Tài liệu Thị Trường Chứng Khoán - Gs.Ts Nguyễn Thị Cành - Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 10

ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ
BỘ MÔN TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
ĐỒNG CHỦ BIÊN: GS.TS. NGUYỄN THỊ CÀNH-TS. TRẦN VIẾT HOÀNG THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN (Sách tham khảo)

tài liệu liên quan đến thò trường chứng khoán được xuất bản khá phong phú tại Việt Nam.
Tuy nhiên, mỗi loại sách, tài liệu xuất bản nhằm phục vụ cho các mục tiêu khác nhau,
như sách, tài liệu phục vụ chương trình đào tạo ngắn hạn, cấp tốc cho các nhà đầu tư công
chúng, loại sách, tài liệu phổ biến thông tin phục vụ bạn đọc công chúng, sách, tài liệu
giáo trình giảng dạy trong các trường đại học cho các sinh viên ngành tài chính-ngân
hàng và các chuyên ngành kinh tế khác… Trong khuôn khổ chương trình đào tạo chuyên
ngành Tài chính-Ngân hàng, và các ngành kinh tế khác của Khoa Kinh Tế-Đại Học Quốc
Gia TP.HCM, môn học “Thò trường Chứng khoán” được thiết kế với thời lượng ba tín chỉ
(45 tiết), chủ yếu chúng tôi muốn cung cấp cho sinh viên những vấn đề cơ bản về thò
trường chứng khoán, cấu trúc và cơ chế hoạt động của thò trường chứng khoán. Tuy nhiên,
đối với sinh viên ngành Tài chính - Ngân hàng đã có các kiến thức được học về quản trò
tài chính và đầu tư tài chính, sẽ được học các chuyên đề chuyên sâu hơn về phân tích
chứng khoán, các chứng khoán phái sinh như quyền chọn, hợp đồng tương lai, …. Do đó,
mục tiêu chính của chúng tôi khi hình thành cuốn sách này là vừa phục vụ tài liệu giảng
dạy môn học “Thò trường Chứng khoán” cho ngành Tài chính - Ngân hàng, và các
chuyên ngành kinh tế khác của Khoa Kinh Tế, ĐH Quốc Gia TP.HCM, đồng thời cũng là
tài liệu tham khảo cho sinh viên đại học và cao học, chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
khi lựa chọn viết các chuyên đề môn học, hoặc chuyên đề thực tập tốt nghiệp có liên
quan đến thò trường chứng khoán.
Với các nội dung được biên soạn của cuốn sách để đáp mục tiêu đào tạo nêu trên, chúng
tôi gọi tên tài liệu tham khảo này là “ Thò trường chứng khoán: Cơ cấu và Cơ chế hoạt
động”. Trong quá trình hình thành và biên soạn cuốn sách tham khảo này, chúng tôi đã
đọc và tham khảo khá nhiều tài liệu về thò trường tài chính, thò trường chứng khoán, quản
trò tài chính đã xuất bản trong và ngoài nước, đặc biệt là các tài liệu nguyên bản bằng
tiếng Anh. Có thể nói, đa số các chương của cuốn sách này được biên soạn dựa vào tài
liệu chuyên đề chứng khoán khá nổi tiếng ở Hoa Kỳ đó là cuốn sách “Chứng khoán đại
cương” , Pass Trak, Series (Tập) 7 trong hàng loạt các series về các nguyên lý và thực
hành tài chính của hai tác giả Kimberly K. Walker-Daniels, do Nhà xuất bản Tài Chính
DearBorn, Hoa Kỳ xuất bản từ năm 1996, và tái bản nhiều lần.
Kết cấu nội dung cuốn sách gồm có 12 chương và phần phụ lục giới thiệu Tổng quan về

Chương 7 liên quan đến các lệnh trong giao dòch chứng khoán. Khách hàng muốn mua
hay bán chứng khoán có thể đưa ra nhiều loại lệnh khác nhau, vì vậy chương này sẽ giới
thiệu hàng loạt các loại lệnh như lệnh thò trường, lệnh giới hạn, lệnh dừng, lệnh dừng giới
hạn, lệnh có giá trò trong ngày…., và so sánh tính chất của các lệnh giao dòch. Ngoài ra
chương 7 cũng đề cập đến vấn đề báo giá, các loại báo giá.
Chương 8 đề cập đến vấn đề bán khống, trong đó khái niệm như thế nào là bán khống cổ
phiếu, khác với bán cổ phiếu có quyền sở hữu như thế nào, các quy đònh bán khống trên
Sở giao dòch và bán khống trên thò trường OTC.
Chương 9 liên quan đến phân tích chứng khoán. Có hai phương pháp phân tích chứng
khoán đó là phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật. Trong chương này sẽ giới thiệu từng
phương pháp, cơ sở lý thuyết phân tích kỹ thuật, các thông số thò trường và giới thiệu các
tình huống về xu hướng giá và quyết đònh mua/bán cổ phiếu theo từng tình huống. Đối
với phương pháp phân tích cơ bản, những nội dung đề cập bao gồm phân tích theo ngành,
phân tích tài chính công ty, và cho thí dụ tình huống phân tích cơ bản chứng khoán một
công ty cụ thể.
Chương 10 giới thiệu về hợp đồng quyền chọn. Quy đònh của hợp đồng quyền chọn, hoán
đổi quyền chọn và thò trường quyền chọn là một lónh vực mà mức độ phức tạp ngày càng
gia tăng. Nó là một phương tiện cho các nhà đầu tư kiếm lời, đầu cơ chứng khoán, đầu cơ
ngoại tệ và các công cụ phái sinh khác, hoặc là phòng ngừa hay bảo vệ vò thế của các
khoản đầu tư khác. Trong chương này sẽ đưa ra các khái niệm về quyền chọn, quyền
chọn chứng khoán, bốn giao dòch quyền chọn cơ bản, cơ chế hoạt động của thò trường
quyền chọn, và một số thí dụ cụ thể về quyền chọn.
Chương 11 giới thiệu về hợp đồng tương lai và thò trường tương lai. Hợp đồng tương lai
(futures contract) và hợp đồng kỳ hạn (forward contract) giống hợp đồng quyền chọn ở
chỗ chúng quy đònh việc mua và bán tài sản tài chính hoặc một loại hàng hoá cơ sở nào
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
5

vậy, chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn đọc để cho lần tái bản
sách sẽ được hoàn thiện hơn. Mọi đóng góp xin gử i về:
Bộ Môn Tài Chính-Ngân Hàng
Khoa Kinh Tế-ĐH Quốc Gia TP.HCM
Tel: 08 7242589; Fax: 08 7220851; Email:
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
6
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

Thò trường chứng khóan là một bộ phận cấu thành của thò trường tài chính. Để hiểu rõ
chức năng, nguyên tắc và tổ chức của thò trường chứng khóan, trong chương này sẽ đề cập
đến những khái niệm có liên quan đến thò trường tài chính, cấu trúc và hàng hóa của thò
trường tài chính.

1. Khái niệm và chức năng của thò trường tài chính
1.1. Khái niệm về thò trường tài chính
Trong nền kinh tế, vốn đóng một vai trò quan trọng. Nền kinh tế phát triển yêu cầu phải
có vốn để đầu tư. Trong nền kinh tế thò trường thường có hai nhóm đối tượng liên quan
đến sở hữu và sử dụng vốn. Nhóm thứ nhất là những người có cơ hội đầu tư để sinh lời, tức
có nhu cầu sử dụng vốn. Nhóm thứ hai gồm những người có vốn, tiền tiết kiệm nhưng lại
không có cơ hội đầu tư.
Để cho người có vốn gặp được người có nhu cầu sử dụng vốn đòi hỏi phải có một quá
trình luân chuyển vốn. Quá trình luân chuyển vốn được hình thành trên cơ sở cơ chế họat
động chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư. Cơ chế chuyển đổi này được thực hiện trong
khuôn khổ của thò trường tài chính. Nhờ có thò trường tài chính mà những người thiếu vốn
có thể huy động vốn bằng cách phát hành các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu.

Phía trái của sơ đồ 1.1 thể hiện sự luân chuyển vốn từ các chủ thể là những người có vốn
tiết kiệm nhàn rỗi cho vay. Các chủ thể có vốn tiết kiệm cho vay có thể bao gồm các cá
nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ. Phía bên phải của sơ đồ là các chủ thể
cần vốn đi vay gồm các doanh nghiệp, chính phủ và kể cả hộ gia đình và những cá nhân
cần vốn cho đầu tư và mua sắm các nhu cầu thiết yếu (nhà ở, xe hơi hay đồ dùng trong
nhà…).
Ở kênh tài chính gián tiếp, các chủ thể có vốn tiết kiệm thừa không trực tiếp cung ứng cho
những người có nhu cầu sử dụng vốn mà cung ứng gián tiếp qua các trung gian tài chính
như ngân hàng, các quỹ tín dụng … Ở kênh tài chính trực tiếp, các chủ thể có vốn tiết
Người cho vay vốn
1. Hộ gia đình
2. Doanh nghiệp

thò trường tài chính.
Như vậy, thò trường tài chính đóng vai trò là cầu nối giúp cho nguồn vốn vận động từ nơi
thừa vốn sang nơi thiếu vốn, làm cho quá trình lưu chuyển vốn nhanh chóng, giúp huy
động các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời đưa vào sản xuất kinh doanh, mang lại lợi ích cho
các chủ thể tham gia thò trường, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Chức năng thứ hai của thò trường tài chính được thể hiện qua việc hình thành giá của các
tài sản tài chính. Thông qua quá trình trao đổi giữa người mua và người bán, giá của các
tài sản tài chính sẽ được xác đònh. Giá của một tài sản tài chính được hiểu là lợi tức của
nó. Yếu tố thúc đẩy để các doanh nghiệp kêu gọi vốn là mức lợi tức mà các nhà đầu tư
yêu cầu. Lợi tức của các tài sản tài chính trên thò trường tài chính sẽ phát ra tín hiệu cho
biết trong nền kinh tế vốn cần được phân bổ như thế nào giữa các tài sản tài chính. Đây là
quá trình hình thành giá của các tài sản tài chính.
Chức năng thứ ba của thò trường tài chính là tạo tính thanh khỏan cho các tài sản tài
chính. Thông qua thò trường tài chính, các nhà đầu tư có thể bán các tài sản tài chính của
mình. Khả năng tiêu thụ các tài sản tài chính trên thò trường tài chính đã tạo ra tính thanh
khỏan cho nền kinh tế. Nếu không trao đổi, mua bán được tức thiếu tính thanh khỏan,
buộc nhà đầu tư phải nắm giữ các công cụ nợ cho tới khi đáo hạn hoặc phải nắm giữ các
công cụ vốn cho đến khi công ty phá sản phải thanh lý tài sản. Nhìn chung các thò trường
tài chính đều có tính thanh khỏan, nhưng mức độ thanh khỏan giữa các thò trường là khác
nhau.
Chức năng thứ ba của thò trường tài chính là giảm thiểu chi phí tìm kiếm và chi phí thông
tin cho các bên giao dòch. Muốn cho một giao dòch mua bán có thể diễn ra, người mua và
người bán phải tìm được nhau. Muốn thế các bên giao dòch phải mất một khỏan chi phí và
thời gian cho việc giới thiệu quảng cáo và tìm đối tác. Những chi phí này được gọi là chi
phí tìm kiếm. Mặt khác, những người mua cũng cần nắm được thông tin nhận đònh các giá
trò đầu tư của một công cụ tài chính và tính chắc chắn của dòng tiền dự kiến thu được từ
đầu tư. Muốn nắm được thông tin họ phải mất chi phí gọi là chi phí thông tin. Do thò
trường tài chính có ưu thế về khối lượng và giá trò giao dòch lớn, các thông tin được cung
cấp đầy đủ và nhanh chóng nên nó có khả năng giảm thiểu được những chi phí tìm kiếm
và chi phí thông tin trong giao dòch cho các chủ thể tham gia thò trường.

giữ chủ yếu của các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại đầu tư nguồn vốn
đóng băng vào tín phiếu kho bạc để thu lợi tức và dùng nó như tiền dự trữ cấp hai, tức
chuyển thành tiền mặt bất cứ lúc nào để giải quyết khó khăn về tài chính của ngân hàng.
Tín phiếu kho bạc thường an tòan và có tính thanh khỏan cao, dễ dàng chuyển nhượng
trên thò trường tiền tệ.
Thương phiếu hay còn gọi là kỳ phiếu thương mại là một lọai giấy nhận nợ, đặc biệt người
giữ nó có quyền đòi tiền khi đến hạn. Thương phiếu gồm có hối phiếu, lệnh phiếu và
chứng chỉ lưu kho. Hối phiếu là phiếu ghi nợ do người bán hàng trả chậm ký phát trao cho
người mua hàng trả chậm, trong đó yêu cầu người mua hàng phải trả một số tiền nhất
đònh khi đến hạn cho người bán hoặc bất cứ người nào xuất trình hối phiếu này (người thụ
hưởng). Lệnh phiếu là giấy nhận nợ do người mua hàng trả chậm ký phát trao cho người
bán hàng trả chậm, trong đó người mua cam kết trả một khỏan tiền nhất đònh khi đến hạn
cho người thụ hưởng. Chứng chỉ lưu kho là giấy do một công ty kinh doanh kho bãi ký
phát, thừa nhận có giữ hàng hóa cho người chủ hàng ký gửi và cam kết giao hàng cho chủ
hàng hay một người nào đó do chủ hàng chỉ đònh bằng cách ký hậu.
Thò trường tiền tệ họat động sẽ giúp huy động các nguồn vốn, cung ứng các nguồn vốn
ngắn hạn cho các chủ thể có nhu cầu vốn ngắn hạn cho đầu tư góp phần hiệu quả nguồn
lực của xã hội. Vì vậy, đôi khi người ta gọi thò trường tiền tệ là thò trường vốn ngắn hạn
(Short-Term Capital Market).
Thò trường tiền tệ có một số đặc trưng sau đây:
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
10
(1) Các công cụ của thò trường tiền tệ có thời gian đáo hạn trong vòng một năm nên
có tính thanh khỏan cao, độ rủi ro thấp và họat động tưong đối ổn đònh;
(2) Họat động của thò trường tiền tệ diễn ra chủ yếu là họat động tín dụng do đó giá
cả được hình thành thể hiện thông qua lãi suất tín dụng ngân hàng.
Các chủ thể tham gia trên thò trường tiền tệ gồm ngân hàng trung ương, kho bạc nhà

tính thanh khỏan kém hơn và độ rủi ro cao hơn, nhưng có mức sinh lợi cao hơn. Vai trò
của thò trường vốn là cung cấp tài chính cho các khỏan đầu tư dài hạn của chính phủ, công
ty và cá nhân hộ gia đình.
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
11
Các công cụ trên thò trường vốn bao gồm các công cụ vốn và các công cụ nợ có thời hạn
đáo hạn trên một năm. Loại công cụ này có biến động giá mạnh hơn và tính thanh khoản
thấp hơn các công cụ trên thò trường tiền tệ và được coi là những khoản đầu tư khá rủi ro.
Những loại công cụ chính là cổ phiếu (công cụ vốn ) và trái phiếu (công cụ nợ). Ngoài ra
còn có các công cụ chuyển đổi hoặc các công cụ phái sinh.
Cổ phiếu là giấy chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với thu nhập và tài sản
của một công ty cổ phần. Cổ phiếu bao gồm nhiều loại khác nhau như cổ phiếu thường,
cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi dự phần…
Trái phiếu là giấy chứng nhận việc vay vốn của một chủ thể ( chủ thể phát hành) đối với
một chủ thể khác (chủ thể cho vay vốn). Trên trái phiếu quy đònh hàng kỳ chủ thể phát
hành phải trả cho người nắm giữ trái phiếu một khoản tiền nhất đònh ( lãi tức trái phiếu )
và tới thời điểm đáo hạn phải hoàn trả khoản vốn cho vay ban đầu. Có nhiều loại trái
phiếu khác nhau như trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thò, trái phiếu
có thể chuyển đổi…
Các khoản tín dụng cầm cố là các khoản cho vay đối với các doanh nghiệp hoặc các hộ
gia đình để mua nhà ở, đất đai, bất động sản và dùng chính các tài sản này làm thế chấp
cho khoản vốn vay.
Các khoản tín dụng thương mại là các khoản cho vay trung, dài hạn của các ngân hàng
thương mại hoặc các công ty tài chính cho người tiêu dùng hoặc các doanh nghiệp có nhu
cầu vay vốn. Các khoản tín dụng này thường không được giao dòch mua bán trên thò
trường thứ cấp nên tính thanh khoản rất thấp.
Chứng chỉ quỹ đầu tư là một loại chứng khoán do công ty quản lý quỹ đại diện cho một

công cụ tài chính được phát hành lần đầu và được bán cho người đầu tiên mua
chúng. Bởi vì phát hành lần đầu nên thò trường này còn được gọi là thò trường cấp
một. Thò trường này ít quen thuộc với công chúng đầu tư vì việc bán chứng khóan
tới những người mua đầu tiên được tiến hành theo những thoả thuận riêng với sự
trợ giúp chủ yếu của các đònh chế tài chính làm nhiệm vụ bảo lãnh phát hành.
Thò trường thứ cấp
Thò trường thứ cấp hay còn gọi là thò trường lưu hành chứng khóan là thò trường giao dòch
các công cụ tài chính sau khi chúng đã được phát hành trên thò trường sơ cấp. Thò trường
thứ cấp còn được gọi là thò trường cấp hai.
Hoạt động trên thò trường thứ cấp diễn ra trong phạm vi rộng hơn với tổng mức lưu
chuyển vốn lớn hơn rất nhiều so với thò trường sơ cấp. Việc mua bán chứng khoán trên thò
trường này hòan tòan không làm thay đổi nguồn vốn (tăng hay giảm) của tổ chức phát
hành mà chỉ chuyển vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác. Hay nói cách khác, đây là
họat động chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khóan từ tay nhà đầu tư này sang nhà đầu
tư khác. Họat động giao dòch chứng khóan có thể xác đònh giá trò thò trường của công ty
phát hành ra chứng khóan đó. Đây là thò trường cạnh tranh tự do.
Mối quan hệ giữa thò trường thứ cấp và thò trường sơ cấp được thể hiện ở chỗ, thứ nhất là
thò trường sơ cấp tạo tiền đề cho họat động của thò trường thứ cấp vì đã tạo ra hàng hóa
cho thò trường giao dòch. Thứ hai là thò trường thứ cấp hoạt động làm cho các công cụ tài
chính có tính lỏng cao hơn và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trên thò
trường sơ cấp. Vì vậy, có thể nói thò trường thứ cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của
thò trường sơ cấp.
1.4 Khái niệm về trung gian tài chính
Trung gian tài chính là những tổ chức làm cầu nối giữa những người cần vốn và những
người cung cấp vốn trên thò trường. Trung gian tài chính, dù thuộc loại hình nào đi nữa,
đều có chung một đặc điểm là phát hành các công cụ tài chính để thu hút vốn. Mức chênh
lệch mà người trung gian nhận được giữa lãi suất cho vay (hay lợi tức đầu tư ) với lãi suất
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
các công cụ an toàn và có tính thanh khoản cao trên thò trường tiền tệ. Lãi suất của
các tài sản này sẽ được thanh toán đònh kỳ cho cổ đông.
Mặc dù phương thức hoạt động cụ thể của các trung gian tài chính là khác nhau, nhưng
vai trò trung gian tài chính của các tổ chức này được thể hiện qua một số mặt dưới đây.
Thứ nhất, trung gian tài chính thực hiện chuyển đổi thời gian đáo hạn của các công
cụ tài chính. Có thể nhận thấy chức năng này rõ nhất thông qua hoạt động của các
tổ chức nhận tiền gửi, chủ yếu là các ngân hàng thương mại. Nhờ có các trung gian
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
14
tài chính, cả nhà đầu tư (người gửi tiền) và người đi vay đều có thể lựa chọn được
những thời hạn thích hợp với mục tiêu của mình.
Thứ hai, trung gia tài chính có thể giúp giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư bằng
cách đa dạng hoá đầu tư. Các sản phẩm của trung gian tài chính càng đa dạng giúp
các nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư để giảm thiểu các rủi ro.
Thứ ba, thông qua trung gian tài chính các nhà đầu tư có thể giảm thiểu chi phí hợp đồng
và chi phí xử lý thông tin. Các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân thường
không có điều kiện để phân tích đánh giá một khỏan đầu tư, khả năng sinh lời cũng như
mức độ rủi ro của từng tài sản tài chính. Vì vậy họ phải thuê hợp đồng và phải trả các chi
phí thực hiện hợp đồng này. Các trung gian tài chính với tư cách là nhà đầu tư chuyên
nghiệp có thể giảm thiểu các chi phí này do họ có ưu thế về tính tập trung, tính chuyên
nghiệp và qui mô đầu tư lớn.
Thứ tư, các trung gian tài chính có thể cung cấp một cơ chế thanh tóan thuận tiện. Ngày
nay, đa số các giao dòch được thực hiện mà không dùng tiền mặt. Các trung gian tài chính
có thể thể cung cấp các phương thức thanh tóan không dùng tiền mặt như thành tóan qua
việc sử dụng sec, thẻ tín dụng, hoặc chuyển tiền điện tử.
1.5 Mối quan hệ giữa các bộ phận của thò trường tài chính
Qua giới thiệu về cấu trúc của thò trường tài chính, có thể nhận thấy giữa các thò trường bộ

trường tiền tệ và thò trường chứng khoán được thể hiện thông qua sự tác động của hai yếu
tố là lãi suất và tỷ giá hối đoái lên giá của chứng khoán. Tỷ giá hối đoái là nhân tố có tác
động mạnh mẽ nhất đối với quyết đònh đầu tư trên thò trường chứng khoán. Các nhà đầu
tư vào chứng khóan trên thò trường chứng khoán sẽ thay thế tài sản ngoại tệ vì chứng
khoán chính là tiền. Nếu tiền bò mất giá thì giá trò chứng khoán sẽ bò giảm. Bởi vì do giá
chứng khóan trên thò trường trong nước giảm, các nhà đầu tư này có thể chuyển vốn đầu
tư ra nước ngoài. Như vậy, tác động của tỷ giá hối đoái đã làm dòch chuyển đầu tư từ thò
trường chứng khoán sang thò trường hối đoái và trong trường hợp ngược lại, nếu đồng tiền
bản đòa cao giá so với ngọai tệ vốn sẽ chuyển từ đầu tư ngọai tệ sang đầu tư chứng khóan.
Lãi suất thò trường cũng là nhân tố tác động trực tiếp tới giá của chứng khoán thông qua
việc thay đổi mức sinh lời được các nhà đầu tư yêu cầu khi chấp nhận đầu tư vào chứng
khoán. Khi thò trường tiền tệ có dấu hiệu thay đổi lãi suất chiết khấu và lãi suất tái chiết
khấu từ ngân hàng trung ương thì lập tức thay đổi này sẽ ảnh hưởng tới lượng tiền cung
ứng và tác động tới cung tín dụng từ phía ngân hàng thương mại, đồng thời cũng tác động
tới giá của chứng khoán. Tuy nhiên, mức độ tác động của lãi suất vào giá trái phiếu và
giá cổ phiếu là không gống nhau. Lãi suất có tác động trực tiếp tới giá trái phiếu, khi lãi
suất chiết khấu tăng (hoặc giảm). Ngược lại, đối với cổ phiếu, quan hệ giữa lãi suất và
giá không phải là mối quan hệ trực tiếp và cùng chiều. Mức độ ảnh hưởng của lãi suất lên
giá cổ phiếu phụ thuộc vào các nguyên nhân gây ra thay đổi và mức độ tác động của thay
đổi này lên dòng thu nhập tương lai của cổ phiếu. Qua một số nghiên cứu thực tế cho thấy
mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu thường là ngược chiều. Bởi vì khi lãi suất thò
trường tăng, giá trái phiếu giảm thì nhà đầu tư có xu hướng chuyển từ đầu tư cổ phiếu
sang đầu tư trái phiếu làm cho giá cổ phiếu giảm và ngược lại. Với cấu trúc và cơ chế
họat động của thò trường tài chính nêu trên, quá trình lưu chuyển vốn trên thò trường tài
chính có thể mô tả qua sơ đồ dưới đây.
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
16

2. Doanh nghiệp
3. Hộ gia đình
Các tổ chức trung gian tài chính:
1. Ngân Hàng thương mại
2. Bảo hiểm, quỹ hưu trí
3. Tổ chức nhận tiền gửi và cho vay
4. Ngân Hàng
5. Các quỹ thò trường tiền tệ
Cầu về vốn:
1. Doanh nghiệp
2. Chính phủ
3. Hộ gia đình
Công cụ
thò trường
sơ cấp
Tiền tiết kiệm
Tiền tiết kiệm
Tiền tiết kiệm
Tiền tiết kiệm
Công cụ
thò trường
sơ cấp
Công cụ
thò trường
sơ cấp
Công cụ
thò trường
sơ cấp
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG


trường một cách trực tiếp. Ngược với cách tài trợ gián tiếp được thực hiện thông qua các
trung gian tài chính, những người có vốn có khi có đủ điều kiện về môi trường tài chính,
pháp lý… sẽ trực tiếp đầu tư vào sản xuất, kinh doanh không cần qua các trung gian tài
chính mà chuyển vốn thông qua thò trường chứng khoán, một thò trường dẫn vốn trực tiếp
từ người có vốn sang người cần vốn theo nguyên tắc đầu tư.
Nếu đầu tư qua các trung gian tài chính, các chủ thể đầu tư không thể theo dõi, kiểm tra,
quản lý vốn đầu tư của mình. Điều đó làm cho quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn tách
rời nhau, làm giảm động lực tiềm năng trong quản lý. Ngược lại, nếu đầu tư qua thò
trường chứng khoán, kênh dẫn vốn trực tiếp, các chủ thể đầu tư đã thực sự gắn quyền sử
dụng và quyền sở hữu về vốn, nâng cao khả năng quản lý vốn.
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
18
Chứng khóan thể hiện trên thò trường có thể coi như một tư bản hàng hóa. Bởi vì, thò
trường chứng khoán thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ. Các chứng khoán
mua bán trên thò trường chứng khoán có thể đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau
một thời gian nhất đònh và được lưu thông trên thò trường chứng khoán theo giá cả thò
trường. Có thể nói, thò trường chứng khoán là nơi mua bán các quyền sở hữu về tư bản, là
hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa. Những người sở hữu chứng khóan có
thể mua bán chứng khoán trên thò trường tại bất kỳ thời điểm nào, vì vậy, các chứng
khoán trung và dài hạn cũng có thể trở thành đối tượng đầu tư ngắn hạn.
2.1.2-Chức năng của thò trường chứng khoán
Vai trò quan trọng của thò trường chứng khóan được thể hiện như một công cụ tập trung
vốn cho nền kinh tế, thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân để tài trợ cho các dự án
đầu tư dài hạn và mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế của một quốc
gia, đặc biệt là với Việt nam, nơi đang có nhu cầu rất lớn về vốn cho đầu tư phát triển
kinh tế xã hội.
Các chức năng cụ thể của thò trường chức khóan được thể hiện qua các mặt dưới đây.

cũng như đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. Thông qua giá chứng khoán trên thò
trường hoạt động của các doanh nghiệp được phản ảnh một cách tổng hợp và chính xác.
Trên thò trường chứng khóan, các thông tin của doanh nghiệp được cung cấp cho các nhà
đầu tư qua bảng đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời và triển vọng
của doanh nghiệp đã phần nào lượng giá được tích sản của doanh nghiệp. Mặt khác, với
tính chất đặc biệt nhạy bén của thò trường chứng khóan, việc lên xuống giá của chứng
khóan cũng phản ánh được giá trò của doanh nghiệp biến động tại bất kỳ thời điểm nào.
Điều này cũng có thể giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp
được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Thứ năm, thò trường chứng khóan tạo điều kiện giúp chính phủ thực hiện các chính sách
kinh tế vó mô. Các chỉ báo của thò trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế
một cách nhạy bén và chính xác. Chỉ báo của thò trường chứng khoán tăng lên cho thấy
đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng. Ngược lại, chỉ báo giá chứng khoán giảm
sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Mặt khác, thông qua thò trường chứng
khoán, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm
hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dunïg một số chính
sách, biện pháp tác động vào thò trường chứng khoán để đònh hướng đầu tư đảm bảo phát
triển nền kinh tế theo mục tiêu của chính phủ.
2 2 Các chủ thể tham gia thò trường chứng khoán
Các tổ chức và cá nhân tham gia thò trường chứng khoán có thể được chia thành 4 lọai
gồm nhà phát hành, nhà đầu tư, các tổ chức kinh doanh chứng khóan và các tổ chức khác
có liên quan đến chứng khoán (cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội, các tổ chức khác).
2.2.1-Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thò trường chứng khoán.
Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hóa của thò trường chứng
khoán. Nhà phát hành có thể bao gồm:
(1) Chính phủ và chính quyền đòa phương là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ
và trái phiếu đòa phương;
(2) Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty;

Các tổ chức kinh doanh trên thò trường chứng khóan gồm các công ty chứng khóan và các
ngân hàng thương mại.
Công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lónh vực
chứng khóan có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính như bảo lãnh
phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Để có thể thực hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán phải đảm bảo được một số
vốn nhất đònh (theo qui đònh của từng quốc gia) và phải được phép của cơ quan có thẩm
quyền.
Các ngân hàng thương mại. Tại một số nước, các ngân hàng thương mại có thể sử dụng
vốn tự có để tăng và đa dạng hóa lợi nhuận thông qua đầu tư vào các chứng khoán. Tuy
nhiên, các Ngân hàng chỉ được đầu tư vào các chứng khoán trong những giới hạn nhất
đònh để bảo vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán. Một số nước cho
phép ngân hàng thương mại thành lập các công ty con độc lập để kinh doanh chứng
khoán và thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
2.2.3- Các tổ chức liên quan đến thò trường chứng khoán
Cơ quan quản lý nhà nước. Cơ quan quản lý, giám sát thò trường chứng khoán được hình
thành dưới nhiều mô hình hoạt động khác nhau. Có nước cơ quan quản lý, giám sát là do
các tổ chức tự quản thành lập, có nước cơ quan này trực thuộc chính phủ, nhưng có nước
lại có sự kết hợp quản lý giữa các tổ chức tự quản và nhà nước. Nhìn chung cơ quan quản
lý, giám sát họat động của thò trường chứng khóan là do chính phủ (nhà nước) thành lập
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
21
nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và bảo đảm cho thò trường chứng khoán hoạt
động lành mạnh, phát triển vững chắc. Chẳng hạn, tại Trung Quốc có cơ quan Giám quản
chứng khoán của Quốc vụ viện Trung Quốc. Tại Anh có Ủûy ban đầu tư chứng khoán (SIB
- Securities Investment Board). Tại Mỹ có Ủy ban Chứng khoán và Giao dòch chứng
khoán (SEC - Securities and Exchange Commission) là một cơ quan của liên bang có tư

2.3.1-Nguyên tắc trung gian
Theo nguyên tắc trung gian, các giao dòch trên thò trường chứng khoán được thực hiện
thông qua các tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thò trường sơ cấp, các
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
22
nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của các nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo
lãnh phát hành. Trên thò trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh
các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối khách
hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dòch mua bán chứng khoán trên tài khỏan của
mình. Nguyên tắc trung gian đảm bảo cho các lọai chứng khóan được giao dòch là các lọai
chứng khóan thực. Điều này vừa đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư vừa giúp thò trường
chứng khóan họat động lành mạnh và phát triển tích cực.
2.3.2-Nguyên tắc đấu giá
Việc xác đònh giá chứng khóan trên thò trường chứng khoán được thực hiện trên nguyên
tắc đấu giá. Nguyên tắc đấu giá được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ cung cầu trên thò
trường. Các lọai đấu giá được phân biệt theo hình thức cũng như phương thức thực hiện.
Căn cứ vào các hình thức đấu giá, các loại đấu giá gồm có đấu giá trực tiếp, đấu giá gián
tiếp và đấu giá tự động.
Đấu giá trực tiếp là hình thức đấu giá trong đó các nhà môi giới chứng khoán trực tiếp
gặp nhau thông qua người trung gian (một chuyên gia chứng khoán) tại quầy giao dòch để
thương lượng giá.
Đấu giá gián tiếp là hình thức đấu giá mà các nhà môi giới chứng khoán không trực tiếp
gặp nhau, mà chỉ thương lượng giá gián tiếp qua hệ thống điện thoại và mạng máy tính.
Đấu giá tự động là hình thức đấu thông giá qua hệ thống mạng máy tính nối giữa máy chủ
của sở giao dòch chứng khóan với hệ thống máy của các công ty thành viên. Các lệnh
mua, bán được truyền đến máy chủ, máy chủ tự động khớp các lệnh mua – bán có giá
phù hợp và thông báo kết quả cho những công ty chứng khoán có các lệnh đặt hàng được

niêm yết). Do đó thò trường chứng khoán phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố
thông tin công khai và minh bạch. Theo luật đònh, các bên phát hành chứng khoán có
nghóa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kòp thời các thông tin có liên quan đến tổ chức
phát hành, tới đợt phát hành. Công bố thông tin được tiến hành khi phát hành lần đầu
cũng như theo các chế độ thường xuyên và đột xuất. Thông tin được công bố thông qua
các phương tiện thông tin đại chúng, sở giao dòch, các công ty chứng khoán và các tổ chức
có liên quan khác.
Việc công khai thông tin về thò trường chứng khoán phải thỏa mãn yêu cầu chính xác, kòp
thời và dễ tiếp cận. Các thông tin công khai nhưng không xác thực hoặc không tin cậy có
thể dẫn tới những quyết đònh đầu tư sai lầm của các nhà đầu tư, ảnh hưởng tới quyền lợi
của các nhà đầu tư, vi phạm nguyên tắc công bằng trên thò trường chứng khoán, do đó đòi
hỏi thông tin cần phải chính xác. Nếu các thông tin công khai nhưng không kòp thời, chậm
trễ, lạc hậu thì sẽ gây thiệt hại cho các nhà đầu tư. Việc công khai thông tin thò trường
chứng khoán nhằm đảm bảo cho tất cả các nhà đầu tư có thể dễ dàng tiếp cận được.
Nguyên tắc công khai nhằm bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời nó cũng nói lên rằng một khi
thông tin đã được cung cấp đầy đủ, kòp thời và chính xác thì nhà đầu tư phải chòu trách
nhiệm về các quyết đònh đầu tư của mình.
2.4-Phân loại thò trường chứng khoán
Thò trường chứng khóan cũng được phân lọai dựa trên các tiêu chí khác nhau.
Thứ nhất, căn cứ vào tính chất phát hành hay lưu hành chứng khóan, thò trường chứng
khóan được phân thành thò trường sơ cấp và thò trường thứ cấp.
Thò trường sơ cấp hay thò trường phát hành. Thò trường sơ cấp hay thò trường phát hành là
thò trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thò trường này, vốn từ nhà đầu
tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán
mới phát hành.
Vai trò của thò trường sơ cấp gồm:
(1) Chứng khoán hóa nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty được huy động qua
việc phát hành chứng khoán;
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG


giao dòch được tập trung tại một đòa điểm, các lệnh được chuyển tới sàn giao dòch và tham
gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dòch.
Trên thò trường phi tập trung (OTC), các giao dòch (cả sơ cấp lẫn thứ cấp) được tiến hành
qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên tòan lãnh thổ của quốc gia và được
nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá cả trên thò trường này được hình thành theo phương
thức thỏa thuận.
Đối với thò trường thứ cấp, cấu trúc thò trường cơ bản được hình thành dựa trên cơ sở đấu
giá và đấu lệnh. Trong thò trường đấu giá, các nhà tạo thò trường đưa ra giá đặt mua và
giá chào bán loại chứng khoán được ấn đònh của họ. Các nhà đầu tư giao dòch những
chứng khoán này như đối tác của nhà tạo thò trường. Giá được xác đònh thông qua cạnh
ĐHQG HCM - KHOA KINH TẾ– NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BIÊN SOẠN: NGUYỄN THỊ CÀNH, TRẦN VIẾT HỒNG, CUNG TRẦN VIỆT, CAO HƯƠNG GIANG, TRẦN HÙNG SƠN
25
tranh giữa các nhà tạo thò trường. Thò trường này thực hiện các nguyên tắc đấu lệnh như
ưu tiên về giá, thời gian, ưu tiên về khách hàng, về số lượng (ưu tiên các lệnh có số lượng
lớn)…. Trong thò trường đấu lệnh, lệnh của các nhà đầu tư được ghép với nhau không có sự
tham gia của các nhà tạo thò trường. Lệnh được ghép tại mức giá thỏa mãn cả hai bên
mua và bán. Giá được xác đònh thông qua cạnh tranh giữa các nhà đầu tư. Trên thò trường
này, thực hiện phương thức ghép lệnh đònh kỳ hoặc ghép lệnh liên tục và cũng thực hiện
đầy đủ các quyền ưu tiên trong giao dòch. Trong đấu lệnh liên tục, lệnh được thực hiện
một cách liên tục bằng việc ghép lệnh ngay khi có các lệnh mới có thể ghép được.
Thứ ba, căn cứ vào hàng hóa trên thò trường, thò trường chứng khoán cũng có thể phân
thành thò trường cổ phiếu, thò trường trái phiếu, thò trường các công cụ chứng khoán phái
sinh.
Thò trường cổ phiếu là thò trường giao dòch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ
phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
Thò trường trái phiếu là thò trường giao dòch và mua bán các trái phiếu đã được phát hành,
các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu của công ty, trái phiếu đô thò, trái phiếu chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status