Chữ “Tín” trong kinh doanh
Chữ Tín trong " Từ điển tiếng Việt”, được giải thích
là tin thực, không gian dối. Còn chữ Tín trong kinh
doanh được hiểu như thế nào? Trong đời thường
cũng như trong kinh doanh, Tín chính là lòng tin
(chí ít) giữa hai chủ thể - người này với người khác
doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác rộng hơn
là giữa một người với nhiều người, một doanh
nghiệp với nhiều doanh nghiệp Không phải ngẫu nhiên mà ta có được niềm tin
trong bạn bè hay doanh nghiệp này có uy tín với doanh nghiệp kia.
Chữ Tín được bắt đầu từ những cam kết. Giữa hai người đã hứa hẹn với nhau, cho
dù khó khăn cản trở nhưng vẫn làm đúng những gì đã hứa. Vậy là ta đã có chữ Tín
với bạn. Giữa các doanh nghiệp thì cam kết chính là Hợp đồng kinh tế. Nó bao
gồm nhiều điều khoản mà quan trọng nhất (với doanh nghiệp thực hiện) là giá cả,
số lượng, chất lượng và thời hạn giao hàng. (Xin chỉ bàn về những gì phải làm để
có được chữ Tín).
Trong cơ chế thị trường, mọi thứ hàng hóa đều được niêm yết giá nhưng giá cả thì
biến động. Như vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn cập nhật thông tin từ giá cả,
nguồn cung cấp nguyên liệu, phụ liệu, nhiên liệu, cho đến đơn giá nhân công và
các loại chi phí mà không chỉ ở trong nước. Từ đây mới xây dựng được cơ cấu
giá thành sản phẩm và đưa ra được đơn giá ký kết (giá bán) trong Hợp đồng. Để
đảm bảo số lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng thì bộ phận kế hoạch phải nắm
vững năng lực sản xuất của doanh nghiệp (nhân công và tay nghề, trang thiết bị,
nhà xưởng ) cùng các điều kiện khách quan (điện, nước, nhiên liệu, nguồn cung
cấp ). Từ đây sẽ lên được tiến độ thực hiện. Nếu giao hàng đúng tiến độ, đủ số
lượng, đảm bảo chất lượng thì doanh nghiệp đã xây dựng được những chữ Tín đầu
tiên với khách hàng.
Với các doanh nghiệp thương mại còn có phương thức kinh doanh hậu mãi. Nghĩa
khoản về chất lượng sản phẩm trong Hợp đồng. Ngày xưa thì ù xọe được vì ta chưa
hội nhập, còn ngày nay, nhất là khi Việt Nam vào WTO, thì việc tiêu chuẩn hóa và
kiểm tra chất lượng sản phẩm quá dễ dàng. Mọi tranh chấp không giải quyết được
sẽ bị đưa ra Toà án nên sẽ không có chốn nương thân cho việc lừa đối trong kinh
doanh. Nếu doanh nghiệp nào cố tình lừa dối thì khó mà làm được đến lần thứ hai.
Nguy hiểm hơn chính họ đã làm mất đi chữ Tín của mình.
Nói đến chữ Tín làm tôi nhớ ngay đến một thói quen của người Việt ta. Chuyện là
doanh nghiệp tôi đặt báo thông qua một doanh nghiệp dịch vụ. Lúc ban đầu, họ
giao báo rất tốt, nhưng được dăm ba tháng thì thấy thiếu báo hoặc giao trễ. Khi hỏi
thì được trả lới: "Bác thông cảm vì bác đặt nhiều loại báo độc quá", hay "Vì chúng
em mới thay nhân viên đưa báo nên gây thất thoát. Mong bác thông cảm”!. Ở ta lâu
nay quen sử đụng hai từ thông cảm để biện minh cho việc mình thực hiện không
đúng cam kết. Tại sao lại thông cảm khi việc làm sai của ông đang gây thiệt hại
cho tôi?
Việc tuân thủ nghiêm chỉnh những cam kết không chỉ giời hạn trong trách nhiệm
của ban Giám đốc, Nhà quản lý mà còn là trách nhiệm của từng cán bộ, công nhân
viên. Hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa doanh nghiệp và khách hàng phải được coi
là pháp lệnh mà mọi người phải thực hiện. Mọi kế hoạch lập ra vẫn chỉ là lý thuyết
vì thực tế luôn phát sinh những trục trặc làm ảnh hưởng tời tiến độ giao hàng. Vì
vậy, việc giãn ca, làm thêm giờ trong các xí nghiệp may xuất khẩu là “chuyện
thường ngày". Dĩ nhiên sẽ kèm theo việc tăng chi phí cho người lao động (thậm chí
lương trong ngày nghỉ phải tính với hệ số 2), tăng chi phí quản lý, chi phí điện,
nước cho sản xuất. Như vậy sẽ làm giảm đáng kể lợi nhuận nhưng doanh nghiệp
vẫn phải làm.
Một ví dụ khác trong kinh doanh luôn có rủi ro mà Giám đốc doanh nghiệp phải
tính đến. Với ngành may, vào mùa khô phải lường đến việc bị cắt điện đột xuất.
Nếu không có phương án dự phòng thì sẽ không có đủ sản phẩm để giao hàng. Và