ nữ phải quán xuyến toàn bộ
công việc trong nhà của gia đình chồng, vừa tham gia sản xuất vừa phải kín
đáo chăm sóc và phục vụ ngời chồng của mình.
Khi đã sinh con đẻ cái ra "ở riêng", ngời phụ nữ có một gia đình của
mình. Từ đây, cho đến lúc về già, nhắm mắt, ngời phụ nữ chủ yếu làm nghĩa
vụ và trách nhiệm của ngời vợ, ngời mẹ. Vai trò của ngời phụ nữ bấy giờ
chính thức là vai trò của một ngời "nội tớng". Ngoài việc cùng với chồng
lao động sản xuất để bảo đảm kinh kế cho gia đình, ngời phụ nữ còn phải
quán xuyến hầu hết công việc trong nhà mình: cơm nớc, chợ búa, tiền nong,
gia đình của ngời phụ nữ xa là tinh thần đảm đang tuyệt với của họ. Đảm
đang trớc hết bởi khối lợng công việc rất lớn và vô cùng phức tạp mà ngời
phụ nữ xa phải tự lo toan, định liệu. Đảm đang còn bởi cái khối lợng "công
việc trong nhà" bề bộn phức tạp đó lại đã đợc ngời phụ nữ Việt Nam xa
gánh vác trong hoàn cảnh rất khó khăn. Trong tình hình nghèo khó chung
của các xã hội có giai cấp cũ, "cái khó bó cái khôn", ngời phụ nữ đã phải rất
tích cực "giật gấu vá vai" để đảm nhiệm chức năng "nội tớng" của mình.
Có nguồn gốc từ một nền kinh tế hái lợm xa xa, sự "tần tảo" rất
nhanh chóng trở thành quen thuộc đối với ngời phụ nữ Việt Nam. Tần tảo là
đức tính đi kèm với tinh thần đảm đang của các thế hệ phụ nữ Việt Nam xa,
chịu thơng chịu khó, sớm tối lam làm, suốt đời cần kiệm để gánh vác gia
đình.
Để có thể đảm đang một khối lợng công việc lớn và phức tạp, ngời
phụ nữ xa còn rất khéo léo và thông minh, có đầu óc thực tiễn, biết tính toán
căn cơ, khéo chân khéo tay.
Trong suốt các thế kỷ của các xã hội có giai cấp ngày xa, các thế hệ
phụ nữ Việt Nam còn biểu lộ rất rõ đức tính trung hậu cao quý. Ngời phụ
16
nữ Việt Nam là những ngời vốn sẵn có những tình cảm trong sáng và thắm
thiết: Đó là lòng trung thành trọn vẹn, thủy chung nh nhất.
"Yêu anh cốt rũ xơng mòn
Yêu anh đến thác vẫn còn yêu anh
Đặc biệt là tinh thần quên mình vì những ngời thân yêu.
"Có con phải khổ vì con
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng".
Trong khi nêu tấm gơng sáng về lòng vị tha, tinh thần hy sinh nh thế
ngời phụ nữ Việt Nam xa cũng biểu lộ những đức tính khiêm tốn, giản dị.
Ngời phụ nữ có mặt ở khắp mọi nơi, mọi việc trong gia đình, nhng về mặt
quyền lợi lại dờng nh vắng mặt, không tồn tại trong gia đình, không bao giờ
đòi hỏi cho mình điều gì.
khoát biểu thị thái độ của mình: "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh".
Trong thời gian đô hộ nớc ta, giặc Minh cũng đã mổ bụng đàn bà có
thai, giết chết cả mẹ lẫn con, cắt tai đem nộp chủ tớng (năm 1409). Tớng
giặc Trơng Phụ đã bắt phụ nữ Việt Nam đa về nớc (năm 1414). Đấy là
những tội ác "trời không dung đất không tha, thần và ngời đều căm giận"
nh lời dạy của Nguyễn Trãi đã viết ngày xa. Trớc tai họa trực tiếp đó, nếu
không muốn cho giặc tiếp tục hoành hành, ngời phụ nữ xa chỉ có con đờng
quyết liệt đấu tranh.
Truyền thống đánh giặc của phụ nữ Việt Nam đợc khơi dậy từ rất
sớm bởi những phụ nữ kiệt xuất hai Bà Trng, Bà Triệu và sau này vẫn đợc
phụ nữ trong hàng ngũ quý tộc cùng những phụ nữ bình thờng từ thế hệ này
qua thế hệ khác tiếp tục góp phần kế thừa làm cho truyền thống đánh giặc
giữ nớc quý báu đó đợc phát triển mạnh mẽ và liên tục.
Trong truyền thống đánh giặc của ngời phụ nữ xa, khí phách anh
hùng cũng đợc biểu lộ ở tinh thần dũng cảm và ý chí bất khuất rất kiên cờng
trong chiến đấu. Những ngời vẫn bị coi là "chân yếu tay mềm" trang bị bằng
18
những vũ khí tinh thần không gì sánh nổi là lòng yêu nớc, chí anh hùng, đã
trở nên mạnh mẽ để lập nên những kỳ tích làm rạng rỡ non sông.
Qua hàng nghìn năm lịch sử, vai trò của phụ nữ trong sản xuất, trong
gia đình và xã hội đã hun đúc nên những đức tính truyền thống cao đẹp:
tinh thần yêu nớc, ý thức dân tộc, trung hậu đảm đang, anh hùng bất khuất
kiên cờng, tần tảo cần cù thông minh sáng tạo, nhẫn nại, khiêm tốn giản dị,
giàu lòng vị tha, đức hy sinh Những truyền thống quý báu đó là sức mạnh,
là điểm tựa tinh thần để phụ nữ hiện đại vơn lên đáp ứng yêu cầu của lịch sử
dân tộc.
1.1.3. Những giá trị đạo đức cơ bản của phụ nữ Việt Nam trong
lịch sử dân tộc
Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc, phụ nữ Việt Nam đã tạo nên biết
bao truyền thống tốt đẹp, trong đó những GTĐĐ là cơ bản.
Truyền thống yêu nớc là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ
cổ đại đến đơng đại.
Truyền thống yêu nớc đợc hình thành rất sớm từ buổi đầu dựng nớc
và giữ nớc. Truyền thống đó của phụ nữ Việt Nam càng đợc phát huy mạnh
mẽ trong quá trình cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Yêu
nớc thiết tha và sẵn sàng hy sinh vì nớc, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã
đem tinh thần truyền thống ấy phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc. "Phụ nữ Việt Nam đã có mặt ngay từ đầu dới ngọn cờ đấu tranh
của Đảng đã sát cánh cùng nam giới chống đế quốc phong kiến, cung cấp
cho phong trào nhiều chiến sĩ cách mạng u tú, ghi vào lịch sử đấu tranh của
nhân dân ta tấm gơng chói lọi của biết bao anh hùng liệt sĩ và trải qua bao
chặng đờng gian khổ, đã góp phần vẻ vang vào thành công của Cách mạng
tháng Tám, lập nên nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa" [9].
20
Truyền thống nói chung, truyền thống đạo đức nói riêng của phụ nữ
Việt Nam đợc Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết bằng tám chữ vàng: "Anh
hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".
* "Anh hùng, bất khuất" là những giá trị đạo đức cao cả của phụ nữ
Việt Nam. Vì yêu nớc nên ngay buổi đầu giữ nớc, phụ nữ Việt Nam đã
đứng lên chống giặc ngoại xâm, biểu lộ một tinh thần dũng cảm và ý chí bất
khuất rất kiên cờng trong chiến đấu, nh Bà Trng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân
Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nớc, phụ nữ cả hai miền Nam, Bắc
siết chặt hàng ngũ thành một khối vững chắc, kề vai sát cánh trong nỗi
thông cảm sâu sắc của những ngời ở tiền tuyến lớn và hậu phơng lớn cùng
chiến trờng đánh Mỹ.
ở tiền tuyến lớn, phụ nữ miền Nam đã nêu cao khí phách anh hùng
bất khuất của mình qua mọi hình thức đấu tranh. Đấu tranh vũ trang, đấu
tranh chính trị, binh vận lĩnh vực nào chị em cũng tỏ rõ tinh thần anh
dũng, ý chí quật cờng của ngời phụ nữ Việt Nam làm rạng rỡ thêm truyền
thống anh hùng từ xa xa của giới mình. Với những thử thách hết sức gay go
hội; đảm đang gánh vác công việc gia đình cho chồng, con đi chiến đấu
Bên cạnh đó các thế hệ phụ nữ Việt Nam xa còn biểu lộ rất rõ đức tính
trung hậu cao quý.
Yêu nớc, trung kiên với nớc: "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh"; yêu
chồng, chung thủy sắt son với chồng: "Chồng em áo rách em thơng. Chồng
ngời áo gấm xông hơng mặc ngời".
Tinh thần đó của phụ nữ Việt Nam xa đợc nâng cao trong phong trào
cách mạng dới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong công cuộc xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất đất nớc,
phụ nữ hai miền Nam, Bắc thể hiện rất rõ truyền thống nói trên.
Phụ nữ miền Bắc đã vợt qua khó khăn gian khổ đảm đang trên mặt
trận sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực khác, nhằm phục hồi nền kinh tế
và phát triển văn hóa, góp phần hoàn thành thắng lợi việc hàn gắn vết thơng
chiến tranh, tạo cơ sở để đa miền Bắc tiến lên CNXH. Ngoài việc đảm đang
trong sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, chị em phụ nữ miền
Bắc còn đảm đơng công việc quản lý xã hội. Nhiều phụ nữ tiên tiến đã đảm
nhiệm những cơng vị phụ trách các ngành các cấp từ cơ sở đến trung ơng,
củng cố và tăng cờng hiệu quả và tích cực u việt của chính quyền và bộ máy
quản lý kinh tế của chế độ XHCN.
22
Lúc ấy, phụ nữ miền Nam trong hoàn cảnh khó khăn nhất, vẫn một
lòng hớng về cách mạng. Kẻ thù không sao lay chuyển nổi lòng trung thành
và niềm tin tởng vững vàng vào Đảng, vào sự tất thắng của cách mạng Việt
Nam. Những ngời phụ nữ miền Nam đã giữ trọn đợc bản sắc dân tộc, nền
phong hóa, đạo đức cổ truyền của mình và còn phát triển lên một bớc rất
cao. Có những ngời vợ trẻ tiễn chồng đi tập kết, đi chiến đấu, rồi gần nh cả
cuộc đời quên mình, lăn lộn trong sản xuất và chiến đấu, mong ngày chiến
thắng gặp lại ngời yêu
Đấy là những biểu hiện chói ngời của lòng trung hậu tuyệt vời của
phụ nữ miền Nam trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất n-
đang gia đình", đảm đang phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu". Chiến
tranh nổ ra, lập tức sức ngời, sức của phải dồn một phần lớn vào cuộc chiến đấu.
Những công việc hậu phơng do đó phải đảm bảo thực hiện trong điều kiện hết sức
căng thẳng về nhân công, nhân lực. Phụ nữ ở khắp nơi là lực lợng chủ yếu giải
quyết tình trạng nhân công, nhân lực căng thẳng đó. Hàng triệu phụ nữ đã đứng ra
gánh vác việc sản xuất và công tác, và đã lập nên những kỳ tích với tinh thần đảm
đang thay thế nam giới đi chiến đấu. Đây cũng là cách đánh Mỹ, cách biểu hiện
tinh thần đánh giặc của họ. Phụ nữ không phải chỉ có đứng ra thay thế nam giới làm
tất cả các công việc mà còn tự đảm nhiệm lấy việc quản lý và lãnh đạo của mình.
Từ thực tế của phong trào phụ nữ quản lý và lãnh đạo các công việc, chỉ trong vài
năm chống Mỹ, cứu nớc, đã hình thành một đội ngũ cán bộ phụ nữ rất đông đảo ở các
ngành các cấp.
Đảm đang công việc gia đình vốn là truyền thống lâu đời của phụ nữ ta. Nh-
ng trong hoàn cảnh mới ngời phụ nữ phải chủ động đa thanh niên trong gia đình ra
mặt trận, và vừa đảm nhiệm công việc hậu phơng, vừa gánh vác, xây dựng tổ chức
gia đình theo yêu cầu mới đó là nét đặc sắc trong việc đảm đang thứ hai: đảm
đang gia đình, khuyến khích chồng con anh em đi chiến đấu. Đã có biết bao ngời
vợ, ngời yêu tự tay viết đơn xin cho chồng đi nhập ngũ giết giặc. Đảm đang gia
đình cho chồng con đi đánh giặc, vừa gánh vác công việc hậu phơng, vừa chăm sóc
những thành viên nhỏ tuổi trong gia đình, những ngời phụ nữ đã biểu lộ một tinh thần
tự tin, một nghị lực vững vàng, một nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ của mình đối
với xã hội.
Và từ đó mà tình thơng yêu đùm bọc, tinh thần tập thể và đoàn kết, đức
24
tính hy sinh của ngời phụ nữ đợc nảy nở mạnh mẽ và phát huy cao độ. Có những ngời
mẹ ở khắp nơi, những ngời hầu nh đã coi toàn bộ cuộc đời mình là cuộc sống của
chồng con:
"Xa tiễn chồng đi cứu nớc rời rợi tóc xanh
Giờ lại tiễn con đi rung rinh đầu bạc" [37].
Rất nhiều phụ nữ đã bình tĩnh trầm lặng hiến dâng cho tổ quốc những ng-
tập thể và đồng đội rất cao của những ngời phụ nữ vốn đã mang truyền thống yêu nớc
nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc, cùng với lòng thiết tha gắn bó với CNXH.
Nh thế "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" - những phẩm chất quý
25