1
Luận văn
Quá trình hoạt động của công ty, hiện
trạng trường môi trường nước và kinh
tế xã hội ở khu vực công ty giấy
Bãi Bằng
2
Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
I.Những khái niệm chung về quản lí môi trường (QLMT)
Quản lí môi trường hay nói đầy đủ là quản lí nhà nước về môi trường
nhằm tạo ra một hiệu quả hoạt động phát triển cao hơn, bền vững hơn so với
hoạt động của từng cá nhân riêng rẽ hay của một nhóm người .
Ta có thể hiểu “QLMT” là sự tác động liên tục, có tổ chức và có
hướng đích của chủ thể “QLMT” lêncá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành
các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể “QLMT” , sử
dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu
QLMT đã đề ra , phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành .
Mục tiêu của QLMT là nhằm tạo lập sự phát triển bề vững , nghĩa là
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nhưng vẫn bảo vệ được môi trường .
Môi trường là một hệ thống với những đặc tính cơ bản sau :
1.Môi trường là hệ thống cơ cấu phức tạp .
Hệ thống môi trường bao gồm nhiều phần tử hợp thành . Các phần tử
đó có bản chất khác nhau và bị chi phối bởi các hoạt động khác nhau , đôi khi
đối lập nhau . Do đó , các phần tử của hệ thống môi trường cũng thường
xuyên tác động qua lại , quy định và phụ thuộc lẫn nhau làm cho hệ thống tồn
về môi trường phải tuân thủ khi thực hiện việc quản lí môi trường .
2.1 Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống
Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất dệ thống của đối tượng quản lí .
Teo nguyên tắc này , nhiệm vụ của quản lí môi trường là trên cơ sở thu thập,
tổng hợp và sử lí thông tin về trạng thái hoạt động của hệ thống môi trường ,
đưa ra những quyết định phù hợp thúc đảy các phần tử cấu thành hoạt động
đều đặn , cân đối , hài hoà hướng tới mục tiêu đã định .
2.2 Nguyên tắc bảo đảm tính tổng hợp
Các hoạt động phát triển thường diễn ra dưới nhiều hình thái rất đa
dạng . Dù dưới hình thức nào , quy mô và tốc độ hoạt động ra sao , mỗi loại
hoạt động trực tiếp hay gián tiếp, mạnh hay yếu đều gây ra tác động tổng hợp
4
lên đối tượng quản lí . Vì thế trong khi hoạt động chính sách và chiến lược
môi trường , trong việc đề ra những quy định môi trường cần phải tính đến tác
động tổng hợp và hậu quả của chúng .
2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính liên tục và nhất quán .
Đặc tính của hệ thống môi trường là các hoạt động của nó không phân
gianh giới theo thời gian và không gian , do đó tác động của quản lí lên môi
trường phải nhất quán và liên tục , không ngừng nâng cao năng lực dự đoán
và sử lí tổng hợp cũng như bản lĩnh của quản lí vĩ mô của nhà nước.
2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính tập trung dân chủ
QLMT được thực hiện ở nhiều cấp khác nhau . Vì thé cần phải biến
đổi mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong QLMT .
Tập trung phải thực hiện trên cơ sở phát huy dân chủ ở cơ sở trong bàn bạc ,
quy định các vấn đề liên quan đến môi trường . Ngược lại dân chủ phải trong
khuôn khổ tập trung , không mâu thuẫn, đối lập với tập trung , tránh lãng phí
nguồn lực của xã hội . Tập trung được biểu hiện thông qua kế hoạch hoá các
hoạt động phát triển , ban hành và thực thi hệ thống pháp luật về môi trường ,
thực hiện chế độ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức ,
doanh nghiệp , hộ gia đình ở tất cả các cấp quản lí Dân chủ được biểu hiện
2.7 Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả
Quản lí một đối tượng vô cùng rộng lớn và phức tạp như môi trường
đòi hỏi những nguồn lực ngày càng nhiều trong khi phải bảo đảm nguồn lực
cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội . Giải pháp tối ưu cho việc nâng
cao năng lực quản lí nhà nước về môi trường là thực thi tiết kiệm và và hiệu
quả . Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt liên quan chặt chẽ lẫn nhau của QLMT
: làm sao để với những nguồn vật chất và kĩ thuật , kinh tế và tài chính , lực
lượng lao động xã hội , trình độ khoa học và công nghệ hiện có và sẽ có
trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội có thể khai thác sử dụng tài
nguyên một cách hợp lí , bảo vệ môi trường một cách tốt nhất.
Trên đây là các nguyên tắc QLMT mà các chủ thể quản lí phải tuân
thủ trong suốt quá trình QLMT để đạt hiệu quả trong quản lí môi trường .
Quá trình quản lí là quá trình thực hiện các chức năng quản lí theo
những nguyên tắc đã dịnh . Nhưng các nguyên tắc đó chỉ có thể vận dụng và
thể hiện tông qua các phương pháp quản lí . Đó là một nội dung cơ bản của
quản lí môi trường . Nhiệm vụ , mục tiêu của QLMT chỉ được thực hiện
thông qua tác động của các phương pháp QLMT . Trong điều kiện nhất định ,
6
phương pháp QLMT có tác động lớn đến sự thành công hay thất bại của các
mục tiêu và nhiệm vụ QLMT . Vởy QLMT được tiến hành qua các phương
pháp dưới đây.
III. Các phương pháp quản lí môi trường
Phương pháp QLMT là tổng thể các cách thức tác động có thể và có
chủ định của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí và khách thể quản lí để đạt
được các mục tiêu đã đề ra
Các phương pháp quản lí là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ qua lại
giữa chủ thể quản lí với đối tượng và khách thể quản lí , tức là mối quan hệ
giữa con người cụ thể với tất cả sự phức tạp của chúng . Vì vậy các phương
pháp QLMT rất đa dạng và phong phú . Phương pháp QLMT thường xuyên
thay đổi theo các tình huống cụ thể , tuỳ thuộc vào đặc điểm của đối tượng ,
quy định về quy mô , cơ cấu , điều lệ hoạt động , tiêu chuẩn nhằm thiết lập tổ
chức và xác định các mối quan hệ hoạt động của nội bộ . Theo hướng tác
động điều chỉnh hành vi đối tượng quản lí , chủ thể quản lí đưa ra những chỉ
thị , mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dưới thức hiện những nhiệm vụ nhất
định nhằm đảm bảo cho các bộ phận trong hệ thống hoạt động ăn khớp và
đúng hướng vẫn nắm bắt kịp thời những lệch lạc , rủi ro có thể xảy ra.
Các phương pháp hành chính đã đòi hỏi các chủ thể quản lí phải có
quyết định dứt khoát , rõ ràng , dễ hiểu , có địa chỉ người thực hiện , loại trừ
khả năng có những sự giải thích khác nhau đối với nhiệm vụ được giao.
Tác động hành chính có hiệu lực ngay khi ban hành quyết định . Đối
với những quyết định thuộc cấp dưới bắt buộc phải thực hiện , không được
lựa chọn.
Yêu cầu đối với người sử dụng phương pháp là quyết định phải có căn
cứ khoa học và thực tiễn. Đồng thời phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm
của người ra quyết định.
3.2 Các phương pháp kinh tế
Các phương pháp kinh tế tác động vào đối tượng quản lí thông qua lợi
ích kinh tế, để cho đối tượng bị quản lí tự lựa chọn phương án hoạt động có
hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ .
8
Về thực chất , các phương pháp kinh tế là một biện pháp để sử dụng
các quy luật kinh tế vào quản lí môi trường là đặt mỗi cá nhân , mỗi cộng
đồng vào những điều kiện kinh tế để họ có khả năng kết hợp đúng đắn lợi ích
của mình với lợi ích chung của hệ thống . Điều đó cho phép cá nhân hay cộng
đồng lựa chọn con đường hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm vụ của mình .
Tác động thông qua lợi ích kinh tế chính là động lực thúc đẩy con
người hoạt động bảo vệ môi trường . động lực đó sẽ càng lớn nếu nhận thức
đầy đủ và kết hợp đúng đắn các lợi ích tồn tại khách quan trong hệ thống .
Đặc điểm của phương pháp kinh tế là chúng tác động lên đối tượng
quản lí không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích . Nghĩa là đề ra
xây dựng trên quy luật khách quan , đặc tính của đối tượng QLMT . QLMT là
một khoa học nên phải có những phương pháp quản lí khác nhau nhưng khi
vận dụng , chủ thể QLMT phải biét kết hợp giữa cá phương pháp quản lí.
IV. Nội dung quản lí môi trường
QLMT bao gồn quản lí ở cấp vĩ mô và vi mô . QLMT ở cấp vĩ mô
chính là sự quản lí của nhà nướ đối với cá nhân và cộng đồng trong lĩnh vực
môi trường. QLMT ở cấp vi mô là quản lí của hộ gia đình , các cơ sở sản
xuất . ở đây chúng ta đề cập đến nội dung QLMT ở cấp vĩ mô . Các nội dung
đó gồm :
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản về bảo về môi trường
, ban hành tiêu chuẩn hệ thống môi trường .
- Xây dựng và chỉ đạo chiến lược chính sách bảo vệ môi trường ,
kế hoạch phòng chống , khắc phục suy thoái môi trường , ô nhiễm môi trường
, sự cố môi trường .
- Tổ chức , xây dựng hệ thống quan trắc , định kỳ đánh giá hiện
trạng môi trường , dự báo diễn biến môi trường .
- Xây dựng , quản lí các công trình bảo vệ môi trường , công trình
có liên quan đến bảo vệ môi trường .
- Thẩm định , báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án
và cơ sở sản xuất kinh doanh .
- Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường .
- Giám sát thanh tra , kiểm tra việc chấp hành pháp kuật về bảo vệ
môi trường .
10
- Đào tạo cán bộ khoa học về QLMT, giáo dục tuyên truyền phổ
biến kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường .
- Tổ chức nghiên cứu , áp dụng tiến bộ khoa học , công nghệ trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường .
- Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
V. Công cụ quản lí môi trường
trường . Việc kiểm soát sử dụng đất được tiến hành như khoanh vùng , hay
các quy định về chia chỏ . Các biện pháp kiểm soát với việc sử dụng nước đặc
biệt có thể được tiêu dùng để giới hạn hoặc cấm việc phát triển năng lượng ,
khai thác tài nghuyên thiên nhiên tại các bờ sông , lòng sông và những sử
dụng có nhiều khả năng gây ô nhiễm khác tại vùng nước quy định.
5.2 Các công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế là những công cụ chính sách nhằm thay đổi chi phí và
lợi ích của nhẵng hành động của hoạt động kinh tế thường xuyên tác động tới
môi trường , tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra huỷ hoại môi
trường .
Công cụ kinh tế là một trong những công cụ quan tọng nhất để bảo vệ
môi trường . Công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường được áp dụng dựa trên
các nguyên tắc cơ bản là “ người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “người hưởng
lợi ích phải trả tiền” .
- Nguyên tắc người gây ônhiễm phải trả tiền
Theo nguyên tắc này thì người gây ô nhiễm phải trả toàn bộ chi phí để
thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính quyền tổ chức thực hiện
nhằm đảm bảo cho môi trường nằm trong phạm vi có thể chấp nhận được .
- Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền
Theo nguyên tắc này thì tất cả những ai hưởng lợi do có được môi
trường trong lành không bị ô nhiễm thì đêu phải nộp phí . Việc phòng chống
ngăn ngừa ô nhiễm và cải thiệ môi trường cần được sự hỗ trợ từ phía những
người không phải trả giá cho các chất thải gây ô nhiễm môi trường.
12
Chương II
MÔ TẢ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY, HIỆN TRẠNG
TRƯỜNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
Ở KHU VỰC CÔNG TY GIẤY BÃI BẰNG
ngành. Đặc biệt năm 1998 công ty đã đạt giải vàng chất lượng sản phẩm. Năm
1999 công ty đẫ hoàn thành vượt mức kế hoạch, sản lượng đạt 63.100 tấn
vượt kế hoạch 5,2%, doanh thu đạt 628,5 tỷ đồng,vượt kế hoạch 8,3%, lợi
nhuận thu về là 51,6 tỷ đồng. Hiện tại công ty giấy Bãi Bằng vẫn duy trì sản
xuất ở nhịp độ cao nhất, quyết tâm phấn đấu đưa sản lượng lên 65.000 tấn
trong năm 2000. Song song kế hoạch sản xuất ,công ty còn thực hiện công tác
đầu tư mở rộng giai đoạn I lên 100.000 tấn/năm vào năm 2001,thực hiện
phương án tiền khả thi giai doạn Iinâng công suất lên 200.000 tấn/năm vào
năm 2003. Năm 2000 cũng là nămc công ty thực hiện đổi mới công nghệ ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và thực hiện triển khai chương trình 5 “S” làm
tiền đề cho việc áp dụng tiêu chuẩn quảnlý chất lượng ISO 9002 .
Đến nay với sự nỗ lực phấn đấu vượt qua những khó khăn thử thách,
với tinh thần sáng tạochủ động trong lao động sản xuất kinh doanh…,công ty
đã có bước phát triển mới,tạo được chỗ đứng vững chẳctong cơ chế thị trường
được người tiêu dùng đánh giá cao
II.mô tả điều kiện tự nhiên:
2.1.vị trí địa lý.
Công ty giấy Bãi Bằng nằm ở huyệ phù ninh, tỉnh Phú Thọ, bên trục
đường quốc lộ 2 cách thủ đô Hà Nội 100km về phía tây bắc, nó có toạ độ địa
lý21,47’32” vĩ bắ và 105,26’34” kinh đông
2.2.địa hình.
Công ty giấy Bãi Bằng thuộc huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nằm
trong khu vục có địa hình dồi bát úp,các giải đồi xen kẽ các giải ruộng
2.3.khí hậu thuỷ văn.
khí hậu nhà máy mang tính nhiệt đới,nóng ẩm mưa nhiều và chịu ảnh
hưởng trực tiép của gió mùa. Thời tiết trong năm được chia làm 2 mùa rõ
rệt,mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ
tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
14
Gió : hướng gió ảnh hưởng của chế độ gió mùa và tác động của địa
15
nghiệp, vừa làm dịch vụ buôn bán. Các ngành nghề mới như làm đầu,may
mặc,tân dược,buôn bán xe máy,đồ điện… xuất hiện. Trong thị trấn có 87 hộ
kinh doanh thường xuyên và 99 hộ kinh doanh không thường xuyên với nhiều
mặt hàng khác nhau.
Giao thông vận tải thuận tiện, số công nhân của công tycùng với số
nhân khẩu phi nông nghiệp ở thị trấn đông đảo, có nhu cầu cao và thường
xuyên về hàng hoá,thực phẩm. Nhu cầu này thúc đẩy phát triển nông nghiệp ở
dịa phương. Tuy quanh công ty chưa hình thành vành đai lương thực, thực
phẩm, nhưng qua điều tra được biết : các loại rau đậu,bắp cải.su hào,cải
bẹ…trồng ở các xã ven sông lô và sông hồng cũng được đem ra bán ở chợ Bãi
Bằng . mặt khác để tăng thu nhập gia đìnhvà đáp ứng về nhu cầu sản phẩm
nông nghiệp cho thị trấn, người nông đân ở đây đang chú trọng thâm canh cây
lương thực, phát triển lâm nghiệp, làm kinh tế vườn đồi, đẩy mạnh chăn nuôi
và trồng rau mầu.
Công ty góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân dịa phương. Hiện
nay có 300 người quê huyện Phong Châu làm việc cho công ty, ngoài ra còn
có người làm hợp dồng theo thời vụ như lọc vật liệu,bốc vác…
Trong quá trình sản xuất hàng ngày nhà máy giấy Bãi Bằng thải ra 80-
100 tấn xỉ than, than không đốt hết, than lọt ghi,trong đó có 7 phần là xỉ than
3 phần là than cám, nhân dân địa phương mua xỉ than sàng lấy than chưa cháy
để nung ghạch ngói ,xỉ than để đóng ghạch. Như vậy nhà máy đẫ góp phần
tạo ra việc làm, tăng thên thu nhập gia đình và đẩy mạnh việc xây dựng nhà ở
trong huyện phong châu.
3.3.hạ tầng cơ sở.
Trong thời kỳ xây dựng công ty (1974-1982),mạng lưới đường bộ nối
liền công tyvới các tyuến giao thông chính và cảng nguyên liệu bên bờ sông
lô đã được xây dựng. Cùng thời kỳ này(1980) thị trấn Bãi Bằng dược thành
lập và sau đó sát nhập với xã Phù Lỗ thành thị trấn Phong Châu(5/1982) tổng
diện tích tự nhiên của thị trấn Phong Châu ngày nay là 863,44ha, số nhân
Và làm phát sinh ra các chất thải.
- Khí thải : 3120.000.000 tấn
- Nước thải : 18,3.000.000 m3
17
- Chất thải rắn : 110.000 tấn
Sản phẩm
- Giấy in và giấy viết 60.00 tấn/năm
IV.Tác động của nước thải do hoạt động sản xuất trong công ty giấy
Bãi Bằng đến môi trường.
4.1.các công đoạn sử dụng nước.
Nguồn nước cấp cho quá trình sản xuất ,sinh hoạt của công ty giấy
Bãi Bằng là sông lô. Điểm lấy nước cách nhà máy là 4 km. Công suất cấp
nước là 72.000 m3/ngày. Lượng nước sử dụng hiện nay là 60.000
m3/ngày,trong đó cho sản xuất là 55.00 m3/ngày và cho sinh hoạt là 500
m3/ngày.
- Lượng nước dùng để sản xuất một tấn giấy là 400 m3
- Các công đoạn dùng để sản xuất bột và giấy của nhà máy sử
dụng là khác nhau, trong đó công đoạn rửa bột là sử dụng nhiều nhất
4.2.lưu lượng nước thải và hệ thống thoát nước thải của công ty
giấy Bãi Bằng
4.2.1.lưu lượng nước thải.
Quy trình công nghệ và sự hình thành nước thải từ các khâu sản xuất
bên trong nhà máy (theo nguồn số lieẹu của phòng thí nghiệm môi trường
công ty giấy Bãi Bằng và đề tài KT 02-16) được nêu trong bản 4.2 như sau:
Dòng thải
Lưu lượng m3/ngày Ghi chú
1 4560 Nấu – sàng – rửa
2 14540 Tẩy
3 6870 Phân xưởng xeo
đông tụ dạng nhỏ hạt, được thải ra mương lỗ trì và ra cánh đồng
4.3.biểu thị đặc tính thải của công nghiệp bột và giấy ở công ty
giấy Bãi Bằng
Căn cứ vào đặc tính thải của từng bộ phận sản xuất , rựa vào hướng
dẫn của tài liệu NIEM và kinh nghiệm của các nghiên cứu cụ thể trong tài liệu
NIEM chúng tôi phân chia nhà máy thành 8 khốivà 18 điểm kiểm tra.
19 CP1 CP2 CP4 CP5 CP7
CP8(a,b,c)
CP3
CP14 CP15
C
ống chính A CP16
CP17
Cống chính B
Ra hồ cá
Ra đồng lúa
Hình 4.2 : Sơ đồ khối của hệ thống thải chính
Như vậy nước thải của công nghiệp bột và giấy được thải ra ba nơi:
ộ
ng
Thu hồi
Hoáchất,
h
ồ
bùn
Nước
thải vệ
sinh
X
ử
lý
n
ư
ớ
c
B
ơ
m
20
5 Độ đục NTU 175
6 Độ dẫn điện
s/cm
270
lượng x nồng độ = 12.800 m
3
x 264 = 3,4 tấn), trong đó lượng chất mùn gây
màu trong nước xả ra hồ Phú Nham là 1,28 tấn trong 1 ngày. Nước thải đục,
BOD cao, DO không lớn sẽ ảnh hưởng không tốt đến đời sống thuỷ sinh vật.
Hồ Phú Nham có thể bị lấp dần do phù sa thải ra. Tuy nhiên so với các qui
định của TCVN 5945-1995, nhiều chỉ tiêu còn thấp hơn nhiều so với qui định
cho phép. Trong thực tế, do có nước thải này nên nhân dân đã tận dụng để
nuôi cá, nếu không hồ sẽ bị cạn.
4.3.2 Nước thải từ hồ xỉ ra mương Phú Nham (khối 7)
Xỉ than từ lò hơi đốt than thải ra được vận chuyển bằng nước ra hồ xỉ.
Nước vận chuyển xỉ chủ yếu được dùng tuần hoàn, có một phần được thải ra
ngoài với lưu lượng 1800-2500 m
3
/ngđ; nước thải mang theo tro xỉ, bụi than
và các chất hoà tan từ xỉ ra . Nguồn tiếp nhận nước thải hiện nay là mương
Phú Nham dài trên 2,5 km.
Loại nước thải này có màu đen và trải dài trên toàn bộ tuyến mương
2,5 km. Trong nước thải có một số chất hoà tan như SO
2
, mối kim loại
nặng…Theo số liệu phân tích nhiều năm của phòng thí nghiệm môi trường
Công ty GBB, nước thải xỉ than có pH từ 7,2 đến 7,3; Độ màu 50 mg/l hay 90
kg/ng.đ; Cặn lơ lửng 4000 mg/l, hay 7,2 tấn/ng.đ, và COD 30 mg/l hay 54
kg/ng.đ
21
Bảng 4.4. Thành phần và tính chất nước xỉ than của công ty GBB
TT Chỉ tiêu Đơn vị Giá trị
14 CO
2
mg/l 8.5
15 Cl
-
mg/l 142
16 Pb MPN/100ml 0.164
17 Zn 0.145
18 Cd 0.02
19 AS 0.0037
20 Colifoms 9.10
4Kết qủa phân tích cho thấy nếu xem mương Phú Nham như tuyến
thoát nước thải thì phần lớn các chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn đối với nước thải
công nghiệp xả vào nguồn loại B theo TCVN 5945-1995, trừ các chỉ tiêu hàm
lượng cặn và độ đục quá lớn. Còn nếu xem mương như nguồn nước mặt loại
B thì theo tiêu chuẩn TCVN 5942-1995 thì hầu hết các chỉ số đều lớn hơn
nồng độ giới hạn cho phép.
4.3.3 Nước thải ra sông Hồng ( khối 2→?6 và nước vệ sinh)
Nước thải sản xuất ở các khối 2, 3, 4, 5, 6 và nước thải vệ sinh. Hai
loại nước này được xử lí tại trạm xử lí nước thải (XLNT) sau đó bơm ra sông
Hồng với lưu lượng 37.200 m
3
/ng.đ.
22
Đặc điểm nước thải ở các khâu sản xuất chính và nước thải khu vệ
sinh, chúng ta xem xét trong hai bảng dưới đây:
554 322
6 944,4 782,9
Nước thải sản xuất từ các phân xưởng chính của nhà máy, theo các
đường cống thoát nước chảy về bể điều hoà tập trung, sau đó được bơm lên bể
lắng keo tụ. Hoá chất sử dụng là phèn nhôm kỹ thuật Al
2
(SO
4
)
.18H
2
O. Để
tăng cường quá trình keo tụ, pH của nước thải được điều chỉnh về 7 bằng
xút NaOH hoặc bằng axít sunphuríc H
2
SO
4
.
Bảng 4.6 Đặc điểm nước thải khu vệ sinh công nhân trong công ty GBB
T
T
Chỉ tiêu Đơn vị Nước thải
trước lắng
Nước thải
sau lắng
24
Bảng 4.7 Các chất chứa trong nước thải Công ty GBB
T
T
Bộ phận thải Chất thải
ảnh hưởng tới thuỷ vực
1 -
Rửa nguyên liệu
- Xeo
Huyền phù vô cơ
(caolin, đất, cát…)
Lắng đọng, tắc cống,
độ đục cao
2 -
Xử lí nguyên liệu
- Nấu, rửa, sàng
Huyền phù hữu cơ (cỏ
cây, mùn gỗ, sơ sợi )
BOD cao, oxy hoà tan
thấp, nước đục, mùi hôi
3 -
Tẩy
- Thu hồi hoá chất
- Nấu, rửa, sàng
9 Tẩy; sản xuất hoá chất Hợp chất hữu cơ chứa
Clo
Rất độc đối với người
và sinh vật
10 Nấu; Tẩy Muối vô cơ hoà tan
(P,N,Cl…)
Không gây độc; tạo f
ì
dưỡng
11 Vương vãi từ dịch phụ
gia
Na
2
s, Na
2
SO
4
,
Na
2
CO
3
…
Tạo thành các chất
khác dễ gây độc
Hai loại nước thải do sản xuất và nước thải vệ sinh trên sau xử lí thải
ra sông Hồng, thì có thành phần và tính chất ở bảng sau.
25
Bảng 4.8 Thành phần và tính chất nước thải công ty Giấy Bãi Bằng tại
11 BOD
5
mg/l 86 156 1,8 100,46
12 COD mg/l 510 178 0,85 289,6
13 NH
+
4
mg/l 1,5 3,5 4,1
14 NO
-
2
mg/l 0,5 0,415 Có vết
15 NO
-
3
mg/l 2,5 150
16 PO
4
3
-
mg/l 0,4
17 SO
2
-
4
. Tải trọng chất bẩn theo độ màu
là 13,95 tấn/ng.đ, theo chất lơ lửng 2,34 tấn/ng.đ, theo CODlà 12,2 tấn/ng.đ.
Kết quả phân tích mẫu nước thải tại cống xả được nêu trong bảng trên.