GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của chuyên đề
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện đang là xu hướng phát triển tất yếu của
thời đại và là yêu cầu khách quan đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của một
nước. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực như: trao
đổi hàng hóa, dịch vụ, chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia và khu vực, lưu
chuyển vốn quốc tế… tạo điều kiện cho các quốc gia có thể hợp tác, trao đổi kinh
nghiệm, kỹ thuật công nghệ… trong hoạt động kinh doanh. Trong lĩnh vực ngân
hàng, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới của hệ
thống ngân hàng VN, tạo điều kiện trao đổi kinh nghiệm về vốn, kinh nghiệm quản
lý, công nghệ, hoạch định chính sách tiền tệ… Từ đó có giải pháp phòng ngừa hoặc
giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao uy tín kinh doanh trên thị
trường tài chính quốc tế. Tuy nhiên sự xâm nhập ngày càng sâu rộng của ngân hàng
nước ngoài vào thị trường Việt Nam, cũng như những cam kết về mở cửa khu vực
ngân hàng trong tiến trình hội nhập đã làm cho cuộc cạnh tranh giữa các NHTM tại
Việt Nam ngày càng trở nên gây gắt và khốc liệt hơn.
Ngân hàng ngoại thương Việt Nam là một trong những ngân hàng thương mại hàng
đầu ở Việt Nam. Tuy vậy, hiện nay trước bối cảnh thực hiện lộ trình mở cửa hội nhập
kinh tế quốc tế thì quả thực hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và
ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam nói riêng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức
lớn. Năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các dịch vụ Ngân
hàng hết sức hạn chế. Chính vì vậy, bằng cách nào, biện pháp nào, và giải pháp nào
để mở rộng dịch vụ đang là bài toán lớn mà các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
nói chung và ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam nói riêng cần phải giải quyết
Là một Chi nhánh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Ngoại
thương Hà Nội cũng đang trong quá trình tìm kiếm những giải pháp tốt nhất để có thể
mở rộng dịch vụ ngân hàng. Do đó đề tài: “ mở rộng cung ứng dịch vụ ngân hàng
tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội ” được chọn để nghiên cứu
2. Mục đích nghiên cứu
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm và đặc điểm dịch vụ của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho
những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho người
cầm giữ hộ một khoản tiền công. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu
cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có
tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền. Ngân hàng là một định chế tài chính
trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá
nhân và tổ chức vay lại và rất hiếm khi có tình trạng cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi
đến đòi nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của
ngân hàng. Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: ngân hàng
thương mại và ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng có nhiệm vụ cơ bản nhất là huy
động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ
chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng
thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt, "vốn- tiền". Ngân
hàng trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn và phần chênh lệch lãi
suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại.. Hoạt động của ngân hàng
thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân cư, loại hình
doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
Khác hẳn với ngân hàng thương mại, ngân hàng Nhà nước (ngân hàng Trung
ương) không hoạt động vì mục đích lợi nhuận và cũng không kinh doanh tiền tệ. Mỗi
một quốc gia chỉ có một ngân hàng Nhà nước duy nhất - có thể gọi là ngân hàng mẹ
có chức năng phát hành tiền, quản lý, thực thi và giám sát các chính sách tiền tệ và có
rất nhiều ngân hàng thương mại - có thể coi là các ngân hàng con có chức năng thực
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
3
4
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Trong cuốn nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, David Cox cho rằng “ hầu hết các hoạt
động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại gọi là dịch vụ ngân hàng hoặc là cơ sở
điều kiện để mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng” Ông cũng giải thích: “ mọi
ngân hàng hoạt động với 3 chức năng cơ bản là nhận và giữ các khoản tiền gửi, cho
phép rút tiền và vận hành hệ thống chuyển tiền, cho vay các khoản tiền gửi tới khách
hàng có nhu cầu vay vốn. Đây là chức năng cơ bản nhất, nhưng bước sang đầu những
năm 90 hệ thống ngân hàng hiện đại còn có các dịch vụ khác rộng rãi hơn, tinh vi hơn
nhiều. Trên thực tế, một ngân hàng lớn thường có khoảng 300 dịch vụ khác nhau cho
khách hàng là các cá nhân hay doanh nghiệp”
Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai khía cạnh sau:
Theo nghĩa rộng: Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng,
thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với doanh nghiệp và công chúng.
Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vực dịch vụ ngân hàng
trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia. Quan niệm này phù
hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng như nhiều nước phát triển.
Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức
năng truyền thống của định chế tài chính trung gian (nhận tiền gửi và cho vay). Quan
niệm này được dùng khi xem xét hoạt động của một ngân hàng cụ thể để đưa ra
những nhận định về các dịch vụ mới phát triển như thế nào và cơ cấu của nó trong
toàn bộ hoạt động của ngân hàng.
Trong bài này, dịch vụ ngân hàng được xem xét theo nghĩa hẹp, không bao
hàm hoạt động truyền thống của ngân hàng thương mại như huy động vốn và cho
vay. Các dịch vụ ngân hàng được đề cập ở đây là các hoạt động gắn liền với việc thu
phí, hưởng hoa hồng do các ngân hàng thương mại thực hiện thông qua việc phục vụ
các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân nhằm tăng nguồn thu cho ngân hàng.
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Bốn là, hoạt động dịch vụ ngân hàng đòi hỏi cơ sở hạ tầng phải tương xứng.
Các ngân hàng thương mại không thể triển khai hoạt động dịch vụ phục vụ khách
hàng nếu cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu. Hoạt động này gắn liền với sự phát triển
của công nghệ hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ năng
động, nhiệt tình và thành thạo trong các hoạt động nghiệp vụ cũng là đòi hỏi của hoạt
động dịch vụ ngân hàng.
Năm là, Các dịch vụ ngân hàng mang tính hỗ trợ cao, có mối liên kết chặt chẽ
với nhau. Sự ra đời và phát triển dịch vụ này là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của
dịch vụ khác. Ví dụ: Dịch vụ thanh toán quốc tế phát triển đã đẩy mạnh sự phát triển
của dịch vụ mua bán ngoại tệ.v.v…Điều này đã tạo nên sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các
dịch vụ trong sự phát triển dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng có thể cung cấp những dịch
vụ trọn gói cho khách hàng.
1.1.3 Các dịch vụ ngân hàng chủ yếu
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh
nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài
chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả. Một số
dịch vụ ngân hàng cơ bản như sau:
1.1.3.1 Nhận tiền gửi
Đây là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất đối với hoạt động kinh
doanh của một ngân hàng thương mại. Hoạt động nhận tiền gửi giúp ngân hàng có
được nguồn vốn để từ đó thực hiện các hoạt động kinh doanh khác, đặc biệt là nghiệp
vụ cho vay.
Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của
khách hàng. Khách hàng có những khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa có nhu cầu sử
dụng có thể gửi vào ngân hàng trong khoảng thời gian ngắn hoặc dài tuỳ nhu cầu dự
kiến sử dụng trong tương lai và họ nhận được lãi suất từ khoản tiền gửi đó như là
phần thưởng về việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân
hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh. Vì đây là một nguồn vốn quan trọng nên cuộc
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Trong giai đoạn đầu các ngân hàng không nhiệt tình cho vay đối với các cá
nhân và hộ gia đình do họ nghĩ rằng các khoản cho vay tiêu dùng thường có mức sinh
lời không cao và nhiều rủi ro. Song sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự
cạnh tranh trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là những
khách hàng tiềm năng. Và từ sau chiến tranh thế giới thứ II, tín dụng tiêu dùng đã trở
thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất.
Cho vay tài trợ dự án
Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây
dựng nhà máy mới đặc biệt là trong ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình
này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện qua một công ty đầu tư cùng
với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẽ rủi ro.
Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (leasing)
Hiện nay, rất nhiều ngân hàng cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn
mua các thiết bị, máy móc thông qua hợp đồng thuê mua, theo đó ngân hàng mua
thiết bị và cho khách hàng thuê. Các ngân hàng phát triển nghiệp vụ này để phục vụ
cho những khách hàng không đủ điều kiện vay như một biện pháp bảo đảm an toàn
vốn do tài sản trong thời gian thuê vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng. Tuy nhiên hợp
đồng cho thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị
của tài sản cho thuê. Do vậy cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như
cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Trong những năm đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, khả năng huy động
vốn và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành tâm điểm chú ý của
các Chính phủ. Do vậy, thông thường ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với
điều kiện là phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng
tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Đây chính là hình thức tài trợ cho khoản bội
chi ngân sách (đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh thế giới hay khủng hoảng kinh tế).
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
9
Đây là thể thức thanh toán phức tạp, chậm, rườm rà và không phù hợp với
hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, chỉ phù hợp với kho bạc Nhà
nước hoặc là thủ tục áp dụng trong việc mua bán với nước ngoài.
Uỷ nhiệm chi
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của
ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản của mình để trả cho
người thụ hưởng.
Thanh toán bằng thẻ
Theo cách thức này chủ thẻ có thể thanh toán tiền mua hàng hoá, chi trả tiền
dịch vụ qua máy đọc thẻ POS hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động ATM.
Công nghệ thanh toán thẻ với nhiều ưu việt nổi trội của nó so với thanh toán bằng
tiền mặt như không lãng phí vốn trong nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro, thuận tiện cho
khách hàng đặc biệt là những người hay phải đi xa…nên thẻ thanh toán đã nhanh
chóng đi vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Thẻ là một sản phẩm dịch vụ có nhiều tiện ích, an toàn dựa trên cơ sở sở công
nghệ hiện đại được ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm hạn chế việc thanh
toán bằng tiền mặt khi mà dân số ngày càng tăng, khối lượng giao dịch ngày càng
lớn. Đồng thời đây cũng là loại hình dịch vụ làm tăng thêm nguồn thu nhập và khả
năng cạnh tranh cho ngân hàng.
Các ngân hàng thường phát hành thẻ của ngân hàng mình với các loại như thẻ
từ, thẻ chíp, thẻ thông minh…Ngoài ra, còn có những tổ chức thẻ Quốc tế như Visa,
Amex, Master…với các sản phẩm thẻ như Visa, Amex, Mastercard …Dịch vụ thẻ đã
được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Số lượng thẻ đã phát hành
và đang sử dụng vào khoảng trên 2 tỷ, với trên 21 triệu đại lý chấp nhận thanh toán
thẻ, hơn 700.000 máy rút tiền tự động ATM trên thế giới.
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
11
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Ở Việt Nam, hoạt động thanh toán thẻ mới chỉ được triển khai từ đầu những
năm 90 với sự đi đầu của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Song cho đến nay đã
1.1.3.5 Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên
có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo
lãnh.
Bảo lãnh ngân hàng gồm các loại cơ bản sau:
Bảo lãnh dự thầu
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh thanh toán
Bảo lãnh bảo hành
Bảo lãnh hoàn trả tạm ứng
Bảo lãnh vay vốn
Các loại bảo lãnh khác…
1.1.3.6 Dịch vụ tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính nên các ngân hàng có rất nhiều chuyên
gia có kinh nghiệm về quản lý tài chính. Ngân hàng cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên
nhu cầu của khách hàng và đội ngũ chuyên gia tài chính của mình. Ngân hàng có thể
tư vấn về thuế, tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán và sáp
nhập doanh nghiệp, tư vấn về công nghệ, về thị trường cho các doanh nghiệp trên cơ
sở quan hệ với khách hàng và thông tin về thị trường, về công nghệ.
1.1.3.7 Dịch vụ bảo hiểm
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
13
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Loại hình dịch vụ này nhằm đảm bảo cho khách hàng thanh toán nợ trong
trường hợp tử vong, thương tật hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh
toán. Tuy nhiên, tuỳ theo quy định của từng quốc gia cũng giới hạn các ngân hàng
thực hiện dịch vụ này như phải thành lập công ty bảo hiểm trực thuộc ngân hàng hoặc
chỉ cung cấp bảo hiểm theo một tỷ lệ nhất định so với vốn chủ sở hữu ngân hàng.
1.1.3.8 Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong thị
trường tài chính hiện nay, việc trao đổi này là hoạt động thường xuyên và có quy mô
ngày càng mở rộng gắn với hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế. Các ngân hàng
thực hiện dịch vụ này với mục đích:
Cung cấp phương tiện trao đổi cho khách hàng
Thu lợi từ kết quả dự báo diễn biến tỷ giá sẽ tăng trong tương lai
Gửi tại ngân hàng nước ngoài, tổ chức tài chính quốc tế để hưởng chênh
lệch lãi suất giữa thị trường trong và ngoài nước.
1.2 Sự cần thiết của việc mở rộng cung ứng dịch vụ ngân hàng và các xu hướng
phát triển của dịch vụ ngân hàng
1.2.1 Sự cần thiết của việc mở rộng cung ứng dịch vụ ngân hàng
1.2.1.1 Nhu cầu xuất phát từ chính ngân hàng
- Trước hết, mở rộng cung ứng dịch vụ ngân hàng đem lại thu nhập cho ngân
hàng. Hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng
thu nhập của ngân hàng thông qua việc thu phí, chênh lệch giá, hoa hồng…
Nếu hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu nhập từ chênh lệch lãi suất cho vay
và lãi suất đầu vào thì các hoạt động dịch vụ thu nhập được hình thành từ phí dịch vụ,
chênh lệch giá, hoa hồng… (gọi chung là phí dịch vụ).
Một số dịch vụ không đem lại nguồn thu trực tiếp cho ngân hàng nhưng lại
nhằm thúc đẩy sự phát triển dịch vụ khác hoặc tăng sức cạnh tranh của ngân hàng
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
15
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
nhằm lôi kéo khách hàng, như vậy những dịch vụ này đã gián tiếp làm tăng thu nhập
cho ngân hàng.
Hoạt động dịch vụ thường đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng cả về mặt vật
chất và uy tín nên đây được coi là một lĩnh vực kinh doanh hiệu quả thu hút các ngân
hàng thương mại hiện đại trên thế giới.
- Thứ hai, mở rộng cung ứng dịch vụ ngân hàng nhằm phân tán và hạn chế rủi
ro. Hoạt động dịch vụ được xếp vào những lĩnh vực kinh doanh tương đối an toàn, có
qua đó các dịch vụ ngân hàng cũng sẽ có những bước phát triển tương ứng.
+ Các hoạt động giao thương quốc tế ngày càng phát triển làm gia tăng nhu
cầu thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
+ Số lao động di cư giữa các quốc gia tăng lên nên nhu cầu chuyển tiền cũng
như thanh toán qua ngân hàng có chiều hướng tăng cao.
- Thứ ba, mở rộng cung ứng dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện cho ngành dịch
vụ khác phát triển. Chẳng hạn, lĩnh vực xuất nhập khẩu sẽ bị hạn chế nếu dịch vụ
thanh toán qua ngân hàng không thông suốt. Đồng thời, dịch vụ thanh toán phát triển
đòi hỏi lĩnh vực công nghệ thông tin cũng phải phát triển. Các ngành như du lịch, bưu
chính viễn thông, hàng không, …cũng sẽ phát triển theo.
1.2.2 Các xu hướng phát triển dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế
Theo ông Nguyễn Đức trên báo Vneconomy, dịch vụ ngân hàng tại nước ta phát triển
theo 3 xu hướng sau:
Một là, phát triển các dịch vụ trên thị trường tài chính, chủ yếu trên thị trường
chứng khoán. Một điều rõ nét và dễ nhận thấy đó là đến nay đã có 15 ngân hàng
thương mại thành lập và đưa vào hoạt động có hiệu quả công ty chứng khoán trực
thuộc. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cũng phối hợp với các công ty chứng
khoán thực hiện dịch vụ cho vay cầm cố cổ phiếu, cầm cố chứng khoán để đầu tư
chứng khoán. Một số ngân hàng thương mại còn liên doanh với một số định chế tài
chính nước ngoài thành lập Quỹ đầu tư chứng khoán, như: Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín,... Đặc biệt cuối tháng 4/2007, Ngân hàng
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
17
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã công bố ngân hàng này cùng với 6 tập đoàn, tổng
công ty lớn khác trong nước thành lập một Công ty quản lý quỹ công nghiệp và năng
lượng lớn nhất Việt Nam, với số vốn lên tới 10.000 tỷ đồng, tương đương với 625
triệu USD. Bên cạnh đó, một số ngân hàng thương mại khác còn triển khai nghiệp vụ
đình, xe du lịch kinh doanh, xe vận tải,... được phối hợp với các đại lý bán xe và dựa
trên thu nhập, tài sản đảm bảo tiền vay của người mua xe ô tô, với thời hạn được vay
lên tới 4 -5 năm và số tiền vay tương ứng với 60% đến 90% giá mua xe. Dịch vụ mua
nhà trả góp cũng đang phát triển mạnh tại các đô thị, được đông đảo các cặp gia đình
trẻ có thu nhập khá và ổn định hoan nghênh, với thời hạn vay tối đa lên tới 10 -15
năm...
Gia tăng tính tiện lợi về dịch vụ tài khoản cho khách hàng dựa trên công nghệ
ngân hàng hiện đại: Nhiều ngân hàng thương mại, như: ACB, Eximbank,
Vietcombank cung cấp dịch vụ ngân hàng Internet Banking, Mobile Banking,... cho
chủ tài khoản.
Ba là, mở rộng các dịch vụ ngân hàng quốc tế. Điển hình và tiêu biểu nhất
trong lĩnh vực này là mới đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã chấp thuận cho 3
ngân hàng thương mại được thực hiện dịch vụ kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước
ngoài, đó là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn, Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Phương Nam và Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL. Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Kỹ thương cũng đang cung cấp dịch vụ Option về kinh doanh cà phê kỳ hạn
trên thị trường London cho nhiều doanh nghiệp trong nước. Các dịch vụ ngân hàng
khác, như: bao thanh toán - Factoring, quyền chọn tiền tệ - option, hoán đổi lãi suất,...
cũng được nhiều ngân hàng thương mại giới thiệu cho khách hàng. Hiện nay, Hiệp
hội Bao thanh toán quốc tế có 200 thành viên ở 60 quốc gia thì Việt Nam có 11 ngân
hàng đã được cấp phép thực hiện dịch vụ bao thanh toán, bao gồm 4 ngân hàng
thương mại trong nước: Vietcombank, ACB, Sacombank, Techcombank và 7 chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
Dịch vụ quản lý vốn trên tài khoản của khách hàng đã được Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam triển khai đối với Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam
về khoản vốn gần 750 triệu USD trái phiếu quốc tế phát hành cuối năm 2005. Hiện
tại, ở Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại được chấp nhận làm đại lý phát hành và
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
19
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Tuy nhiên, ở Việt Nam các quy định pháp luật liên quan đến dịch vụ ngân hàng còn
nhiều hạn chế, cụ thể như chưa có những văn bản pháp lý mang tính điều chỉnh
chung cho các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, ngân
hàng điện tử. Một số quy định của pháp luật còn chưa thống nhất làm ảnh hưởng đến
khả năng sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Các quy định về thanh toán không dùng
tiền mặt đã lỗi thời nhưng chưa được thay đổi, khó mở rộng điểm chấp nhận thanh
toán thẻ (máy POS), dịch vụ thanh toán séc, chuyển khoản bằng uỷ nhiệm chi, uỷ
nhiệm thu, chuyển tiền để mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế;
một số văn bản của cơ quan quản lý được xây dựng trên cơ sở giao dịch theo phương
pháp thủ công không tương thích với quy trình xử lý bằng công nghệ. Mặt khác, việc
ứng dụng phổ biến E banking là một xu thế tất yếu để phát triển dịch vụ NHBL và
thương mại điện tử, tuy nhiên cùng với sự phát triển công nghệ thông tin, xuất hiện
ngày càng nhiều tội phạm là các hacker xâm nhập vào Website của các NH để đánh
cắp dữ liệu, mật khẩu của khách hàng để lấy tiền hoặc phát tán virut gây hại, một số
đạo chích tìm cách lấy cắp mật khẩu thẻ ATM để rút tiền của khách hàng, đã và đang
đe doạ đến sự an toàn tài sản của các NH và khách hàng nhưng các quy định về bảo
vệ bí mật thông tin cho người sử dụng dịch vụ ngân hàng chưa được đảm bảo tính
hiệu quả, đồng thời pháp luật Việt Nam chưa nâng cao khả năng đối phó với các
hành vi vi phạm, gian lận trong dịch vụ ngân hàng. Chính những điểm này, đã làm
hạn chế việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng và ảnh hưởng hoạt động mở rộng cung
ứng dịch vụ ngân hàng nói chung.
Môi trường kinh tế
Với quá trình mở cửa nền kinh tế, tự do hóa và hội nhập thị trường tài chính
tiền tệ, sự cạnh tranh đối với ngành ngân hàng tất yếu sẽ ngày càng trở nên gay gắt và
quyết liệt. Hiện nay cạnh tranh giữa các NHTM không chỉ dừng ở các loại hình dịch
vụ truyền thống là huy động và cho vay mà còn cạnh tranh ở thị trường các sản phẩm
dịch vụ mới.
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
21
22
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
lĩnh vực ngân hàng, Việt Nam phải gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần
của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trong Hiệp định thương mại với
Hoa Kỳ. Đến năm 2008, Việt Nam phải “mở” toàn bộ các quy định về việc khống
chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài
theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khung về hợp tác thương mại dịch vụ
(AFAS) của Hiệp hội ASEAN. Cùng với các cam kết gia nhập WTO (năm 2009: các
pháp nhân được nhận gửi tiền bằng đồng Việt Nam không hạn chế, đãi ngộ quốc dân
đầy đủ đối với thẻ tín dung; năm 2010: 100% các ngân hàng con nước ngoài được
phép hoạt động…), tất cả đang tạo ra sức ép lớn buộc các NHTM trong nước phải
tăng tốc thực hiện các kế hoạch cung ứng dịch vụ đến khách hàng của mình một cách
hoàn hảo nhất, tốt ưu nhất nhằm thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị phần.
Mặt khác, các NHTM còn chịu sự cạnh tranh từ các tổ chức tài chính phi ngân
hàng như các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ
tương hỗ, công ty bảo hiểm. Những tổ chức phi tài chính này đều đang cố gắng cung
cấp những dịch vụ của ngân hàng, một mặt chia sẻ thị phần với ngân hàng, nhưng
mặt khác cũng hỗ trợ cho sự tăng trưởng của ngành ngân hàng thông qua việc cắt
giảm chi phí và tạo điều kiện cho các NHTM đa dạng hóa các dịch vụ, tăng khả năng
cạnh tranh nhờ tận dụng lợi thế theo phạm vi.
1.2.3.2 Nguồn lực tài chính
Vốn đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng dịch vụ ngân hàng. Với
nguồn vốn đầy đủ ngân hàng sẽ có điều kiện để mua sắm trang thiết bị công nghệ
hiện đại, đào tạo cán bộ nhân viên… nhằm mục đích mở rộng mạng lưới hoạt động
tạo ra những thuận lợi cho khách hàng, thu hút được khách hàng nhiều hơn. Hơn nữa
nếu vốn nhỏ sẽ không đủ lực để đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ và nâng cao hiệu
quả của các dịch vụ sẵn có. Do vậy, các ngân hàng cần phải xây dựng chiến lược tăng
vốn dài hạn, theo những lộ trình thích hợp phù hợp với nhu cầu phát triển và khả
năng kiểm soát của mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ.
1.2.3.3. Hoạt động marketing và uy tín của ngân hàng
24
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
lợi thế của chứng từ rút tiền, đó là nó có tính lặp đi lặp lại, chi phí thấp mà cũng gây
được ấn tượng, khá hiệu quả trong chiến dịch quảng cáo.
Ngoài ra, nắm bắt tâm lý người tiêu dùng, bao giờ cũng rất quan tâm tới
những đợt khuyến mãi, các NHTM đã đưa ra nhiều hình thức khuyến mãi khác nhau
đem lại lợi ích thiết thực và hấp dẫn khách hàng như: chiến dịch khuyến mại mở thẻ
ATM tại các điểm giao dịch, áp dụng lãi suất bậc thang, tặng quà cho khách hàng
trong những dịp khai trương trụ sở mới hay giới thiệu sản phẩm, dịch vụ mới... Cùng
với đó, để thu hút thêm khách hàng, NHTM cũng đã cử cán bộ về các doanh nghiệp,
các trường đại học giới thiệu sản phẩm và dịch vụ của mình, liên kết với các trường
đại học, các cơ quan, đơn vị để đặt máy ATM tại các nơi này đồng thời miễn phí cho
sinh viên và cán bộ khi lập thẻ...
Tóm lại, những hoạt động marketing ngân hàng là rất cần thiết đối với mỗi
ngân hàng để đưa những sản phẩm dịch vụ của mình đến gần hơn với khách hàng.
Làm tốt điều này các NHTM sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh của ngân hàng
mình trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt như hiện nay.
Uy tín của ngân hàng
Chất lượng luôn là yếu tố được quan tâm hàng đầu trong việc cung cấp các
sản phẩm dịch vụ. Đối với dịch vụ ngân hàng cũng vậy, khách hàng luôn mong muốn
được cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt nên khi có nhu cầu, tâm lý khách
hàng thường tìm đến những ngân hàng có uy tín. Do đó, việc tạo dựng uy tín của
ngân hàng giữ một vai trò khá quan trọng trong việc mở rộng cung ứng dịch vụ ngân
hàng.
Trong thời gian qua chúng ta đã chứng kiến sự trưởng thành của nhiều thương
hiệu gắn liền với sự lớn mạnh của nhiều ngân hàng. Trước tiên phải kể đến đó là
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Vietcombank. Trải qua hơn 20 năm xây dựng và
trưởng thành, Vietcombank đã được tạp chí The Banker thuộc tập đoàn Financial
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
25