Tài liệu Báo cáo "Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép " - Pdf 10



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 23

ThS. Trần thị Huệ *
háp luật và tập quán các nớc đều ghi
nhận nguyên tắc chung là ngời gây ra
thiệt hại phải bồi thờng cho ngời bị thiệt
hại. Thiệt hại xảy ra dới nhiều tác động
khác nhau, cũng có thể đó là tác động khách
quan, cũng có thể do hành vi trái pháp luật
của con ngời mang lại. Về nguyên tắc
chung, ngời có hành vi xâm hại lợi ích của
Nhà nớc, của tập thể hay bất kì của tổ chức,
cá nhân nào thì tuỳ theo mức độ phải chịu
hậu quả pháp lí nhất định nh bị truy cứu
trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính,
trách nhiệm dân sự Ngời có quyền và lợi
ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền yêu cầu
cơ quan nhà nớc có thẩm quyền bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp đó của mình.
Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta gặp
không ít các trờng hợp hành vi của con
ngời mà về mặt hình sự, hình thức biểu hiện
của hành vi hội tụ các dấu hiệu của tội phạm
nhng trong hành vi đó có một số tình tiết
nhất định làm mất tính chất nguy hiểm cho

hợp vợt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng
Để bảo vệ lợi ích của Nhà nớc, của tổ
chức, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
mình hoặc của ngời khác, pháp luật cho
P

* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội
nghiên cứu - trao đổi
24 - Tạp chí luật học

phép một ngời có quyền phòng vệ chính
đáng để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp
pháp đó. Điều 15 BLHS năm 1999 quy định:
Phòng vệ chính đáng là hành vi của ngời
vì bảo vệ lợi ích của Nhà nớc, của tổ chức;
bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình
hoặc của ngời khác, mà chống trả một cách
cần thiết ngời đang có hành vi xâm phạm
các lợi ích nói trên, theo quy định này thì
hành vi phòng vệ đợc coi là chính đáng khi
thoả mn các điều kiện sau:
- Phòng vệ nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp
của Nhà nớc, của tập thể và của công dân.
- Thiệt hại xảy ra cho chính ngời có
hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến quyền

thiệt hại (khoản 2 Điều 617 BLDS). Ngời
gây thiệt hại cho ngời khác do vợt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thờng
thiệt hại theo nguyên tắc gây thiệt hại bao
nhiêu phải bồi thờng bấy nhiêu. Việc xác
định trách nhiệm dân sự của ngời do phòng
vệ vợt quá giới hạn mà pháp luật cho phép
phải bồi thờng toàn bộ hay chỉ bồi thờng
phần vợt quá hiện nay cha có văn bản
hớng dẫn cụ thể nên còn nhiều ý kiến trái
ngợc nhau.
ý kiến thứ nhất cho rằng ngời gây thiệt
hại do vợt quá phòng vệ chính đáng phải
bồi thờng cho ngời bị thiệt hại toàn bộ
thiệt hại mà ngời đó gây ra.
ý kiến thứ hai cho rằng ngời gây thiệt
hại chỉ phải bồi thờng phần thiệt hại do
hành vi vợt quá phòng vệ chính đáng (tức là
phần vợt quá so với phần thiệt hại mà kẻ tấn
công đ gây ra cho ngời phòng vệ).
ý kiến thứ ba lại cho rằng vì ngời bị
thiệt hại và ngời gây thiệt hại đều có lỗi
trong việc gây ra thiệt hại đó nên phải xác
định là trách nhiệm hỗn hợp. nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 25

Chúng tôi thấy ý kiến thứ nhất có tính

trờng hợp này chỉ mang tính tơng đối.
Nh vậy, không thể phiến diện so sánh
giữa thiệt hại của kẻ có hành vi trái pháp luật
gây ra và thiệt hại do ngời phòng vệ gây ra
để xác định việc phòng vệ chính đáng. Điều
đó càng chứng tỏ không thể xác định một
cách rạch ròi phần nào là phần vợt quá giữa
thiệt hại của kẻ tấn công và thiệt hại của
ngời phòng vệ gây ra cho kẻ tấn công để
buộc họ chỉ phải bồi thờng phần vợt quá.
Hai là, việc ngời có hành vi phòng vệ đ
sai lầm trong việc xác định thời điểm phòng
vệ quá muộn, quá sớm (để trả thù kẻ tấn
công) hoặc là đ sai lầm trong việc đánh giá
tính chất, mức độ nguy hiểm của sự tấn công
đều bị coi là hành vi trái pháp luật, không có
cơ sở của việc phòng vệ. Vì vậy, về mặt hình
sự, ngời có hành vi phòng vệ đó sẽ bị coi là
tội phạm (đợc giải quyết nh mọi trờng
hợp sai lầm khác). Về mặt dân sự, do đây là
hành vi trái pháp luật cho nên việc bồi
thờng của ngời có hành vi đó căn cứ vào
yếu tố lỗi và hậu quả đ gây ra. Bản chất của
hành vi gây hại do vợt quá giới hạn phòng
vệ chính đáng không còn là hành vi phù hợp
với quy định của pháp luật. Trong trờng hợp
này thì không thể xác định trách nhiệm dân
sự của ngời vợt quá giới hạn phòng vệ
chính đáng là chỉ phải bồi thờng phần thiệt
hại vợt quá so với phần thiệt hại do kẻ tấn

định: Tình thế cấp thiết là tình thế của một
ngời vì muốn tránh một nguy cơ đang thực
tế đe doạ lợi ích của Nhà nớc, của tập thể,
quyền và lợi ích chính đáng của mình hoặc
của ngời khác mà không còn cách nào khác
là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại
cần ngăn ngừa.
Nếu nguyên nhân đa đến hành vi gây
thiệt hại trong trờng hợp phòng vệ chính
đáng chỉ có thể do con ngời chủ động gây
ra thì nguyên nhân đa đến tình thế cấp thiết
có thể do hành vi trái pháp luật của con
ngời gây ra, có thể do yếu tố tự nhiên gây ra
nh động đất, lũ lụt, bo tố, cháy rừng.
Khoản 3 Điều 618 BLDS đ quy định trách
nhiệm của ngời gây ra tình thế cấp thiết:
Ngời đ gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến
thiệt hại xảy ra thì phải bồi thờng cho ngời
bị thiệt hại. Quy định này đợc hiểu là
ngời có hành vi trái pháp luật gây ra tình
thế cấp thiết buộc ngời khác phải hành
động thì ngời đó phải chịu trách nhiệm thay
cho ngời đ buộc phải hành động gây thiệt
hại.
Hành vi gây thiệt hại chỉ đợc coi là tình
thế cấp thiết khi đáp ứng đợc ba yêu cầu
sau:
+ Hành vi đợc thực hiện trong trờng
hợp nguy hiểm đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra
ngay tức khắc đe doạ trực tiếp đến lợi ích

nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 27

giản khi xác định trách nhiệm bồi thờng của
hành vi gây thiệt hại lại vợt quá yêu cầu của
tình thế cấp thiết (thiệt hại gây ra lớn hơn
thiệt hại cần ngăn chặn). Đặc biệt trong
trờng hợp ngời nào đó gây ra tình thế cấp
thiết buộc ngời khác phải hành động để bảo
vệ lợi ích đang bị đe doạ trực tiếp nhng
ngời này đ hành động vợt quá yêu cầu
của tình thế cấp thiết nên phải bồi thờng
cho ngời bị thiệt hại.
Khoản 3 Điều 618 BLDS chỉ quy định:
ngời gây hại phải bồi thờng cho ngời
bị thiệt hại mà không quy định cụ thể việc
bồi thờng nh thế nào trong trờng hợp nêu
trên. Việc quy định nh vậy dẫn đến có
nhiều cách hiểu khác nhau:
Thứ nhất, quy định này đợc hiểu là
ngời có hành vi gây thiệt hại vợt quá yêu
cầu của tình thế cấp thiết phải bồi thờng
toàn bộ thiệt hại (tức là cả phần thiệt hại phải
hi sinh để ngăn ngừa thiệt hại lớn hơn cộng
với phần thiệt hại vợt quá). Nếu vậy thì
ngời gây ra tình thế cấp thiết không phải
gánh chịu hậu quả pháp lí nào cả.
Thứ hai, trách nhiệm bồi thờng của
ngời gây ra tình thế cấp thiết và ngời gây
thiệt hại vợt quá yêu cầu của tình thế cấp

lợi ích đợc bảo vệ phải đợc đặt ra.
Trên thực tế có những trờng hợp vì để
bảo vệ lợi ích của Nhà nớc, của tập thể hoặc
của ngời khác mà một ngời đ hành động
quên mình trong tình thế cấp thiết, họ có thể
thiệt hại về sức khoẻ, về tính mạng. Vậy có
nên đặt ra vấn đề bù đắp thiệt hại cho họ hay
không? Nếu có thì ai là ngời thực hiện?
Ngời gây ra tình thế cấp thiết hay là ngời
có lợi ích đợc bảo vệ? Hay vì hành động
của họ là hành động có ích, tích cực, tự
nguyện thì chỉ cần x hội, Nhà nớc ghi
nhận là đủ. Vấn đề này cũng cần đợc pháp
luật quy định cụ thể.
Chế định bồi thờng thiệt hại ngoài hợp
đồng mang tính u việt nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích của ngời bị thiệt hại cũng nh
ngời gây thiệt hại, là cơ sở pháp lí quan
trọng để cơ quan nhà nớc có thẩm quyền áp
(Xem tiếp trang 31)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status