đề cương môn triết 2 - Pdf 10

NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT 2
Câu 1: Trình bày khái niệm hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa?
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, nó có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất
định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Khi nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác bắt đầu bằng
sự phân tích hàng hóa. Điều này bắt nguồn từ các lí do sau:
Thứ 1, hàng hóa là hình thái biểu hiện phổ biến nhất của của cải trong xã hội
tư bản
Thứ 2, hàng hóa là hình thái nguyên tố của của cải, là tế bào kinh tế trong đó
chứa đựng mọi mầm mống mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Thứ 3, phân tích hàng hóa nghĩa là phân tích giá trị - phân tích cái cơ sở của
tất cả các phạm trù chính trị kinh tế học của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Hai thuộc tính của hàng hóa là :
- Giá trị sử dụng:
1. Là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của
con người(VD: gạo để ăn, áo để mặc )
2. Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của hàng
hóa quy định.Nó là một phạm trù vĩnh viễn.
3. Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc
đã phát hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong
quá trình phát triển của khoa học – kĩ thuật.
4. Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu
dùng, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức
xã hội của của cải đó như thế nào.
5. Một vật muốn trở thành hàng hóa thì thì giá trị sử dụng của nó
phải là vật được sản xuất ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa
là vật đó phải có giá trị trao đổi. Trong kinh tế hàng hóa, giá trị
sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.
- Giá trị hàng hóa:

 Là năng lực sản xuất của lao động, nó được tính bằng số
lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn
vị sản phẩm.
 Có 2 loại năng suất lao động : năng suất lao động cá biệt
và năng suất lao động xã hội.
 Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi không phải theo
giá trị cá biệt mà là giá trị xã hội ⇒ Năng suất lao động
có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa đó chính là
năng suất lao động xã hội.
 Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động
xã hội cẩn thiết để sản xuất ra hàng hóa đó giảm, lượng
giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít và ngược lại.
 Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với số
lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao
động xã hội ⇒ Muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng
hóa xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội.
 Năng suất lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trình độ
khéo léo của người lao động, sự phát triển của khoa học –
kĩ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản
xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu
sản xuất và các điều kiện tự nhiên.
 Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn
trương, là sự căng thẳng mệt nhọc của người lao động.
 Khi cường độ lao động tăng lên, lượng lao động hao phí
trong cùng một đơn vị thời gian cũng tăng lên và lượng
sản phẩm được tạo ra cũng tăng lên tương ứng còn lượng
giá trị của một đơn vị sản phẩm không đổi.
2) Mức độ phức tạp của lao động:
 Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động

• Giá cả hàng hóa là biểu hiện bằng tiền tệ của giá trị hàng hóa.
• Trên thị trường, giá cả hàng hóa phụ thuộc vào các yếu tố: giá trị của
hàng hóa, cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền…
• Giá cả hàng hóa biến động lên xuống xoay quanh giá trị của nó. Sự
vận động của giá cả thị trường của hàng hóa xoay quanh trục giá trị
của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị.
Tác động của quy luật giá trị:
Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
- Điều tiết sản xuất tức là điều hòa, phân bố các yếu tố sản xuất giữa
các ngành,các lĩnh vực của nền kinh tế.
- Tác động này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả
hàng hóa trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu.
- Nếu cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ lên cao hơn giá trị, hàng
hóa bán chạy, lãi cao, thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành đó. Do
đó, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấy
tăng lên và ngược lại.
- Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả trên thị
trường. Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác động thu hút
luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, và làm cho lưu thông
hàng hóa thông suốt.
Kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lí hóa sản xuất, tăng năng suất lao động,
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng hóa là một chủ
thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình.
- Do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt của mỗi
người sẽ khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt
nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa sẽ có lợi, sẽ thu được
lãi cao và ngược lại.
- Đề giành lợi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ

Đặc điểm so sánh Công thức lưu thông hàng
hóa giản đơn(H-T-H)
Công thức lưu thông của tư
bản(T-H-T)
Khởi đầu và kết
thúc
Khởi đầu bằng việc
bán(H-T) và kết thúc bằng
việc mua(T-H).
Điểm xuất phát và điểm
kết thúc đều là hàng hóa.
Bắt đầu bằng việc mua(T-
H) và kết thúc bằng việc
bán(H-T).
Tiền là điểm bắt đầu và là
điểm kết thúc
Trung gian Tiền Hàng
Mục đích Là giá trị sử dụng để thỏa
mãn nhu cầu, nên các
hàng hóa trao đổi phải có
giá trị sử dụng khác nhau.
Không phải là giá trị sử
dụng, mà là giá trị tăng
thêm.
Số tiền thu về phải lớn hơn
số tiền ứng ra theo công
thức tư bản: T-H-T’
Giới hạn Khi người trao đổi có
được, giá trị sử dụng mà
họ muốn thì sự vận động

hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển tới một mức độ nhất định.
- Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của
lao động mới là hàng hóa. Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến
một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ( sản xuất
nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều
kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính điều này đã làm cho
sản xuất hàng hóa trở nên có tính chất phổ biến.
Câu 6: Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động?
1) Giá trị hàng hóa sức lao động:
- Do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái
sản xuất sức lao động quyết định
- Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của
con người. Muốn tái sản xuất ra năng lực đó, người công
nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định
về ăn, mặc, ở …và phải thỏa mãn những nhu cầu của gia
đình và con cái anh ta nữa. Chỉ có như vậy, sức lao động
mới được sản xuất và tái sản xuất ra một cách liên tục.
- Vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra
sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội
cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy.
- Là hàng hóa đặc biệt, giá trị hàng hóa sức lao động khác
với hàng hóa thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu
tố tinh thần và lịch sử.
- Tuy hàng hóa sức lao động bao hàm yếu tố tinh thần và
lịch sử, nhưng đối với mỗi nước nhất định, thì qui mô
những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là
một đại lượng nhất định, do đó có thể xác định được
lượng giá trị hàng hóa sức lao động do những bộ phận
sau hợp thành:
- Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh

chìa khóa để giải thích mâu thuẫn của công thức chung tư
bản.Chính điều đặc biệt này đã làm cho sự xuất hiện của
hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ
chuyển hóa thành tư bản.
*Câu 7: Trình bày khái niệm giá trị thặng dư, so sánh phương pháp sản
xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối.
Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao
động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
Điểm giống:
Đều làm tăng giá trị thặng dư và kéo dài thời gian lao động thặng dư.Hơn
nữa, đều còn làm tăng tỉ suất giá trị thặng dư và nâng cao trình độ bóc lột
của nhà tư bản.
Đặc điểm so sánh PP sx giá trị thặng dư tuyệt
đối
PP sx giá trị thặng dư
tương đối
Khái niệm Giá trị thặng dư tuyệt đối là
giá trị thặng dư được tạo ra
do kéo dài thời gian lao
động vượt quá thời gian lao
động tất yếu, trong khi năng
suất lao động xã hội, giá trị
sức lao động và thời gian
lao động tất yếu không thay
đổi
Giá trị thặng dư tương đối
là giá trị thặng dư được
tạo ra do rút ngắn thời
gian lao động tất yếu
bằng cách nâng cao năng

Bộ phận dùng để mua sức lao động thì khác. Một mặt, giá trị của nó biến
thành các tư liệu sinh hoạt của người công nhân và biến đi trong tiêu dùng
của công nhân.
Mặt khác, trong quá trình lao động, bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo
ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động, nó bằng giá trị sức
lao động cộng với giá trị thặng dư.
Như vậy bộ phận dùng để mua sức lao động đã không ngừng chuyển hóa từ
đại lượng bất biến thành một đại lượng khả biến, tức là đã tăng lên về lượng
trong quá trình sản xuất.
Bộ phận tư bản biến sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao
động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về
lượng gọi là tư bản khả biến(KH:v).
Như vậy, tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản
xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá
trình đó, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên.
Câu 9: Tại sao sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của
chủ nghĩa tư bản?
 Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật
phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất
đó.
 Thật vậy, giá trị thặng dư – phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao
động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không,
phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản –
quan hệ tư bản bóc lột lao động làm thuê. Giá trị thặng dư do lao động
không công của công nhân tạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà
tư bản.
 Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng
mà là sản xuất ra giá trị thặng dư. Nhà tư bản cố gắng sản xuất ra hàng
hóa với chất lượng tốt đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ vì nhà tư bản
muốn thu được nhiều giá trị thặng dư.

động trí tuệ, lao động có trình đọ kỹ thuật cao ngày càng có vai
trò quyết định trong việc sản xuất giá trị thặng dư. Chính nhờ
sử dụng lực lượng lao động ngày nay và tỷ suất và khối lượng
giá trị thặng dư đã tăng lên rất nhiều.
3) Ba là, sự bóc lột các nước tư bản chủ nghĩa phát triển trên
phạm vi quốc tế ngày càng được mở rộng dưới nhiều hình thức:
xuất khẩu tư bản và hàng hóa, trao đổi không ngang giá lợi
nhuận siêu ngạch mà các nước tư bả chủ nghĩa phát triển bòn
rút từ các nước kém phát triển trong mấy chục năm qua đã tăng
lên gấp nhiều lần. Sự cách biệt giữa những nước giàu và những
nước nghèo ngày càng tăng và đang trở thành mâu thuẫn nổi bật
trong thời đại ngày nay. Các nước tư bản chủ nghĩa phát triển
đã bòn rút chất xám, hủy hoại môi sinh, cũng như cội rễ đời
sống văn hóa của các nước lạc hậu, chậm phát triển.
Câu 10: Tích lũy tư bản là gì, những nhân tố ảnh hưởng đến tích lũy tư
bản?
Tích lũy tư bản là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư thành tư bản.
Các nhân tố ảnh hưởng tới tích lũy tư bản là:
Với khối lượng giá trị nhất định thì quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào tỷ
lệ phân chia giữa tích lũy và tiêu dùng.
Nếu tỉ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng đã được xác định, thì quy mô tích lũy tư
bản phụ thuộc vào giá trị thặng dư. Có bốn nhân tố ảnh hưởng đến khối
lượng giá trị thặng dư là:
Trình độ bóc lột giá trị thặng dư(m’):
Muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tăng thêm máy móc,
thiết bị và công nhân
Nhưng nhà tư bản không thể không tăng thêm công nhân, mà bắt số công
nhân hiện có cung cấp thêm một lượng lao động, bằng cách tăng thời gian
lao động và cường độ lao động, đồng thời , tận dụng một cách triệt để công
suất của số máy móc hiện có, chỉ tăng thêm nguyên liệu tương ứng.

dùng càng lớn, thì sự phục vụ không công của tư liệu lao động càng lớn.
Đại lượng tư bản ứng trước:
Trong công thức M = m’*V, nếu m’ không thay đổi thì khối lượng giá trị
thặng dư chi có thể tăng khi tổng tư bản khả biến tăng.Và tất nhiên tư bản
bất biến cũng phải tăng theo lên theo quan hệ tỷ lệ nhất định. Do dó, muốn
tăng khối lượng giá trị thặng dư phải tăng quy mô tư bản ứng trước.
Đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản xuất càng được mở rộng
theo chiều rộng và chiều sâu.
Tóm lại, để nâng cao qui mô tích lũy cần khai thác tốt nhất lực lượng lao
động xã hội, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để năng lực sản xuất của
máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu.
*Câu 10: Phân biệt tư bản cố định và tư bản lưu động?
*Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy
móc, thiết bị, nhà xưởng, tham gia vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của
nó không chuyển hết một lần vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần theo
mức độ hao mòn của nó trong thời gian sản xuất.
Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kì sản xuất và nó
bị hao mòn dần trong quá trình sản xuất .
Có hai loại hao mòn là hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình. Hao
mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về cơ học có thể nhận thấy
được. Hao mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên
làm cho các bộ phận của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và
phải được thay thế.
Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần túy về mặt giá trị. Hao mòn vô
hình xảy ra ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá. Để tránh hao
mòn vô hình, các nhà tư bản tìm cách kéo dài ngày lao động, tăng cường lao
động , tăng ca kíp làm việc nhằm tận dụng máy móc trong thời gian càng
ngắn càng tốt.
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan
trọng để tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng

hướng tập trung sản xuất quy mô lớn.
Cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà tư bản phải tích cực cải tiến kĩ thuật, tăng
quy mô tích lũy để thắng thế trong cạnh tranh. Đồng thời cạnh tranh gay gắt
làm cho các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản, còn các nhà tư bản lớn phát
tài, làm giàu với số tư bản tập trung và quy mô xí nghiệp ngày càng to lớn.
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa
làm phá sản hàng loạt xí nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quá trình
tích tụ và tập trung tư bản
Sự phát triển của hệ thống tín dụngư bản chủ nghĩa trở thành đòn bẩy mạnh
mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công ty cổ phần,
tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền.
Câu 13: Trình bày những đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc
quyền?
Năm đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền là :
- Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền:
Sự kết hợp này thực hiện thông qua các đảng phái tư sản.Thông qua các hội
chủ doanh nghiệp. Một mặt, các đại biểu của các tổ chức độc quyền tham gia
vào bộ máy nhà nước với những cương vị khác nhau.Mặt khác, các quan
chức và nhân viên chính phủ được cài vào các ban quản trị của các tổ chức
độc quyền, nắm giữ những chức vụ trọng yếu chính thức hoặc danh dự,hoặc
những người đỡ đầu các tổ chức độc quyền.
- Sự hình thành và phát triển của sở hữu nhà nước:
Nét nổi bật là sự kết hợp sức mạnh của độc quyền và sức mạnh của nhà nước
trong lĩnh vực kinh tế.
Sở hữu nhà nước hình thành dưới những hình thức sau: xây dựng doanh
nghiệp nhà nước bằng vốn của ngân sách, quốc hữu hóa các doanh nghiệp tư
nhân bằng cách mua lại. Nhà nước mua cổ phiếu của các doanh nghiệp tư
nhân và mở rộng doanh nghiệp bằng vốn tích lũy.
Đồng thời, sở hữu nhà nước thực hiện các chức năng quan trọng sau:
Thứ 1, mở rộng sản xuất TBCN , bảo đảm địa bàn rộng lớn cho sự phát triển

ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể hoặc không
muốn kinh doanh nhưng rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế. Từ đó
đòi hỏi vai trò của nhà nước đầu tư.
3) Sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giai cấp
tư sản với giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Do đó cần vai trò nhà
nước để xoa dịu , tạm thời hòa hoãn những mâu thuẫn đó.
4) Cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự bành trướng của các
liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân
tộc và xung đột lợi ích với các đối thủ trên thị trường quốc tế. Tình
hình đó đòi hỏi phải có sự điều tiết các quan hệ chính trị và kinh tế
quốc tế của nhà nước.
5) Ngoài ra, việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới, cuộc đấu tranh với
chủ nghĩa xã hội thực hiện và tác động của cách mạng khoa học và
công nghệ cũng đòi hỏi sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào đời
sống kinh tế.
Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:
 Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của các
tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước tư sản thành
một thiết chế và thể chế thống nhất, trong đó nhà nước tư sản bị phụ
thuộc vào các tổ chức độc quyền và can thiệp vào các quá trình kinh tế
nhằm bảo vệ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho chủ
nghĩa tư bản.
 Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của
chủ nghĩa tư bản độc quyền. Nó là sự thống nhất của ba quá trình gắn
bó chặt chẽ với nhau: tăng sức mạnh của các tổ chức độc quyền, tăng
vai trò can thiệp của nhà nước vào kinh tế , kết hợp sức mạnh của kinh
tế độc quyền tư nhân với với sức mạnh chính trị của nhà nước trong
một thể chế thống nhất và bộ máy nhà nước phụ thuộc vào các tổ chức
độc quyền.
 Lê Nin từng nói: “Bọn đầu sỏ tài chính dùng một mạng lưới dày đặc

Chính các đảng phái này đã tạo ra cho tư bản độc quyền một cơ sở xã
hội để thực hiện sự thống trị và trực tiếp xây dựng đội ngũ công chức
cho bộ máy nhà nước.
 Thông qua các hội chủ xí ngiệp, một mặt, các đại biểu của các tổ chức
độc quyền tham gia vào bộ máy nhà nước với những cương vị khác
nhau, mặt khác, các quan chức và nhân viên chính phủ được cài vào
các ban quản trị của các tổ chức độc quyền, nắm giữ những chức vụ
trọng yếu chính thức hoặc danh dự, hoặc trở thành những người đỡ
đầu các tổ chức độc quyền.
 Sự thâm nhập vào nhau này đã tạo ra những biểu hiện mới trong mối
quan hệ giữa các tổ chức độc quyền và cơ quan nhà nước từ trung
ương đến địa phương ở các nước tư bản.
 Đúng như Lê Nin đã viết: “Hôm nay là bộ trưởng, ngày mai là chủ
ngân hàng; hôm nay là chủ ngân hàng, ngày mai là bộ trưởng”.
Sự hình thành và phát triển của sở hữu nhà nước
 Sở hữu độc quyền nhà nước là sở hữu tập thể của giai cấp tư sản độc
quyền có nhiệm vụ ủng hộ và phục vụ lợi ích của tư bản độc quyền
nhằm duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản.Nó biểu hiện không
những ở chỗ sở hữu nhà nước tăng lên mà còn ở sự tăng cường mối
quan hệ giữa sở hữu nhà nước và sở hữu độc quyền tư nhân, hai loại
sở hữu này đan kết với nhau trong quá trình tuần hoàn của tổng tư bản
chủ nghĩa.
 Sở hữu nhà nước không chỉ bao gồm động sản và bất động sản cần
cho bộ máy của nhà nước, mà gồm cả những xí nghiệp nhà nước trong
công nghiệp và trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội : giao
thông, y tế
 Nhà nước được xây dựng dưới nhiều hình thức khác nhau là vì:
 Xây dựng xí nghiệp nhà nước bằng vốn của ngân sách
 Quốc hữu hóa các xí nghiệp tư nhân bằng cách mua lại
 Nhà nước mua cổ phần của các xí nghiệp tư nhân

kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?
Khái niệm giai cấp công nhân
Trong nhiều tác phẩm của mình C.Mác và Ăng ghen đã sử dụng nhiều thuật
ngữ như: giai cấp công nhân, giai cáp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai
cấp công nhân công nghiệp, giai cấp công nhân hiện đại Dù khái niệm giai
cấp công nhân có nhiều tên gọi khác nhau như thế nào đi nữa thì theo Mác
và Ăng ghen giai cấp công nhân vẫn chỉ mang hai thuộc tính cơ bản đó là :
Thứ 1, về phương thức lao động, phương thức sản xuất đó là những người
lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất
công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao. Đây là tiêu chí cơ bản để
phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời Trung cổ
thay người thợ trong công trường thủ công. C.Mác viết: “ Trong công trường
thủ công và trong nghề thủ công,người công nhân sử dụng lao động của
mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục từng máy móc”.
“Công nhân cũng là phát minh của thời đại mới. Giống như máy móc vậy…
công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại”.
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa , giai cấp công
nhân là những người lao động không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản
xuất, làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư. Đây là đặc
trưng cơ bản nhất của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ
nghĩa.Chính vì vậy, C.Mác và Ăng ghen đều gọi là giai cấp cấp công nhân
dưới chủ nghĩa tư bản là giai cấp vô sản.
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ, bộ mặt của chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi to lớn và đi
cùng với nó là sự thay đổi nhất định của giai cấp công nhân so với trước kia.
Cơ cấu nghành nghề của giai cấp công nhân đã có những thay đổi to lớn:
bên cạnh công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện công nhân của
nền công nghiệp tự động hóa- Giai cấp công nhân hiện nay không chỉ bao
gồm những người lao động trong công nghiệp , trực tiếp tạo ra giá trị vật
chất cho xã hội mà còn bao gồm những người lao động trong cá bộ phận

thành sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tập hợp các tầng
lớp nhân dân lao động xung quanh mình, tiến hành cuộc đấu tranh cách
mạng xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xã hội mới về mọi mặt.
Con đường để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình
đó chính là phải tiến hành cuộc cách mạng không ngừng và triệt để qua hai
giai đoạn:
Một là, lật đổ giai cấp tư sản giành lấy chính quyền, thiết lập nền
chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân
Hai là, sử dụng chính quyền mới làm công cụ cải tạo xã hội cũ, tập
hợp quần chúng nhân dân lao động xây dựng thành công xã hội mới – xã hội
xã hội chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vừa mang tính dân tộc vừa mang
tính quốc tế, có nghĩa vụ vừa kết hợp nghĩa vụ dân tộc đồng thời mang nghĩa
vụ quốc tế.
Điều kiện khách quan quy định xứ mệnh lịch sử:
* Đơn vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản chủ
nghĩa
Xét một cách tổng quát chúng ta có thể khẳng định rằng, địa vị kinh tế xã
hội của giai cấp công nhân quy định một cách khách quan vai trò xứ mện
của giai cấp công nhân bởi vì:
Thứ 1, giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất trong
bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư
bản.Trong nền sản xuất hiện đại, giai cấp công nhân vừa là chủ thể trực tiếp,
vừa là sản phẩm căn bản nhất của nền sản xuất đó. Tất cả các giai cấp khác
đều suy tàn và tiêu vong cùng với đòn đại công nghiệp, còn giai cấp công
nhân lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp.
Giai cấp công nhân hiện đại có xu hướng ngày càng được tri thức hóa
cao.Có điều này là bởi do yêu cầu khác quan của sự phát triển côn nghiệp
trong thời đại mà khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp.

trung đẳng Đó là giai cấp công nhân không gắn với tư hữu, do vậy, họ kiên
định trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới’
Thứ 3, giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao
Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có
trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ,
làm việc theo dây chuyền bắt buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ
nghiêm ngặt kỷ luật lao động. Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai chống lại
giai cấp tư sản- là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế - kỹ thuật nên giai cấp
công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỹ thuật của mình.
Thứ 4, giai cấp công nhân có bản chất quốc tế
Giai cấp công nhân ở tất cả các nước đểu có chung một mục đích là giải
phóng mình đồng thời giải phóng xã hội khỏi áp bức bóc lột và họ dể có
chung một kẻ thù là giai cấp tư sản bóc lột.Và cũng do yêu cầu của cuộc đấu
tranh giai cấp, để chống lại chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản khi mà chúng
đã liên kết với nhau thành tập đoàn tư bản, chủ nghĩa đế quốc,vì vậy mà giai
cấp công nhân càng phải nêu cao tinh thần quốc tế của giai cấp mình.
Vô sản ở các nước phải đoàn kết lại(C.Mac và Ăng ghen)
Vô sản tất cả các nước và các dân tộc vị áp bức đoàn kết lại(Lê nin)
Câu 17: Trình bày quy luật ra đời của đảng cộng sản , vai trò của đảng
cộng sản trong việc thực hiện sứ mệnh của giai cấp công nhân?
Quy luật ra đời của đảng cộng sản :
Trong thực tế lịch sử, phong trào của giai cấp công nhân chống lại giai cấp
tư sản đã nổ ra ngay từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành và phát triển, theo
qui luật có áp bức có đấu tranh.
Mặc dù, phong trào công nhân có thể phát triển về số lượng, qui mô cuộc
đấu tranh có thể được mở rộng nhưng cuối cùng đều bị thất bại vì thiếu một
lí luận khoa học và cách mạng soi đường.
Chỉ khi nào giai cấp công nhân đạt đến trình độ tự giác bằng cách tiếp thu lý
luận khoa học và cách mạng thì lúc đó phong trào đấu tranh của giai cấp này
mới thật sự là phong trào mang tính chất chính trị.

gương mẫu của mình để tập hợp, lôi cuốn quần chúng nhân dân vào các
phong trào cách mạng.
Đảng cộng sản là bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và cả dân
tộc. Khi nói tới vai trò tham mưu chiến đấu của đảng là muốn nói tới vai trò
đưa ra những quyết định của đảng, nhất là trong những thời điểm lịch sử
quan trọng.
Những quyết định đúng đắn sẽ tạo điều kiện đưa phong trào cách mạng tiến
lên,ngược lại có thể gây lên những tổn thất cho cách mạng. Sở dĩ đảng cộng
sản trở thành tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân vì đảng bao gồm
những người tiên tiến trong giai cấp công nhân,được trang bị kĩ thuật khoa
học, cách mạng và là những người được tôi luyện từ trong thực tiễn phong
trào cách mạng.
Câu 18: Trình bày khái niệm và nguyên nhân của cách mạng xã hội chủ
nghĩa?
Khái niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng nhằm thay thế chế độ tư
bản chủ nghĩa lỗi thời bằng chế độ xã hội chủ nghĩa, trong cuộc cách mạng
đó, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân
lao động xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh .
Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội chủ nghĩa được hiểu là một cuộc cách
mạng chính trị, được kết thúc bằng việc giai cấp công nhân cùng nhân dân
lao động giành được chính quyền,thiết lập nên nhà nước chuyên chính vô
sản- nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hôi chủ nghĩa bao gồm cả hai thời kì: cách
mạng về chính trị nhằm thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản và thời kỳ
sử dụng nhà nước của mình để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới về
mọi mặt kinh tế,chính trị, văn hóa tư tưởng
Nguyên nhân của cách mạng xã hội chủ nghĩa:
Nguyên nhân sâu sa của mọi cuộc cách mạng trong xã hội là do mâu thuẫn
gay gắt giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với sự kìm hãm của

còn tình trạng áp bức, bóc lột.
Hai là, chủ nghĩa xã hội được xây dựng trên nền sản xuất đại công nghiệp
có trình độ cao. Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo tiền đề vật
chất – kỹ thuật nhất định cho chủ nghĩa xã hội, nhưng muốn cho tiền đề vật
chất kỹ thuật đó phục vụ cho chủ nghĩa xã hội cần có thời gian tổ chức, sắp
xếp lại.
Ba là, các quan hệ xã hội của chủ nghĩa xã hội không tự phát sinh trong lòng
xã hội chủ nghĩa tư bản, chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo
xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, dù đã ở trình độ cao
cũng chỉ có thể tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành các quan hệ
xã hội mới xã hội chủ nghĩa
Bốn là, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một công việc mới mẻ, khó
khăn và phức tạp, phải cần có thời gian để giai cấp công nhân từng bước làm
quen với những công việc đó.
 Đặc điểm
Đặc điểm của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự tồn tại của xã hội cũ
đan xen với những nhân tố mới của chủ nghĩa xã hội trong mối quan hệ vừa
thống nhất vừa đấu tranh với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
như: chính trị, kinh tê, văn hóa, tư tưởng và phát triển theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Trên lĩnh vực kinh tế là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong hệ
thống kinh tế quốc dân thống nhất vận động theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.Nền kinh tế có nhiều thành phần được xác định trên cơ sở khách quan
của sự tồn tại nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất với những hình thức
tổ chức kinh tế đa dạng, đan xen hỗn hợp với nhau, nhiều hình thức phân
phối thu nhập khác nhau.
Trên lĩnh vực chính trị là sự tồn tại kết cấu giai cấp xã hội đa dạng,phức tạp
do đó ý thức chính trị của các bộ phận khác nhau cũng có sự khác nhau.
Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa- xã hội là sự tồn tại nhiều tư tưởng và văn
hóa khác nhau. Bên cạnh tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tư tưởng Mác – Lê nin


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status