Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng Nam Á - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nhất là trong giai
đoạn hiện nay, khi mà nền kinh tế đang trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh
CNH-HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt yếu tố con người là hàng
đầu, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy quá trình phát
triển kinh tế-xã hội. và coi đây là chìa khoá để hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Mặt khác, trước trào lưu chung của thế giới, chúng ta không thể có sự lựa
chọn nào khác là coi trọng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, biến trí
thức thành trí lực, động lực cho sự phát triển đất nước. Vì vậy, việc xây dựng
con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo
đức, thể chất…càng trở lên quan trọng và bức thiết.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của thị trường tài chính-tiền tệ
là một trong những mắt xích quan trọng cấu thành sự vận động nhịp nhàng
của nền kinh tế. Bởi vì, một sự biến động nhỏ của nó cũng tác động lớn đến
sự thay đổi của nền kinh tế. Trong thị trường tài chính-tiền tề, trung gian tài
chính quan trọng nhất chính là ngân hàng. Nó giúp luân chuyển vốn từ nơi
thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Cùng với sự phát triển, lớn mạnh của đất nước
thì chức năng, nhiệm vụ của ngành ngân hàng cũng không ngừng được hoàn
thiện và mở rộng và những bước chuyển mình cho phù hợp với điều kiện và
hoàn cảnh kinh tế mới. Chính vì vậy, nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực nói chung và nguồn nhân lực của ngân hàng nói riêng luôn là vấn đề
hết sức bức thiết. Nó quyết định sự thành công của ngân hàng.
Nhận thấy, tính cấp thiết của nguồn nhân lực trong thời kỳ hiện nay nên
tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại ngân
hàng Nam Á” để viết chuyên đề tốt nghiệp. Thông qua đề tài này tôi muốn
giới thiệu một các khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng,

1
cũng như thực trạng nguồn nhân lực và qua đây tôi cũng xin trình bày một vài
giải pháp nhằm giúp phát triển nguồn nhân lực của ngân hàng Nam Á.
CHƯƠNG I: GIỚi THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG

Email:
Mã số thuế: 0300872315-1.
Ngoài ra, ngân hàng TMCP Nam Á còn có các chi nhánh, phòng giao
dịch được đặt tại các quận, huyện trên cả nước. Gồm 16 chi nhánh mở tại Hồ
Chí Minh, 2 chi nhánh tại Khánh Hoà, 1 phòng giao dịch tại Nha Trang, 1 chi
nhánh và 1 phòng giao dịch tại Bình Định, 4 chi nhánh và 1 phòng giao dịch
tại Hà Nội, 1 chi nhánh tại Bình Phước.
- Vốn điều lệ: Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh gần đây nhất
là ngày 12/2006 của Phòng đăng ký kinh doanh thuộc sở Kế hoạch đầu tư
TP.HCM là: 575 tỷ đồng.
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Nam Á
Ngân hàng Nam Á chính thức hoạt động từ ngày 21/10/1992, là một
trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được thành lập sau khi
pháp lệnh về Ngân hàng được ban hành vào năm 1990, trong bối cảnh nước ta
đang tiến hành đổi mới kinh tế. Qua 14 năm hoạt động, cơ sở vật chất và
mạng lưới hoạt động của Ngân hàng ngày càng được mở rộng, đời sống cán
bộ nhân viên ngày càng được cải thiện, uy tín ngày càng được nâng cao.
Được hình thành theo tinh thần Pháp lệnh các tổ chức tín dụng, từ 4
điểm hoạt động, đến nay qua những chặng đường phấn đấu đầy khó khăn và
thách thức, Ngân hàng Nam Á đã không ngừng lớn mạnh, phát triển thành
một hệ thống gồm 1 Hội sở, 14 chi nhánh và 16 phòng giao dịch trên cả nước.
So với năm 1992, Ngân hàng chỉ có 50 nhân viên và vốn điều lệ là 5 tỷ đồng
thì hiện nay, vốn điều lệ tăng lên hơn 30 lần, quy mô hoạt động của Ngân
hàng tăng gấp 50 lần, số lượng cán bộ nhân viên tăng gấp 10 lần và phần lớn
là cán bộ trẻ, nhiệt tình được đào tạo chính quy trong và ngoài nước, có năng
lực chuyên môn cao.
Những năm gần đây, Nam Á Ngân hàng được biết đến là một trong
những ngân hàng thương mại cổ phần phát triển ổn định, bền vững, có chất
lượng tín dụng thuộc loại tốt và được Ngân hàng Nhà nước đánh giá xếp loại
A trong nhiều năm liền. Ngân hàng Nam Á là một trong số ít ngân hàng tại

doanh, có quyền phát hành chứng khoán ra ngoài theo quy định của pháp luật
về chứng khoán.

4
Ngân hàng Nam Á có ít nhất 35 cổ đông. trong đó có cổ đông là doanh
nghiệp nhà nước (có vốn góp của doanh nghiệp nhà nước trên 30% vốn điều
lệ). Tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được mua cổ phần của Nam Á Ngân
hàng khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép. Đến thời điểm hiện nay, toàn
bộ cổ phần sáng lập đã được chuyển thành cổ phần phổ thông theo quy định
hiện hành (Sau 3 năm kể từ ngày Ngân hàng được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, cổ phần ưu đãi sẽ được chuyển thành cổ phần phổ thông). Khi
Ngân hàng Nam Á phát hành cổ phần phổ thông mới thì sẽ được chào bán cho
các cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ tương đương với số cổ phần tương ứng mà họ
đang nắm giữ.
2.1.2 Loại hình kinh doanh
Là một ngân hàng thương mại, NH Nam Á chủ yếu thực hiện các hoạt
động kinh doanh sau:
- Về huy động vốn: Ngân hàng Nam Á nhận huy động vốn dưới các
hình thức sau:
+ Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác
dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền
gửi khác.
+ Thực hiện mua bán trái phiếu không kỳ hạn, có kỳ hạn của các tổ
chức tín dụng có quyền phát hành.
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước được Thống đốc
NHNN cho phép.
+ Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và
của tổ chức tín dụng nước ngoài.
+ Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn.

- Các hoạt động kinh doanh khác:
+ Dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh
nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật.

6
+ Góp vốn với tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tín
dụng liên doanh tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ về tổ chức và hoạt
động của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.
+ Tư vấn tài chính và tiền tệ trực tiếp cho khách hàng hoặc qua các
công ty trực thuộc được thành lập theo quy định của pháp luật.
+ Bảo quản hiện vật quý và các giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, nhận
cầm cố và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
2.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nam Á
Là một ngân hàng thương mại, cơ cấu tổ chức của NH Nam Á có đại
hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám Ban kiểm soát và
các phòng ban, các chi nhánh, phòng giao dịch. Trong đó:
- Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có quyền lực cao nhất của Nam Á
Ngân hàng và tất cả các cổ đông có tên trong danh sách đăng ký cổ đông đều
có quyền tham dự. Đại hội đồng cổ đông thường niên được tổ chức mỗi năm
một lần tại Việt Nam và có thể tổ chức bất thường khi Hội đồng Quản trị xét
thấy cần thiết vì lợi ích của Nam Á Ngân hàng. Các quyết định của Đại hội
đồng cổ đông dược thông qua bằng hình thức biểu quyết với sự chấp thuận
của 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cà cổ đông dự họp.
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản trị Ngân hàng, có toàn quyền
nhân danh Nam Á Ngân hàng để quyết định các vấn đề liên quan đến mục
đích, quyền lợi của Ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại
hội đồng cổ đông và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Đại hội
đồng cổ đông về kết quả hoạt động kinh doanh cũng như những sai phạm
trong quản lý, vi phạm điều lệ và vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho Nam Á
Ngân hàng. Cơ cấu Hội đông quản trị Nam Á Ngân hàng gồm các thành viên

đốc, kế toán trưởng. Ban kiểm soát có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lý, hợp
pháp trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ kế
toán và báo cáo tài chính, kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý,
điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định
của Đại hội đồng cổ đông, theo yêu cầu của cổ đông. Các bộ phận có chức
năng có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho Ban kiểm soát. Thành viên của ban
kiểm soát Ngân hàng Nam Á là:

8
+ Ông Nguyễn Văn Dậu: Trưởng Ban Kiểm soát
+ Ông Trần Văn Cáp
+ Bà Triệu Kim Cân.
- Các phòng ban nghiệp vụ có:
+ Phòng Tín dụng: có chức năng thực hiện các hoạt động về tín dụng
như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá… theo quy
định của NHNN. Đồng thời phải đảm bảo tính rủi ro cho các hợp đồng vay,
bảo lãnh …trên là thấp nhất.
+ Phòng thanh toán quốc tế: thực hiện các ngiệp vụ liên quan tới việc
bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán mà người nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá
nhân người nước ngoài.
+ Phòng Marketing: thực hiện các hoạt động nhằm nâng cao uy tín của
ngân hàng như thiết kế quảng cáo, xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển
thương hiệu ngân hàng.
+ Phòng kinh doanh vốn: điều chuyển vốn trong ngân hàng và giữa
ngân hàng Nam Á với các tổ chức tín dụng khác nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
của ngân hàng như: kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh tiền việt, mua bán chứng
khoán và các loại giấy tờ có giá khác…
+ Phòng pháp chế và thu hồi nợ: có nhiệm vụ đảm bảo việc đòi những
khoản nợ khó đòi đúng pháp luật.
+ Phòng kế toán: có chức năng thực hiện các nghiệp vụ kế toán của

NHÁNH
HỘI ĐỒNG XỬ
LÝ TÀI SẢN
PHÒNG THANH
TOÁN QUỐC TẾ
CÁC PHÒNG
GIAO DỊCH
HỘI ĐỒNG KHEN
THƯỞNG KỶ LUẬT
PHÒNG
MARKETING
CÁC CÔNG TY
TRỰC THUỘC
PHÒNG KINH
DOANH VỐN
PHÒNG PHÁP CHẾ
VÀ THU HỒI NỢ
PHÒNG KẾ TOÁN
PHÒNG KIỂM TRA
NỘI BỘ
PHÒNG KẾ HOẠCH-
ĐẦU TƯ
PHÒNG HÀNH CHÍNH
NHÂN SỰ

10
BAN TIFA (HIỆN ĐẠI
HOÁ CNTT)
BAN TƯ VẤN
3. Tình hình hoạt động của Ngân hàng

dựng hệ thống lõi chương trình ngân hàng (core bank) để đáp ứng nhu cầu
nghiệp vụ hiện tại, từng bước phát triển mở rộng dịch vụ, sản phẩm cũng như
tăng cường khả năng kiểm soát, dự báo và quản lý thông tin.
Về cơ bản ngân hàng đã xây dựng xong mạng cục bộ (mạng LAN) và
mạng hệ thống (mạng WAN) để kết nối hệ thống các Chi nhánh về Hội sở
nhằm tăng khả năng quản lý của Hội sở và để chuẩn bị vận hành chính thức
chương trình Core Banking.
- Về đầu tư trang thiết bị tài sản là hơn 58 tỷ đồng chiếm khoảng 10%
vốn tự có của Ngân hàng, đảm bảo tỷ lệ cho phép theo quy định của Ngân
hàng Nhà nước (dưới 50% vốn tự có).
3.3 Hoạt động tài chính của Ngân hàng
Năm 2005 là năm thị trường tài chính có nhiều diễn biến phức tạp (lãi
suất huy động tăng cao, giá vàng tăng mạnh và biến động bất thường …) cạnh
tranh trên thị trường tài chính-tiền tệ ngày càng mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó,
Ngân hàng Nam Á vẫn đạt được những kết quả hoạt động kinh doanh khả
quan, tạo đà phát triển trong những năm tới. Cụ thể là:
Bảng 1: Những chỉ tiêu hoạt động chủ yếu.
Chỉ tiêu Năm
2004
Năm
2005
Tỷ lệ
tăng/giảm
Các khoản mục chính trong bảng cân đối
kế toán
- Tổng huy động (tỷ VND)
- Tổng dư nợ (tỷ VND)
- Tổng tài sản (tỷ VND)
- Vốn điều lệ (tỷ VND)
1.017,72

16,51
12,30
16,51
Nguồn: Phòng Kinh doanh
Không những thế, vốn điều lệ cuối năm đạt 550 tỷ VND, so với kế
hoạch đề ra là 305 tỷ VND đạt 180,33% thể hiện sự phấn đấu rất cao của
Ngân hàng. Tổng lợi nhuận luỹ kế trước thuế tính đến cuối năm 2006 là 53,96
tỷ đồng đạt 114,81% so với kế hoạch. Tổng tài sản Ngân hàng tính đến cuối
năm 2006 là 3.884,44 tỷ VND, tăng 141,20% so với năm 2005 và đạt
152,93% so với kế hoạch năm 2006 là 2.540 tỷ đồng.
Các hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng được vận
hành tốt, đảm bảo an toàn và hiệu quả. Điều này được thể hiện rõ ràng qua
bảng số liệu sau:
Bảng 2: Số liệu so sánh từ năm 2004 – 2006
Đvt: tỷ đồng
Sử dụng vốn 2004 2005 2006 Nguồn vốn 2004 2005 2006
1. Dự trữ ngân quỹ
các loại
64,07 100,16 276,02
1. Tổng huy
động
1.017,02 1.391,72 3.157,62
2. Tiền gửi tại các
TCTD
185,51 92,06 1.138,80 2. Tài sản nợ 19,38 27,60 127,8
3. Cho vay các
TCKT, cá nhân
789,18 1.247,09 2.040,99 3. Vốn của TCTD 112,22 150,04 550,04
4. Khoản đầu tư 61,68 78,92 125,66 4. Quỹ của TCTD 4,62 6,76 9,84
5. Tài sản có khác 73,24 87,01 302,97 5. Lợi nhuận trước

cũng tăng. Chỉ tính riêng năm 2006 là 2.976,65 tỷ đồng trong đó có 2.047,54
tỷ đồng là tổng dư nợ cho vay. Tỷ lệ nợ xấu cũng chỉ là 1,62%%, thấp hơn
1,38% so với quy định 3% tại Quyết định 493 của Ngân hàng Nhà nước và
thấp hơn 0,38% so với chỉ tiêu Đại hội đồng cổ đông đề ra 2%.
Với tiều gửi định kỳ là nguồn huy động phát triển tương đối ổn định,
dư nợ cho vay của Ngân hàng Nam Á được sử dụng cho các khoản vay ngắn
và trung hạn. Còn nếu xét theo loại tiền thì VND chiếm tỷ trọng chủ yếu với
tỷ lệ là 87,4%, USD và vàng chiếm tỷ trọng thấp hơn trong tổng dư nợ, một
phần là do tình trạng biến động lớn của tỷ giá hối đoái và giá vàng trên thị
trường trong thời gian gần đây. Cấu trúc cho vay trong tổng dư nợ của Ngân
hàng tập trung vào nhóm khách hàng tư nhân (doanh nghiệp tư nhân, cá thể,
hộ gia đình) nhóm này chiếm 78% khoản nợ trong tổng dư nợ cho vay.

14
Hình 2. Cơ cấu dư nợ theo thời gian
69.4
30.2
0.4
ngắn hạn
trung hạn
dài hạn
Hình 3: Cơ cấu dư nợ theo loại tiền Hình 4: Cơ cấu dư nợ theo chủ thể
87.4
3.9
8.7
VNĐ
USD
Vàng

78

nhuận
Nguồn: Phòng Kinh doanh
Như vậy, lợi nhuận của NH Nam Á vẫn tăng trưởng nhanh và vững
trong năm 2006. Trên kết quả kinh doanh năm 2006, căn cứ vào các quy định
của NHNN có liên quan đến việc phân phối lợi nhuận và thông lệ của Ngân
hàng Nam Á, dự kiến trình Đại hội cổ đông mức phân phối cổ tức
11,12%/năm. Tuy lợi nhuận đạt vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra nhưng do sự gia
tăng nhanh của vốn điều lệ so với chỉ tiêu kế hoạch là 305 tỷ đồng, và hiện
nay là 550 tỷ đồng nên cổ tức dự kiến phân phối có giảm 1,38% so với chỉ
tiêu đề ra là 12,5%/năm.
Về các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng, NHNA luôn đảm bảo
đúng quy định của NHNN tại QĐ457/2005/NHNN. Đặc biệt các chỉ tiêu về
hệ số an toàn vốn, tỷ lệ thanh khoản, trạng thái ngoại hối, tỷ lệ sử dụng vốn
cho việc đầu tư tài sản cố định… luôn luôn được đảm bảo.

16
4.2. Về đóng góp cho ngân sách nhà nước:
Ngân hàng Nam Á luôn thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với ngân sách
nhà nước. Cụ thể là:
Bảng 4: Tình hình nộp thuế của ngân hàng năm 2005
Chỉ tiêu Số còn phải
nộp đầu năm
Số phải nộp
trong năm
Số đã nộp
trong năm
Số còn phản nộp
cuối năm
1. Thuế giá trị gia tăng 41.366.043 386.181.848 388.172.161 39.375.730
2.Thuế thu nhập doanh

nhập WTO thì điều này càng được thể hiện rõ hơn. Nó đòi hỏi Việt Nam phải
lựa chọn chính sách phát triển phù hợp, vừa phải tận dụng được cơ hội của
quá trình toàn cầu hoá, biến thành lợi thế cho mình, vừa phải bảo tồn được
những giá trị, bản sắc văn hoá dân tộc, giữ vững được độc lập, quyền tự chủ
của quốc gia. Điều đó chỉ có thể được đảm bảo bởi một đội ngũ lao động thực
sự có bản lĩnh, có đủ trí tuệ, năng lực, kinh nghiệm, sự nhạy bén và tháo vát
để hợp tác, để đấu tranh, ứng xử và đối phó kịp thời với mọi chuyển biến
phức tạp của thời cuộc. Mặt khác, cuộc cách mạng khoa học-công nghệ yêu
cầu lao động phải có chuyên môn và kỹ thuật cao.
Môi trường kinh tế quốc dân:
+ Hệ thống chính sách vĩ mô: Để nguồn nhân lực có thể đáp ứng được
yêu cầu mới. Nhà nước cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống các chính sách nhằm
tác động tới công tác đào tạo bồi dưỡng như: hoàn thiện chế độ và quy chế

18
đối với cán bộ công nhân viên chức cho phù hợp với tình hình hiện nay, kiện
toàn củng cố các cơ sở đào tạo bồi dưỡng như về cơ sở kỹ thuật, đội ngũ giáo
viên…, chính sách đầu tư…
+ Đất nước ta đang trên đà phát triển mạnh và đang trong giai đoạn đổi
mới toàn diện, sâu sắc; điều này kéo theo sự thay đổi không nhỏ về nhiệm vụ
và chức năng của ngành ngân hàng. Do đó, nhiều lĩnh vực mới đang cần được
bổ sung nhân lực, nhiều lĩnh vực quan trọng như thẩm định dự án, chiến lược
về đầu tư, kinh doanh ngoại tệ, vàng… đang cần có những chuyên gia có trình
độ cao về kinh tế, tin học, ngoại ngữ…Đòi hỏi mỗi người lao động phải
thường xuyên cập nhật thông tin mới, phải được đào tạo và đào tạo lại theo
yêu cầu của sự phát triển.
Ngay trong bản thân môi trường ngành cũng đã có những thay đổi tác
động mạnh mẽ tới nhân sự của các ngân hàng:
+ Đặc điểm hoạt động của ngân hàng là tổ chức huy động vốn, thực
hiện các nghiệp vụ về tín dụng và kinh doanh các giấy tờ có giá… Đây là

mạo hiểm, mức độ trung thành với ngân hàng là chưa cao, hay nhảy việc để
tìm kiếm sự mới mẻ làm cho cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực không ổn
định. Để hạn chế điều này, ngân hàng Nam Á cần có các chính sách lương
thưởng thoả đáng, cơ hội thăng tiến nghề nghiệp được chú trọng và quan tâm
đến phúc lợi cho nhân viên... Nó không chỉ nâng cao tinh thần làm việc của
nhân viên mà còn thu hút được nhân sự có năng lực để tạo ra một đội ngũ
nòng cốt kế thừa.
+ Về chất lượng lao động: Tất cả nhân viên trong ngân hàng đều có
trình độ từ đại học trở lên. Trong 576 nhân viên có khoảng 25% nhân viên có
bằng thạc sỹ, tiến sĩ. Không những thế đội ngũ cán bộ nhân viên Ngân hàng
Nam Á không ngừng được bồi dưỡng, đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên
môn thích ứng với công việc được giao thông qua các lớp đào tạo tại chỗ hoặc

20
tại các trường Đại Học. Ngân hàng đã tổ chức một số khoá đào tạo ngắn hạn
cũng như cử cán bộ tham gia các khoá đào tạo nghiệp vụ tại trường Đại học
Ngân hàng, tham gia các buổi hội thảo, tập huấn do NHNN, Hiệp hội Ngân
hàng tổ chức để nâng cao trình độ năng lực cho cán bộ nhân viên ngân hàng.
Nhờ vậy, Ngân hàng Nam Á đã tiêu chuẩn hoá các cán bộ và nhân viên toàn
ngân hàng. Đây cũng là một trong những cách thức tốt để giữ chân nhân viên.
Đặc điểm về loại hình kinh doanh: Là ngân hàng kinh doanh tiền tệ, có
ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế của đất nước. Nó đòi hỏi phải đảm bảo tính
thanh khoản trong kinh doanh, hạn chế những rủi ro trong kinh doanh tiền tệ.
Chính vì vậy, yêu cầu của ngân hàng đối với trình độ của nhân viên là rất cao.
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của
mình, ngân hàng thường tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nhằm nâng cao
trình độ chuyên môn của nhân viên.
Đặc điểm về cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của ngân hàng càng cồng
kềnh càng không hiệu quả. Có quá nhiều nhân viên không chỉ làm tăng chi
phí mà lợi ích cận biên mà nhân viên mang lại cho ngân hàng càng giảm, hiệu

trọng thì sẽ luôn tạo điều kiện cho nhân viên của mình có cơ hội được học hỏi
những điều mới, cập nhật thông tin và cũng sẽ chú trọng ngay từ khâu tuyển
chọn để xây dựng được một đội ngũ vững chắc, năng động, nhiệt tình ngay từ
đầu. Còn nếu ngược lại, thì nhân viên sẽ ít cơ hội được học tập và đào tạo, cập
nhật những thông tin mới nhất và chính nhân viên cũng sẽ không còn hứng
thú học hỏi, trau dồi kinh nghiệp.
Có thể nói hiện nay cái mà người lao động quan tâm không chỉ là tiền
lương, tiền thưởng mà còn là những cơ hội thăng tiến, cơ hội học tập, cơ hội
được thể hiện những gì mà mình có, khả năng sáng tạo…nơi nào đáp ứng
được yêu cầu đó thì họ sẽ đến đó. Chính vì vậy, để có thể giữ chân được nhân
viên của mình, yêu cầu nhân viên chung thành với ngân hàng thì mình phải
tạo điều kiện cho họ có một môi trường làm việc ổn định, phù hợp với năng
lực và khả năng của họ.

22
2. Thực trạng công tác tuyển dụng lao động của Ngân hàng TMCP Nam
Á
2.1 Quy trình tuyển dụng của Ngân hàng
Giống như hầu hết các ngân hàng khác trong nước, quy trình tuyển
dụng của Ngân hàng Nam Á có các bước chủ yếu sau:
+ Xác định nhu cầu tuyển: Điều này được xác định dựa trên nhu cầu
thực tế của Ngân hàng. Nó có thể phản ánh nhu cầu hiện tại hoặc nhu cầu
trong thời gian sắp tới của ngân hàng. Thông qua bước này, ngân hàng có thể
xác định được số lượng nhân viên cần tuyển.
+ Xác định vị trí cần tuyển: Từ nhu cầu tuyển, nhà quản lý xác định vị
trí, công việc mà ngân hàng đang thiếu, cần phải có trong hiện tại hoặc trong
tương lai gần để từ đó có thể xây dựng được một bảng mô tả công việc cho vị
trí cần tuyển. Kết quả của bước này là một bảng mô tả công việc và từ đó xác
định được rõ yêu cầu cụ thể với từng vị trí cần tuyển. Tuy nhiên, ngân hàng
chưa thực sự chú trọng đối với khâu này.

rộng chi nhánh, phòng giao dịch tăng thì nhu cầu về nhân sự của Ngân hàng
cũng tăng cao.
Mặt khác, trước đây các doanh nghiệp muốn tăng vốn, huy động vốn
vào các dự án thì phải tìm đến ngân hàng. Nhưng ngày nay, khi thị trường
chứng khoán mở rộng, sôi động thì doanh nghiệp có thể tự tăng vốn của mình
bằng cách phát hành cổ phiếu. Điều này có nghĩa, trước đây chỉ có các ngân
hàng cạnh tranh với nhau thì bây giờ họ phải cạnh tranh với cả những sàn
giao dịch chứng khoán đang ngày càng nhiều. Sức cạnh tranh tăng cao đòi hỏi
ngân hàng phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Đứng trước tình hình trên, ngân hàng đã quyết định phát triển, mở rộng
chi nhánh, tăng số lượng các phòng giao dịch trên cả nước. Tính từ năm 2002
đến nay, trung bình mỗi năm ngân hàng mở thêm được hơn 2 chi nhánh và
phòng giao dịch nâng số chi nhánh lên 14 chi nhánh và 16 phòng giao dịch
trên cả nước. Cùng với việc phát triển mở rộng quy mô thì số lượng nhân viên

24
của ngân hàng cũng tăng cao. Đặc biệt trong năm 2006 số lượng nhân viên
vào làm việc tại ngân hàng cao gấp 3 lần năm trước. Cụ thể là:
Bảng 5: Số lượng nhân viên tuyển dụng 2002-2006
Năm 2002 2003 2004 2005 2006
Số lượng tuyển
dụng
32 41 50 59 149
Nguồn: Phòng Tổng hợp
Qua các năm số lượng nhân viên của Ngân hàng Nam Á như sau:
Hình 7: Tình hình nhân sự của Nam Á 2002-2006
304
336
377
427


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status