Tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất - Pdf 10

ChơngI
Kinh tế hộ sản xuất và tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất
I. Kinh tế hộ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
1. Vai trò của nông nghiệp nông thôn nớc ta.
Nông nghiệp nông thôn có vị trí hết sức quan trọng đối với nền kinh
tế quốc dân. Nớc ta hơn 80% dân số sống ở nông thôn và hơn 70% lao
động trong ngành nông nghiệp, hàng năm nông nghiệp sản xuất ra hơn
40% tổng sản phẩm xã hội và 50% giá trị thu nhập quốc dân.
Vai trò của nông nghiệp nông thôn còn thể hiện ở việc xuất khẩu các nông
sản có ảnh hởng đến kim nghạch xuất khẩu với một thế mạnh về điều kiện
đất đai, thiên nhiên, thời tiết và khí hậu, nên nông nghiệp nớc ta có thể sản
xuất ra nhiều nông sản thực phẩm cao cấp góp phần cho xuất khẩu. Tổng
sản lợng nông nghiệp kể năm 1990 trở lại đâu tăng đáng kể, trong đó nổi
bật nhất là lơng thực.
Năm 1990 sản lợng lơng thực là 21,49 triệu tấn.
Năm 1991 sản lợng lơng thực là 21,99 triệu tấn
Năm 1992 sản lợng lơng thực là 24,20 triệu tấn
Năm 1993 sản lợng lơng thực là 24,50 triệu tấn
Năm 1997 sản lợng lơng thực là 30,50 triệu tấn, xuất khẩu 3,6
triệu tấn đứng hàng thứ 3 sau Mỹ và Thái lan.
Năm 1998 sản lợng lơng thực là 31,85 triệu tấn, xuất khẩu 3,8 triệu
tấn đứng thứ 2 sau Thái lan.
Từ chỗ độc canh cây lơng thực tới cơ cấu sản xuất cây nông nghiệp
đã chuyển sang kết hợp chăn nuôi, tỷ trọng sản lợng ngành chăn nuôi
chiếm gần 30% sản lợng nông nghiệp.
Hàng năm, nớc ta trồng thêm đợc 1020 ha rừng tập trung, 400 triệu cây
phân tán, khai thác trên 3triệu mét khối gỗ 30triệu xe củi cung cấp cho
nhu cầu tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu. Bên cạnh đó việc đánh bắt và
nuôi trông thuỷ sản đều đạt sản lợng cao.
Tuy nhiên nền nông nghiệp nớc ta vẫn còn nét đặc thù đó là nền
nông nghiệp tự cấp mà đại đa số nông dân sản xuất nhỏ là phổ biến, phân

khác đợc dùng để thay thế thuật ngữ "hộ sản xuất" là "hộ", "hộ gia đình".
Ngày nay hộ sản xuất đang trở thành một nhân tố quan trọng của sự nghiệp
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình xây
dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Để phù hợp
với xu thế phát triển chung, phù hợp với chủ trơng của Đảng và Nhà nớc, Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Phụ lục số 1 kèm theo Quyết định
499A ngày 2/9/1993, theo đó khái niệm hộ sản xuất đợc hiểu nh sau: "Hộ sản xuất
là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ
sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của
mình". Thành phần chủ yếu của hộ sản xuất bao gồm: hộ nông dân, hộ t nhân, cá
thể, hộ gia đình xã viên, hộ nông, làm trờng viên.
Nh vậy, hộ sản xuất là một lực lợng sản xuất to lớn ở nông thôn. Hộ sản xuất
hoạt động trong nhiều ngành nghề nhng hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các họ này tiến hành sản xuất kinh doanh đa
dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề phụ. Đặc điểm sản
xuất kinh doanh nhiều ngành nghề nói trên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động của các hộ sản xuất ở nớc ta.
2.2. Đặc điểm của kinh tế hộ sản xuất.
Đặc trng 1: Kinh tế hộ nông thôn nớc ta đang chuyển từ kinh tế tự cấp, tự túc
khép kín lên dần nền kinh tế hàng hoá. Tiếp cận với thị trờng chuyển từ nghề nông
thuần tuý sang nền kinh tế đa dạng theo xu hớng chuyên môn hoá. Dới sự tác động
của các quy kụat kinh tế thị trờng trong quá trình chuyển hoá tất yếu sẽ dẫn đến
cạnh tranh và hệ quả sẽ đến sự phân chia giàu nghèo trong nông thôn. Từ đó vấn đề
đặt ra đối với quản lý và điều hành phía Nhà nớc là phải làm soa cho phép kinh tế hộ
phát triển mà vẫn đảm bảo công bằng xã hội, tăng số hộ giàu, giảm hộ nghèo, tạo
điều kiện để hộ nghèo bớt khó khăn và vơn lên khá giả.
Đặc trng 2: Quy mô và cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ chênh lệch nhau
khá lớn giữa các vùng và ngay cả trong một số vùng cùng có sự chênh lệch nhau
giữa quy mô và diện tích đất đai, vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động và trình độ
hiểu biết giữa các hộ do điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau giữa các vùng.

núi và trung du Bắc Bộ; Đồng bằng Sông Hồng; ven biển Bắc Trung Bộ; ven biển
Nam Trung Bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng Sông Cửu Long.
Hoạt động kinh tế hộ sản xuất mang sắc thái và đặc trng mỗi vùng.
2.3.2. Dựa trên các yếu tố kinh tế.
- Đây là hình thức phân loại thờng gặp nhất, trong đó bao gồm nhiều dạng
phân loại khác nhau. Dựa vào thu nhập có thể chia ra hộ giầu - nghèo; hoặc hộ giầu,
hộ khá - hộ trung bình - hộ nghèo. Tuy nhiên, việc tính thu nhập nhất là của ngời
nông dân là điều rất phức tạp. Mặt khác, tiêu chuẩn giầu, nghèo khác nhau giữa các
khu vực nh thành thị, nông thôn.
- Dựa vào mức độ đa dạng hoá sản xuất co thể chia ra: hộ thuần nông, hộ
kinh doanh tổng hợp, hppj sản xuất phi nông nghiệp. Từ sự phân hoá trên có thể đa
ra những chính sách kinh tế phù hợp tại điều kiện khuyến khích các hộ phát triển
ngành nghề, tăng trởng sản phẩm hàng hoá.
2.4. Vai trò của kinh tế hộ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.
Từ khi Nghị Quyết 10 - Bộ Chính trị ban hành, hộ nông dân đợc thừa nhận là
một đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ, năng động trong
kinh tế nông thôn, nhờ đó ngời nông dân gắn bó với ruộng đất hơn, chủ động đầu t
vốn để thâm canh tăng vụ, bố trí phân vùng đặc điểm sinh thái và nhu cầu thị trờng,
khai phá thêm hàng ngàn hecta đất mới, ruộng đất đợc sử dụng tốt hơn, vừa đi vào
thâm canh vừa đi vào đổi mới cơ cấu sản xuất, cơ cấu thời vụ. Việc trao quyền tự
chủ cho hộ nông dân đã khơi dậy nhiều làng nghề truyền thống, mạnh dạn vận dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất để đạt tới mục đích cuối cùng là thu đợc
thành quả lớn nhất. Điều này càng khẳng định sự tồn tại khách quan của hộ sản xuất
với vai trò là cầu nối trung gian giữa hai nền kinh tế, là đơn vị tích vốn, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn.
2.4.1. Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế
hàng hoá.
Lịch sử phát triển sản xuất hàng hoá đã trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh tế
tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình; tiếp theo là giai đoạn
chuyển biến từ nền kinh tế hàng hoá nhỏ lên kinh tế hàng hoá quy mô lớn, đó là nền

- Vốn đầu t cho kinh tế quốc doanh địa phơng:
3,5 triệu/1lao động/1 việc làm.
(ở đây chỉ tính vốn đầu t tài sản cố định)
Nh vậy, chi phí cho một lao động ở trong hộ sản xuất là ít tốn kém nhất. Điều
này đặt trong hoàn cảnh đất nớc ta còn là một nớc nghèo, vốn tích luỹ ít thì càng
khẳng định hộ sản xuất là một hình thức tổ chức kinh tế phù hợp góp phần giải
quyêts công ăn việc làm , nâng cao thu nhập cho lực lợng lao động trong cả nớc nói
chung và ở nông thôn nói riêng.
2.4.3. Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trờng thúc đẩy sản
xuất hàng hoá.
Ngày nay, hộ sản xuất hoạt động theo cơ chế thị trờng có sự tự do cạnh tranh
trong sản xuất hàng hoá, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản xuất phải quyết
định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì? Sản xuất nh thế nào
để trực tiếp quan hệ với thị trờng. Để đạt đợc điều này các đơn vị kinh tế nói chung
và hộ sản xuất nói riêng đều phải không ngừng nâng cao chất lợng, mẫu mã sản
phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích thích cầu từ đó mở
rộng sản xuất đôngf thời đạt đợc hiệu quả kinh tế cao nhất.
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất có thể dễ
dàng đáp ứng đợc những thay đổi của nhu cầu thị trờng mà không sợ ảnh hởng đến
tốn kêms về mặt chi phí. Thêm vào đó lại đợc Đảng và Nhà nớc có các chính sách
khuyến khích, hộ sản xuất không ngừng vơn lên tự khẳng định vị trí trên thị trờng,
tạo điều kiện cho thị trờng phát triển đầy đủ, đa dạng thúc đẩy quá trình sản xuất
hàng hoá. Nh vậy với khả năng nhạy bến trớc nhu cầu thị trờng, hộ sản xuất đã góp
phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của thị trờng tạo ra động lực thúc đẩy
sản xuất hàng hoá phát triển cao hơn.
2.4.4. Hộ sản xuất thúc đẩy sự phân công lao động dần tới chuên môn hoá,
tạo khả năng hợp tác lao động trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi.
Kinh tế hộ đã từng bớc tạo sự chuyển dịch cơ cấu nông thôn, củng cố quan hệ
sản xuất, tăng cờng lực lợng sản xuất tạo sự phân công lao động trong nông thôn từ
nền sản xuất thuần nông lạc hậu, sản xuất hàng hoá kém phát triển sang sản xuất

nông dân đợc thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh và là
đơn vị kinh tế cơ sở ở nông thôn.
Sau Nghị định 10 của Bộ Chính trị rồi đến Nghị định 66 HĐBT của Hội đồng
Bộ trởng ngày 2/3/1992, cùng luật doanh nghiệp t nhân NĐ 29 ngày 19/3/1998, luật
công ty thì hộ sản xuất đã đợc thừa nhận là một đơn vị kinh tế bình đẳng nh các
thành phần kinh tế khác. Điều này đợc khẳng định tại điều 21 Hiến pháp nớc
CHXHCN Việt Nam năm 1992: "Kinh tế gia đình đợc khuyến khích phát triển".
Đại hội lần thứ VII của Đảng chủ trơng phát triển nền kinh tế nớc ta nói
chung và đặc biệt đối với kinh tế hộ gia đình nói riêng.
Tháng 6/1993, tại kỳ họp lần thứ 5 (khoá VII), Đảng đã ban hàng nghị định
TW5, tiếp tục khẳng định quyền tự chủ của hộ với t cách là một chủ thể kinh tế ở
nông thôn đợc luật thừa nhận quyền sử dụng đất đai (5 quyền), quyền vay vốn tín
dụng, quyền lựa chọn phơng án sản xuất kinh doanh có lợi nhất, quyền tự do lu
thông tiêu thụ sản phẩm.
Nghị quyết TW5 cùng các văn bản luật, Nghị định của Chính phủ đã tạo
hành lang pháp lý, khơi dậy động lực cho hơn 10 triệu hộ nông dân phát triển. Từ đó
phát triển triển mạnh nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII với chủ trơng CNH - HĐH đất nớc.
Nghị quyết TW6 lần một (khoá VIII) với chủ trơng "tiếp tục đổi mới, đẩy
mạnh CNH - HĐH đất nớc, nhất là CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn" đã khẳng
định nông nghiệp nông thôn là lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng cả trớc mắt và
lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Cùng với các chính sách về
các thành phần kinh tế, kinh tế hộ đợc khuyến khích phát triển "Kinh tế hộ gia đình
tồn tại và phát triển lâu dài, luôn luôn có vị trí quan trọng".
II. Tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế hộ sản xuất.
1. Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế hàng hoá. Bản chất của tín dụng
là quan hệ vay mợn có hoàn trả và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển
nhợng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi.
Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng nh : tina dụng thơng mại,

dẫn thực hiện quy định trên, văn bản số 791/NHN
o
- 06 của Tổng giám đốc
NHN
o
VN về thực hiện một số chính sách ngân hàng phụ vụ phát triển nông nghiệp
nông thôn. Với các văn bản trên đã mở ra một thị trờng mới cho ngân hàng trong
hoạt động tín dụng. Trong khi đó hộ sản xuất đã cho thấy sản xuất có hiệu quả nhng
còn thiếu vốn để mở rộng tiến hành sản xuất kinh doanh. Đứng trớc tình hình đó,
việc tồn tại một hình thức tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất là một yết tố phù
hợp với cung cầu trên thị trờng đợc môi trờng xã hội, pháp luật cho phép.
2. Vai trò tín dụng ngân hàng với kinh tế hộ sản xuất.
Trong nền kinh tế hàng hoá các doanh nghiệp khổng thể tiến hành sản xuất
kinh doanh nếu không có vốn. Đặc biệt là trong điều kiện nớc ta hiện nay, thiếu vốn
là hiện tợng thờng xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đối với
hộ sản xuất. Vì vậy vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó trở
thành "bà đỡ" trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Nhờ có vốn tín dụng, các đơn vị kinh tế không những đảm bảo quá trình
sản xuất kinh doanh bình thờng mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp
dụng kỹ thuật mới đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh. Riêng đối với hộ sản
xuất, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ
sản xuất.
2.1. Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá
trình sản xuất liên tục, góp phần đầu t phát triển kinh tế.
Sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả có ý nghĩa quan trọng đối với sự
tăng trởng kinh tế. Nếu nh vốn tham gia vào quá trình đầu t không đem lại hiệu
quả sẽ không có sự tăng trởng thậm chí còn gây sức ép tới lạm phát, tạo ra kết
cục trái ngợc. Thực tế chó thấy, quá trình sản xuất luôn trải qua những giai đoạn
khác nhau, vì vậy các doanh nghiệp nói chung và hộ sản xuất nói riêng có lúc
thừa vốn có lúc thiếu vốn. Việc vay bổ sung vốn lu động sẽ giúp cho quá trình

phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động đợc để cho hộ sản xuất vay. Vì vậy
ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh
vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lu thông. trên cơ sở đó hộ sản
xuất phải tập trng vốn nh thế nào để sản xuất, góp phần tích cực vào quá trình
vận động liên tục của nguồn vốn.
2.3. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống,
ngành nghề mới giải quyết việc làm cho ngời lao động.
Việt Nam là một nớc nông nghiệp, có nhiều làng nghề truyền thốg, nhng
cha đợc quan tâm đến các ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quả
kinh tế đặc biệt trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn. Phát huy đợc làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy
đợc nội lực của kinh tế hộ. Và tín dụng ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các
ngành nghề mới thu hút đợc số lao động nhàn rỗi giải quyết việc làm cho ngời
lao động. Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm, ng nghiệp gắn với
công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thơng nghiệp, du lịch, dịch vụ ở các thành thị
và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Do đó tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề
này phát triển một cách nhịp nhành và đồng bộ. Nh vậy, bằng động tác gián tiếp
ngân hàng đã kích thích các hộ sản xuất nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phải
hoạch định kinh doanh để tính toán có hiệu quả, giảm cho phí sản xuất hàng
hoá, góp phần vào phát triển kinh tế hộ nói riêng và nền kinh tế cả nớc nói
chung.
2.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng về mặt chính trị - xã hội:
Tín dụng ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội.
Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp
phần giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động. Đó là một trong những vấn
đề cấp bách hiện nay ở nớc ta. Có việc làm, ngời lao động có thu nhập sẽ hạn
chế đợc tiêu cực xã hội. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy các ngành nghề phát

để phát triển sản xuất nông, lâm, ng, diêm nghiệp cần đợc chuyển sang cho vay trực
tiếp đối với hộ sản xuất thuộc các ngành này thực sự trở thành đơn vị kinh tế tự chủ".
Ngày 2/03/1993 trên cơ sở kết quả và kinh nghiệm sau hơn 1 năm "làm thử"
việc chuyển sang cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 14/CP về "chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển sản xuất nông,
lâm, ng, diêm nghiệp và kinh tế nông thôn". Đây là bớc tiến mới, vì chỉ thị 202/CP
chủ yếu chỉ đề cập đến việc chuyển hớng tín dụng ngân hàng sang cho vay trực tiếp
hộ sản xuất và triển khai thực hiện nh một chơng trình thử nghiệm.
Ngày 20/03/1999 chính phủ ban hành Quyết định số 67/199/QĐ-TTg về
"một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn".
Ngày 16 tháng 04 năm 1999 Thống đốc ngân hàng nhà nớc có văn bản số
320 CV-NHN 14 hớng dẫn thực hiện một số nội dung trong Nghị định 67 của Chính
phủ và giao cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chịu
trách nhiệm chủ yếu thực hiện.
Thống đốc ngân hàng nhà nớc Việt Nam yêu cầu các chi nhánh ngân hàng
thực hiện một số nội dung sau có liên quan tới tín dụng hộ sản xuất.
* Về nguồn vốn :
- Các chi nhánh thành viên phải có biện pháp phù hợp để huy động nguồn
vốn của các tổ chức kinh tế - xã hội, đoàn thể đã góp phần phục vụ cho phát triển
nông nghiệp và nông thôn của địa phơng.
- Để tranh thủ ngày càng nhiều nguồn vốn từ nớc ngoài, các chi nhánh phải
thực hiện việc giải ngân đúng cẩm nang và đúng thời gian bảo đảm hiệu quả cao các
dự án uỷ thác để tăng tín nhiệm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam đối với Chính phủ và các tổ chức tín dụng nớc ngoài.
Đối với tín dụng thực hiện các chơng trình kinh tế theo chính sách của Đảng,
Nhà nớc có u đãi lãi suất, phải tổ chức tốt khâu thẩm định và giải ngân để nhận toàn
bộ nguồn vốn từ ngân sách Nhà nớc chuyển sang Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nôngthôn Việt Nam cho vay các chơng trình này.
* Về cơ chế tín dụng:
Các chi nhánh tổ chức tốt việc điều tra nắm nhu cầu vốn phục vụ cho việc

Ban hành kèm theo quyết định này quy định cho vay đối với khách hàng.
- Quyết định này (Quyết định số 06/QĐ-HĐQT ngày 18 thời gianáng 01 năm
2001) có hiệu lực kể từ ngày 02 tháng 02 năm 2001 và thay thế các quy định của
Chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam sau đây:
+ Quyết định số 180/QĐ/HĐQT ngày 15 tháng 12 năm 1998 của Hội đồng
quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam v/v ban hành
cho vay đối với khách hàng.
Các văn bản hớng dẫn Quyết định số 180/QĐ/HĐQUá TRìNH của Tổng
giám đốc: văn bản số 1110/NHNo-05 ngày 2 tháng 6 năm 1999 về mẫu biểu cho
vay theo QĐ 180; văn bản số 2375/NHNo-05 ngày 18 tháng 10 năm 1999 v/v thực
hiện Quyết định số 180/QĐ/HĐQUá TRìNH.
Trong phạm vi đề tài này chỉ giới thiệu một số quy định việc cho vay bằng
đồng Việt Nam của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đối
với khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ đầu t
phát triển và đầu t phát triển và đời sống của kinh tế hộ sản xuất.
* Về đối tợng áp dụng: Hộ gia đình, cá nhân thờng trú tại địa bàn nơi chi
nhánh Ngân hàng nông nghiệp đóng làn trụ sở. Trờng hợp hộ chỉ có đăng ký tạm trú
thì phải có xác nhận hộ khẩu của nơi thờng trú và có xác nhận UBND xã (phờng)
nơi đến cho phép hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Đại diện cho hộ gia đình để giao dịch đối với ngân hàng là chủ hộ hoặc ng-
ời đại diện phải có đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự.
- Đối với hộ nông dân (nông - lâm - ng - diêm nghiệp) phải đợc cơ quan có
thẩm quyền cho thiê giao quyền sử dụng đất, mặt nớc.
- Đối với hộ đánh bắt thuỷ sản: Phải có phơng tiện đánh bắt và đợc Cục bảo
vệ nguồn lợi thuỷ sản cho phép đánh bắt.
- Đối với hộ gia đình cá nhân kinh doanh: Phải đợc cơ quan thẩm quyền cấp
giấy phép kinh doanh..
- Đối với hộ làm kinh tế gia đình và hộ khác phải đợc UBND xã (phờng) xác
nhận cho phép sản xuất kinh doanh hoặc làm kinh tế gia đình. Riêng đối với hộ là

dụng.
+ Mức cho vay: Ngân hàng phải căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng,
vốn tự có của khách hàng tham gia vào dự án: mức cho vay tối đa không quá 70%
tổng nhu cầu vốn của dự án (đối với cho vay đời sống là không quá 60% tổng nhu
cầu) tỷ lẹe cho vay không quá 70% giá trị tài sản làm đảm bảo tiền vay.
+ Ngân hàng nông nghiệp đợc miễn giảm tiền vay của khách hàng theo
nguyên tắc khách hàng bị tổn thất về tài sản có liên quan đến vốn vay do nguyên
nhân - Ngân hàng nông nghiệp không đợc miễn giảm lãi tiền vay đối với khách
hàng thuộc đối tợng quy định tại điểm 1 điều 78 luật của tổ chức tín dụng.
+ Ngân hàng nông nghiệp có nghĩa vụ thực hiện đúng thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng, lu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Ngân hàng nông nghiệp nơi cho có trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá
trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng nhằm đôn đốc khách hàng
thực hiện đầy đủ những cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng phù hợp với
đặc điểm hoạt động của chi nhánh và đặc điểm kinh doanh, sử dụng vốn của khách
hàng.
Tiến hành kiểm tra trớc khi cho vay đó là việc thẩm định các điều kiện vay
vốn theo quy định.
Kiểm tra trong khi cho vay bao gồm: Kiểm tra việc giải ngân theo tốc độ thực
hiện dự án hoặc phơng án sản xuất kinh doanh.
Kiểm tra sau khi cho vay bao gồm: Kiểm tra mục đích sử dụng tiền vay sau
khi cho vay, kiểm tra hiệu quả của dự án hoặc phơng án, kỉem tra hiện trạng tài sản
đảm bảo tiền vay.
Sau khi kiểm tra vốn vay nếu có phát hiện khách vi phạm, giám đốc Ngân
hàng nông nghiệp cho vay căn cứ vào kết quả kiểm tra tuỳ theo mức độ vi phạm của
khách hàng mà quyết định xử lý cho phù hợp và đúng quy định. Tạm ngng cho vay
trong trờng hợp khách hàng sử dụng sai mục đích, cung cấp thông tin sai sự thật nh-
ng đã đợc khắc phục và sửa chữa. Chấm dứt cho vay trong các trờng hợp khách hàng
vi phạm hợp đồng tín dụng đã cam kết nhng không khắc phục và sửa chữa, khách
hàng ngừng sản xuất có thể dẫn đến phá sản. Ngân hàng sẽ tiến hàng khởi kiện trớc

nên luôn luôn xuất hiện tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn đối với các chi nhánh
trong cùng một hệ thống. Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là do trên mỗi địa bàn có
những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, do đó nó tác động đến nguồn vốn và khả
năng sử dụng của từng chi nhánh.
1.4. Nguồn vốn huy động.
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất của một ngân hàng thơng mại. Nguồn vốn
huy động có nhiều hình thức khác nhau.
1.4.1. Các khoản tiền gửi của khách hàng.
a. Tiền gửi tiết kiệm của dân c: Đây là một trong những khoản tiền lớn gửi ngân
hàng.
Việc phân chia các khoản tiền gửi tiết kiệm của dân c có thể theo nhiều tiêu
thức khác nhau, thông thờng là theo thời gian:
* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào. Do thời hạn
rút tiền không đợc ấn định trớc nên khách hàng phải chấp nhận một tỷ lệ lãi suất
thấp hơn so với hình thức tiền gửi có kỳ hạn.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ có thể rút tiền theo thời hạn đã đợc
thoả thuận giữa ngân hàng với khách hàng.
b. Tiền ký gửi.
Đây là khoản tiền mà khách hàng đem ký gửi vào ngân hàng. Việc sử dụng
các khoản tiền ký gửi đợc thực hiện theo những thoả thuận giữa ngân hàng và khách
hàng.
* Tiền ký gửi không kỳ hạn: Là các khoản tiền gửi mà ngời gửi có quyền rút
ra bất kỳ lúc nào họ muốn. Đối với loại này tuỳ theo quy định của từng quốc gia mà
không đợc phép tính lãi hoặc lãi thấp.
* Tiền gử i có kỳ hạn: Với khoản tiền gửi này, NH chỉ phải hoàn trả số tiền
ký gửi vào ngày đến hạn ghi trên hợp đồng. Các khoản tiền gửi có kỳ hạn có dạng
nh một khoản tiền vay của ngân hàng.
1.4.2. Nguồn vốn vay của các tổ chức tài chính, tín dụng.

- Cho vay không có đảm bảo.
* Căn cứ theo kỳ hạn có:
- Cho vay ngắn hạn.
- Cho vay trung hạn.
- Cho vay dài hạn.
Những quy định về kỳ hạn của các khoản mục cho vay đợc quy định theo
điều luật của từng quốc gia.
* Căn cứ theo phơng pháp hoàn trả có:
- Các khoản vay hoàn trả một lần.
- Các khoản vay hoàn trả nhiều lần.
Chúng ta sẽ phân tích một số khoản mục quan trọng.
2.1. Cho vay có đảm bảo.
Cho vay có đảm bảo là hoạt động quan trọng của ngân hàng, nó biểu hiện
việc ngân hàng cho vay có cầm giữ các vật thế chấp cụ thể nào đó. Vật thế chấp có
thể bao gồm nhiều loại khác nhau nh: bất động sản, biên nhận ký gửi hàng hoá, máy
móc thiết bị, nhà máy, cổ phiếu,... yêu cầu cơ bản của những vật thế chấp là có thể
bán đợc. Lý do thực tế đòi hỏi một khoản cho vay phải đợc đảm bảo là nhằm tạo
điều kiện để ngân hàng giảm bớt rủi ro, mất mát trong trờng hợp ngời vay không
muốn hoặc không thể trả nợ khi đến hạn thanh toán với ngân hàng.
Sự đảm bảo là yêu cầu phải có đối với các khoản vay vì một trong những lý
do đó chính là sự yếu kém về mặt tài chính của ngời vay. Sự yếu kém này có thể đợc
biểu hiện thông qua một vài yếu tố, bao gồm: nợ nần chồng chất, quản lý yếu kém
và lợi nhuận thấp. Ngời trong điều kiện thế chấp nh vậy có thể tạo uy tín bằng việc
thế chấp các tích sản. Khi ngời vay đem cầm cố các tích sản mang quyền sở hữu của
mình thì hộ sẽ có ý hoàn trả nợ. Kỳ hạn của mỗi khoản vay cũng ảnh hởng đến việc
khoản vay đó có cần đợc bảo đảm hay không. Khi kỳ hạn cho vay dài, rủi ro trong
việc hoàn trả tăng lên thì các khoản vay càng cần có sự đảm bảo.
2.2. Cho vay không đảm bảo.
Khác với cho vay có đảm bảo, cho vay không bảo đảm đợc dựa trên hình
thức tài chính của ngời vay, lợi tức có thể thu đợc trong tơng lai, ý thức trả nợ trong

ngắn hạn đợc thực hiện một thời gian nhất định dới một năm hoặc trên cơ sở theo
yêu cầu (đã đơcj thoả thuận trớc với ngân hàng). Cho vay theo yêu cầu là khoản cho
vay không có kỳ hạn nhất định và ngân hàng phải đáp ứng khi khách hàng phát sinh
nhu cầu vay vào bất cứ thời điểm nào. Cho vay theo yêu cầu, ngời vay có đợc vị thế
rất linh hoạt và cóthể trả nợ trong một thời gian rất ngắn.
Những khoản cho vay ngắn hạn thờng đợc sử dụng rộng rãi trong việc tài trợ
mang tính thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt động sản xuất
kinh doanh.
2.6. Cho vay trung và dài hạn.
Thời hạn cho các khoản vay trung và dài hạn tuỳ thuộc vào quy định của từng
quốc gia. Theo quy định của nớc ta, những khoản vốn vay từ 1 đến 3 năm đợc coi là
trung hạn, từ 3 năm trở lên đợc coi là dài hạn. Những khoản cho vay này thờng có
giá trị lớn và khách hàng đợc vay với mục đích dùng để đầu t, mở rộng sản xuất,
nâng cấp tài sản cố định.
Khách hàng thờng a chuộng những khoản tín dụng trung hạn và dài hạn vì
một số lý do: Thứ nhất, khách hàng có thể yên tâm về thời gian sử dụng vốn trong
sản xuất kinh doanh. Trong thời gian ngắn việc sử dụng vốn phục vụ cho mở rộng
sản xuất kinh doanh để mang lại lợi nhuận thờng gặp khó khăn. Do đó muốn phát
triển kinh doanh cần có những nguồn vốn trung hạn và dài hạn để đầu t cho sản
xuất. Thứ hai, các khoản vay trung hạn và dài hạn thờng thuận tiện hơn các khoản
vay ngắn hạn, doanh nghiệp khong phải hoàn trả toàn bộ khoản vay một lần, thay
vào đó các khoản trả nợ đợc hoàn trả theo phơng pháp trả nhiều lần trong thời gian
khoản vay đợc thực hiện. Thứ ba, các vay trung và dài hạn dễ dàng thực hiện hơn so
với các hình thức tài trợ khác nh phát hành trái phiếu, phát hành cổ phiếu mới...
Vốn trung và dài hạn là mọt nhu cầu cấp thiết đối với việc đẩy mạnh sự tăng
trởng của nền kinh tế tại những quốc gia đang phát triển.
IV. Đặc điểm sử dụng vốn của hộ sản xuất.
Ngời dân ở nông thôn nói chung và hộ sản xuất nói riêng họ chủ yếu sống
bằng nghề nông là chính, mà nông nghiệp lại phụ thuộc và điều kiện tự nhiên. Thiên
nhiên ngoài mặt tích cực là mang lại thuận lợi cho sản xuất, nó vẫn còn mang lại

V. Kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới về đầu t tín dụng để phát triển
kinh tế nông thôn.
Do nhận thức đợc vai trò quan trọng của kinh tế nông nghiệp nông thôn
trong nền kinh tế quốc dân, nhiều nớc trên thế giới nhất là các nớc nông nghiệp
trong khu vực Đông Nam á đã rất coi trọng hoạt động tín dụng ngân hàng đối
với việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. Kinh nghiệm của một số nớc
sau đây về vấn đề này cần đợc nghiên cứu và tham khảo.
Thứ nhất: Ngân hàng nhân dân Indonesia
Ngân hàng nhân dân Indonesia (BRI) là ngân hàng thơng mại thuộc
quyền hữu chính phủ song hoạt động nh một ngân hàng thơng mại độc lập. BRI
hoạt động trong nền kinh tế thị trờng theo những nguyên tắc, quy chế đợc soạn
thảo trên cơ sở các chuẩn mực kế toán quốc tê. BRI có bốn lĩnh vực hoạt động
chính. Một trong bốn lĩnh vực này là hoạt động ngân hàng vi mô do hệ thống
ngân hàng đơn vị BRI đảm nhiệm và hệ thống này chịu trách nhiệm cung cấp
các sản phẩm tiết kiệm và tín dụng cho cộng đồng dân c ở nông thôn. mạng lới
rộng lớn với 3-703 đơn vị ở khu vực nông thôn là một trong những hệ thống lớn
nhất của hệ thống ngân hàng đơn vị.
BRI có một số lợng rất hạn chế các sản phẩm tín dụng. Điều này giúp
khách hàng hiểu một cách dễ dàng về các sản phẩm và tạo điều kiện thuận lợi
cho việc nâng cao trình độ cán bộ song song với việc nâng cao chất lợng dịch
vụ cho khách hàng. Các đặc tính chủ yếu của các sản phẩm không thay đổi theo
thời gian. Tóm lại đơn giản hoá là một trong những nguyên tắc quản lý của
BRI.
BRI không cho vay nhóm nhng trong các sản phẩm tín dụng đều đợc
lồng ghép bởi một "hệ thống khuyến khích hoàn trả nhanh chóng" nằm khuyến
khích khách hàng vay vốn hoàn trả đúng hạn. BRI đặt ra các mức lãi suất cho
vay khác nhau phụ thuộc vào việc thanh toán đúng hạn. Khách hàng khi vay
thực tế phải chịu một lãi suất cố định hàng tháng trong đó bao gồm 255 số tiền
lãi đã thu là lãi phạt. Nếu trả nợ khách hàng sẽ đợc hoàn lại một số lãi phạt đã
thanh toán cho ngân hàng. Mặc dù nguyện vọng đợc vay những lần tiếp theo là

* Loại cho vay:
B.A.A.C áp dụng cả 2 loại cho vay đối với hộ nông dân.
- Cho vay ngắn hạn dới 1 năm.
- Cho vay trung và dài hạn từ 1 - 5 năm.
* Phơng thức cho vay.
- Cho vay bằng tiền mặt.
- Cho vay bằng hiện vật nh: máy móc nông nghiệp, công cụ lao động,
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng vật nuôi.
* Điều kiện vay vốn.
- Nông dân có thu nhập dới 10.000 Bath/năm (khoảng 400 USD/năm).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status