Tài liệu Đề tài " Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh " doc - Pdf 10

Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu, học tập tại khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Đại
họchuyện Thăng Bình, được sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo em đã hoàn
thiện chuyên đề thực tập với đề tài: “Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng
Bình , thực trạng, nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh”.
Hoàn thành chuyên đề này, cho phép em được bày tỏ lời cảm ơn tới thầy giáo
Trần Hải Lộc (khoa Luật, Trường Đại học Kinh Tế,huyện Thăng Bình) đã tận tình chỉ
bảo, hướng dẫn, và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm chuyên đề, đồng thời cảm ơn
các thầy, cô giáo trong khoa đã giúp em hoàn thành chuyên đề này.
Tiếp đến, em xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị trong Công an huyện Thăng
Bình đã tạo điều kiện cho em thực tập và tích cực giúp đỡ, hỗ trợ tài liệu, cung cấp
kiến thức chuyên môn để em hoàn thành tốt bài viết của mình.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến ba mẹ, người thân và bạn bè đã luôn ở bên
cạnh giúp đỡ, động viên trong suốt khoảng thời gian học tập tại nhà trường, cũng như
trong thời gian làm chuyên đề thực tập.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người và xin gửi đến thầy cô
khoa Luật, trường Đại học Kinh tế -huyện Thăng Bình; anh chị ở Công an huyện
Thăng Bình những lời chúc tốt đẹp trong cuộc sống và trong công tác.
i
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Xuất phát từ tình hình thực tế về sự gia tăng tội phạm trộm cắp tài sản trên địa
bàn huyện Thăng Bình trong những năm gần đây, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an
toàn xã hội, và nhận thấy cần phải nắm vững các quy định pháp luật, nguyên nhân,
điều kiện của loại tội phạm này để từ đó có những biện pháp phòng, chống có hiệu quả
do đó nội dung của đề tài: “Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình,
thực trạng, nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh” gồm có 3 phần chính:
Chương 1: Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản.

5. Bố cục chuyên đề: 3
CHƯƠNG 1 4
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ 4
VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 4
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tội
trộm cắp tài sản 4
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1999: 4
1.1.2 Giai đoạn sau năm 1999: 7
1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 9
1.2.1 Khái niệm: 9
1.2.2. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản: 10
1.2.2.1. Khách thể: 10
1.2.2.2. Mặt khách quan: 11
1.2.2.3. Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản: 16
1.2.2.4. Chủ thể của tội trộm cắp tài sản 18
1.3 Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trộm cắp tài sản: 19
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH GIAI ĐOẠN 2008 - 2012 24
2.1. Sơ lược về huyện Thăng Bình: 24
2.2. Thực trạng trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình giai đoạn 2008 - 2012:25
2.3. Nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình: 31
2.3.1. Nguyên nhân về kinh tế-xã hội: 31
2.3.2. Nguyên nhân về văn hóa, giáo dục: 32
2.3.3. Nguyên nhân về chính sách pháp luật: 36
2.3.4. Nguyên nhân về phía cơ quan bảo vệ pháp luật: 38
2.4. Thực trạng đấu tranh, mối quan hệ kết hợp giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
huyện Thăng Bình với Viện Kiểm Sát Nhân Dân trong các vụ án hình sự về tội trộm cắp
tài sản: 40
CHƯƠNG 3 45

1.2.2.4. Chủ thể của tội trộm cắp tài sản 18
1.3 Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trộm cắp tài sản: 19
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH GIAI ĐOẠN 2008 - 2012 24
2.1. Sơ lược về huyện Thăng Bình: 24
2.2. Thực trạng trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình giai đoạn 2008 - 2012:25
2.3. Nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình: 32
2.3.1. Nguyên nhân về kinh tế-xã hội: 32
2.3.2. Nguyên nhân về văn hóa, giáo dục: 33
2.3.3. Nguyên nhân về chính sách pháp luật: 37
2.3.4. Nguyên nhân về phía cơ quan bảo vệ pháp luật: 39
2.4. Thực trạng đấu tranh, mối quan hệ kết hợp giữa Công an huyện Thăng Bình với
Viện Kiểm Sát trong các vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản: 41
CHƯƠNG 3 45
CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI TRỘM CẮP
TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH 46
3.1. Các biện pháp chung: 46
3.1.1. Biện pháp về kinh tế-xã hội: 46
3.1.2. Biện pháp về giáo dục, tuyên truyền, phổ biến các chính sách pháp luật: 47
3.1.3. Biện pháp tăng cường hiệu lực quản lý Nhà Nước về an ninh trật tự xã hội: 48
3.2. Các biện pháp cụ thể: 49
KẾT LUẬN 55
iv
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
VKS Viện Kiểm Sát
XHCN Xã hội chủ nghĩa
TNHS Trách nhiệm hình sự

Biểu đồ 2.4 tỷ lệ giới tính của cácđối tượng phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện
Thăng Bình từ năm 2008 – 2012 30
Biểu đồ 2.1 tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn huyện Thăng Bình từ năm 2008-201227
Biểu đồ 2.2 so sánh tình hình tội phạm nói chung với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn 28
huyện Thăng Bình từ năm 2008-2012 28
Biểu đồ 2.3 về tỷ lệ độ tuổi của các bị can phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng
Bình từ năm 2008-2012 29
Biểu đồ 2.4 tỷ lệ giới tính của các bị can phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng
Bình từ năm 2008 – 2012 31
vii
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
THĂNG BÌNH, THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ
CÁC BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH.
Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Nhiều năm qua, cả dân tộc ta đã đồng tâm, góp sức cho cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Song bên cạnh những
thành tựu to lớn đã đạt được, chúng ta vẫn còn những yếu kém và khuyết điểm, không
ít vấn đề bức xúc nảy sinh chưa được giải quyết, đặc biệt trong những năm qua tình
hình tội phạm diễn biến phức tạp, nhiều vụ án xảy ra với tính chất, hậu quả rất nghiêm
trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước ta có nhiệm vụ bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước cũng như của nhân dân. Với vai trò là nền tảng
kinh tế xã hội của quốc gia, chế độ sở hữu là một trong những vấn đề trọng yếu được
Nhà nước bảo vệ bằng mọi biện pháp trong đó biện pháp pháp lý hình sự thể hiện kiên
quyết nhất ý chí quyền lực Nhà nước trong xử lý các hành vi xâm phạm tới chế độ sở
hữu. Ở nước ta, quyền sở hữu được quy định và bảo hộ trong Hiến pháp và các văn
bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực: dân sự, hình sự Trong Bộ luật dân sự,

nghiêm minh của pháp luật. Nhận thức được điều đó, em xin chọn đề tài: “ Tội trộm
cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân và các biện
pháp đấu tranh.”
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm hiểu về những quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài
sản.
- Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài
sản trên địa bàn huyện Thăng Bình qua 5 năm ( 2008 – 2012 ).
- Đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp
tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Để đánh giá thực trạng của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng
Bình giai đoạn 2008 – 2012, em sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập – thống kê – tổng hợp số liệu : Trong chuyên đề
này đòi hỏi cần phải có những số liệu về tội trộm cắp tài sản từ năm 2008 – 2012,
2
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
các số liệu được tập hợp, thu thập từ các báo cáo, tài liệu của Công an huyện Thăng
Bình sau đó tiến hành thống kê, tổng hợp lại cho có hệ thống để phân tích.
- Phương pháp so sánh: giúp làm rõ tình hình tội trộm cắp tài sản tại huyện
Thăng Bình thông qua so sánh, đánh giá trong mối quan hệ tăng giảm với tình hình
tội trộm cắp tài sản, cũng như tình hình tội phạm hình sự nói chung trên phạm vi cả
Tỉnh.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Do thời gian thực tập ngắn ngủi và sự hạn chế của người viết, chuyên đề
không đi sâu chi tiết mà chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trên địa bàn huyện Thăng
Bình trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012, không phân tích tất cả các nguyên
nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài sản tại huyện Thăng Bình mà chỉ phân tích một
số nguyên nhân, điều kiện quan trọng. Từ đó, đưa ra một số biện pháp đấu tranh

của hợp tác xã, của nhân dân sẽ bị xử phạt từ năm năm đến hai mươi năm tù”
Ngoài các Sắc lệnh trên, để bảo hộ tài sản riêng của công dân, giữ gìn trật tự, trị
an, bảo đảm điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội và
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; để đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa, chống những
hành động xâm phạm tài sản riêng của công dân, Ủy Ban thường vụ quốc hội nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành hai Pháp lệnh nhằm trừng trị những tội xâm
phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng
của công dân.
Theo đó, Pháp lệnh quy định:
“Tài sản xã hội chủ nghĩa bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước
(tức sở hữu toàn dân), và tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã và các tổ chức hợp pháp
khác (tức sở hữu của tập thể)”;
4
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
“Tài sản của công dân gồm: của cải do sức lao động của công dân làm ra,
của cải thu nhập một cách hợp pháp hoặc để dành được như tiền bạc, xe cộ, nhà
cửa và những đồ dùng riêng khác”.
Điều 7 Pháp lệnh quy định tội trộm cắp tài sản XHCN như sau:
1. Kẻ nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.
2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây:
a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm;
b) Có tổ chức;
c) Có móc ngoặc;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Trộm tài sản với số lượng lớn hoặc tài sản có giá trị đặc biệt;
e) Dùng tài sản trộm cắp vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu cơ hoặc vào những
việc phạm tội khác;
Thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm.
3. Phạm tội trong trường hợp số tài sản bị xâm phạm rất lớn hoặc có nhiều tình

cắp tài sản đó là tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản riêng của công dân,
đã quy định cụ thể và tập trung các tình tiết tăng nặng định khung trong điều luật, có
các khung hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, góp
phần phân hoá TNHS người phạm tội.
Trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật
hình sự có vị trí rất quan trọng. Nó là một công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính
vô sản để bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa mọi hành vi phạm tội, góp phần hoàn thành
hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do đó,ngày 27/6/1985 BLHS năm 1985 được
thông qua với sự trình bày có hệ thống, toàn diện phần chung cũng như phần các tội
phạm có tính chất bao quát về tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm bảo vệ an
ninh quốc gia, trật tự xã hội,…
Điều 132 BLHS 1985 quy định tội trộm cắp tài sản XHCN như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam
giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a. Có tổ
chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b. Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c.
6
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
Hành hung để tẩu thoát; d. Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; đ. Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến
hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
Điều 155 BLHS 1985 quy định tội trộm cắp tài sản của công dân như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam
giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm. 2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm: a. Có tổ chức
hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b. Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm, hành hung

ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới. Ngày 21-
12-1999 Quốc hội khoá X đã thông qua BLHS của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1999 (Bộ luật có hiệu lực từ ngày 1-7-2000). Bộ luật có quy định rất cụ
thể về nhóm tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng. Theo đó
điều 138 BLHS 1999 quy định tội trộm cắp tài sản như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn
đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu
quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, hoặc đã bị
kết án về tội chiếm đoạt chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo
không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm
đến bảy năm: a. Có tổ chức; b. Có tính chất chuyên nghiệp; c. Tái phạm nguy hiểm; d.
Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ. Hành hung để tẩu thoát; e. Chiếm đoạt tài
sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g. Gây hậu quả
nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm
đến mười lăm năm: a. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới
năm trăm triệu đồng; b. Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai
năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm
trăm triệu đồng trở lên; b. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến dưới năm
mươi triệu đồng”.
Đối với tội trộm cắp tài sản, BLHS 1999 không còn quy định thành hai tội trộm
cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản của công dân mà quy định thống nhất thành
tội trộm cắp tài sản, vấn đề định lượng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là tình tiết định tội
8
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
và định khung hình phạt là những điểm thay đổi cơ bản của BLHS 1999 so với BLHS

9
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
trộm cắp tài sản cũng bao gồm 4 yếu tố cơ bản: khách thể, mặt khách quan, chủ thể,
mặt chủ quan.
1.2.2. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản:
1.2.2.1. Khách thể:
Khách thể của tội phạm là một trong 4 yếu tố cấu thành tội phạm; nó là những
quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ nhưng bị tội phạm xâm hại bằng cách gây
thiệt hại hoặc đe dọa trực tiếp gây thiệt hại ở một chừng mực nhất định. Nếu quan hệ
xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không
có tội phạm. Do đó, khi đề cập đến tội phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ
xã hội mà Luật hình sự bảo vệ bị xâm hại.
Theo Điều 51 BLTTHS quy định: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể
chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”. Như vậy trong tội “Trộm cắp tài sản”,
người bị hại là người bị thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra và khách thể của tội
phạm ở đây là quan hệ sở hữu về tài sản. Tuy nhiên, nó chỉ đúng trong trường hợp đối
với hành vi trộm cắp tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản; còn trong
trường hợp tài sản bị mất là tài sản do phạm tội mà có (như tài sản có được do đánh
bạc, do trộm cắp, cướp giật, tham ô…), hoặc do chiếm hữu bất hợp pháp (như cố ý
mua lại tài sản của kẻ gian, tài sản có được do dùng thủ đoạn gian dối…) thì người bị
mất tài sản có bị “thiệt hại về tài sản” hay không ? Có thể thấy trong trường hợp này,
người bị mất tài sản không hề bị thiệt hại gì đến tài sản của họ, bởi những tài sản mà
họ bị mất không được pháp luật thừa nhận và thực chất không phải là của họ, thậm chí,
việc họ có được tài sản đó còn bị pháp luật xử lý. Vì vậy, việc xác định khách thể của
tội “Trộm cắp tài sản” trong trường hợp này là khá phức tạp, bởi quan hệ sở hữu ở đây
không bị xâm hại. Theo Giáo trình Luật Hình sự phần chung – ĐHQGHN – TSKH Lê
Cảm chủ biên, trang 155-156 cho rằng: “Một quan hệ nào đó bị xâm hại nhưng không
được Nhà nước bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật thì không thể là khách thể của
tội phạm”.

giới khách quan bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã
hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ phương tiện, phương
pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội.
a. Hành vi nguy hiểm cho xã hội:
Là cách xử sự trái pháp luật hình sự và nguy hiểm cho xã hội. Trong các tội
xâm phạm sở hữu quy định tại chương XIV BLHS năm 1999, mỗi một tội phạm với
các cấu thành tội phạm khác nhau có các dấu hiệu tội phạm được phản ánh trong mặt
khách quan khác nhau. Hành vi trộm cắp tài sản là hành vi của chủ thể nhất định với ý
thức chiếm đoạt tài sản của người khác. Dấu hiệu chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản
11
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
là một dấu hiệu bắt buộc dù tài sản là đối tượng của hành vi trộm cắp tài sản đã bị
chiếm đoạt hoàn toàn (thuộc chiếm hữu của người phạm tội) hay chưa.
Theo khái niệm về tội trộm cắp tài sản như đã đề cập ở trên, ta đã thấy rõ, hành
vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người
khác.
Theo Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng, từ “lén lút” là hành vi: cố
giấu diếm, vụng trộm không để lộ ra do có ý gian. Trong tội “Trộm cắp tài sản”, hành
vi “lén lút” chiếm đoạt tài sản có đầy đủ những dấu hiệu này, thiếu một trong những
dấu hiệu đó sẽ không thể hiện được bản chất của sự “lén lút.
Nói cách khác, “lén lút” là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làm
bất minh, vụng trộm, giấu diếm không để lộ cho người khác biết, nhằm mục đích
chiếm đoạt trái phép tài sản của họ.
Tuy nhiên, nếu tất cả các hành vi “lén lút” của tội “Trộm cắp tài sản” đều được
thực hiện một cách giấu diếm, vụng trộm, thì việc nhận biết chúng sẽ dễ dàng hơn và
việc định tội danh cũng sẽ đơn giản hơn. Nhưng bởi thực tế, hành vi “lén lút” có nhiều
cách thể hiện. Có những hành vi lén lút được thực hiện một cách giấu diếm, vụng trộm
(trường hợp che giấu toàn bộ sự việc phạm tội); nhưng cũng có những hành vi lén lút
lại được thực hiện một cách công khai, trắng trợn không có ý che đậy hay giấu diếm

Khái niệm chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu pháp lý đặc trưng là: không có
căn cứ pháp luật để chuyển dịch, nắm giữ, quản lý tài sản của người khác, nhưng vẫn
thực hiện những hành vi này; nắm giữ, quản lý tài sản của người khác trái pháp luật và
không trả lại cho họ; chuyển tài sản lấy được làm tài sản bất hợp pháp của mình hoặc
chuyển dịch tài sản lấy được này cho người khác, bằng các giao dịch dân sự khác nhau
và cuối cùng là việc chiếm đoạt tài sản đã gây ra thiệt hại cho chủ sở hữu, người quản
lý hợp pháp.
Nghiên cứu tính chất của hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa quan
trọng, giúp phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội phạm khác nhất là tội công
nhiên chiếm đoạt tài sản. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta xem xét ví dụ sau
đây: Trường hợp A bị tai nạn giao thông và chết.
+ Nếu tại hiện trường có 1 người (có thể là người dân, người quen, công an, dân
phòng… ) đứng ra tự thu giữ và bảo quản tài sản cho A, thì lúc này người đó trở thành
người có trách nhiệm quản lý tài sản. Và nếu tội phạm “lén lút” với họ để chiếm đoạt
tài sản, thì là phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Còn ngược lại, nếu tội phạm công khai thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trước sự chứng kiến của họ, thì có thể là tội “Công
nhiên chiếm đoạt tài sản” hoặc “Cướp giật tài sản”…
13
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
+ Nếu hiện trường có nhiều người nhưng không có ai đứng ra quản lý tài sản
cho A, khi người phạm tội lấy tài sản công khai trước mặt mọi người nhưng không ai
can thiệp gì thì vẫn là tội “Trộm cắp tài sản”. Vì sự công khai chiếm đoạt tài sản này
không phải trước sự chứng kiến của chủ tài sản, do đó nó chỉ giống như trường hợp
móc túi giữa nơi đông người.
+ Nếu hiện trường không có ai ngoài A và người phạm tội, thì khi đó hành vi
chiếm đoạt tài sản sẽ là tội “Trộm cắp tài sản”. Bởi, tuy rằng người phạm tội không
cần thiết phải thực hiện hành vi lén lút nữa, nhưng việc không cần lén lút ở đây là do
điều kiện khách quan mang lại, chứ bản chất của việc chiếm đoạt vẫn là giấu diếm,
vụng trộm, vì người phạm tội lợi dụng việc A bị chết và không có ai ở đó để chiếm

người phạm tội đã lấy được tài sản đó ra khỏi vị trí ban đầu.
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản thể hiện qua sự biến đổi
tình trạng bình thường của tài sản được gọi là thiệt hại về tài sản, thể hiện dưới dạng
tài sản bị chiếm đoạt. Trong cấu thành tội trộm cắp tài sản, hậu quả của tội phạm là tài
sản bị chiếm đoạt có giá trị ở mức nhất định (từ năm trăm nghìn đồng trở lên- trong
trường hợp thông thường), dựa vào mức giá trị tài sản bị chiếm đoạt điều luật đã phân
chia thành các khung hình phạt tương ứng với các mức độ hậu quả đó.
c. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả:
Nội dung biểu hiện thứ ba thuộc mặt khách quan của tội phạm là mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là mối quan hệ giữa
các hiện tượng trong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan)
làm phát sinh một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của tội phạm).
Dựa vào cơ sở lý luận của cặp phạm trù nhân quả trong phép biện chứng có thể
xác định được các điều kiện của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội
phạm như sau:
- Hành vi phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian.
- Trong bản thân hành vi phải chứa đựng khả năng thực tế, mầm mống nội tại,
nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả.
- Nếu hậu quả xảy ra phải là hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu
quả của hành vi.
Một hậu quả của tội phạm có thể do 1 hoặc nhiều nguyên nhân (một hoặc nhiều
hành vi) trực tiếp gây ra. Do đó, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội
phạm được chia làm 2 dạng:
15
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
1/ Mối quan hệ nhân quả đơn trực tiếp: Là mối quan hệ nhân quả chỉ có một
hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả.
2/ Mối quan hệ nhân quả kép trực tiếp: Là quan mối hệ nhân quả có nhiều hành

Đối với tội trộm cắp tài sản, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Về mặt
lý trí, người phạm tội nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã
hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra; về mặt ý chí: người phạm tội mong
muốn hậu quả xảy ra, mong muốn chiếm đoạt được tài sản, hậu quả này người phạm
tội đã thấy trước và nó hoàn toàn phù hợp với mục đích của người phạm tội.
Việc xác định nhận thức chủ quan của người phạm tội để xác định lỗi của họ là
rất quan trọng: nếu người phạm tội biết rõ tài sản bị chiếm đoạt đang có người quản lý
thì sẽ phạm tội trộm cắp tài sản, còn nếu họ thực sự có sai lầm cho rằng tài sản đó là
của mình (ví dụ như cầm nhầm tài sản ) hoặc tài sản đó không có chủ thì sẽ không
phạm tội trộm cắp tài sản. Như vậy, khi người phạm tội thực hiện hành vi trộm cắp tài
sản, họ biết rõ tài sản đó là của người khác mà vẫn chiếm đoạt.
b. Động cơ phạm tội:
Biểu hiện thứ hai thuộc mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản là động cơ phạm
tội. Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi
phạm tội.
Động cơ phạm tội chỉ có thể đặt ra với các tội thực hiện với lỗi cố ý. Còn các
tội thực hiện với lỗi vô ý chỉ có động cơ của xử sự. Ví dụ: tại thời điểm vượt đèn đỏ,
động cơ của xử sự là để đưa bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu kịp thời nên đã gây hậu
quả tai nạn.
Đa số trường hợp phạm tội, động cơ phạm tội là tình tiết định khung tăng
nặng hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, việc xác định chúng có ý
nghĩa trong việc định khung hình phạt hoặc quyết định hình phạt.
Động cơ phạm tội trong tội trộm cắp tài sản là động cơ vụ lợi, nhưng đó không
phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội trộm cắp tài sản.
c. Mục đích phạm tội: là cái mốc mà người phạm tội mong muốn đạt đến
khi thực hiện tội phạm.
Giữa mục đích phạm tội và hậu quả của tội phạm luôn có mối liên quan chặt chẽ
với nhau, hậu quả của tội phạm chính là sự thể hiện, sự phản ánh mục đích phạm tội.
Chính vì vậy mà trong mỗi cấu thành tội phạm chỉ có sự hiện diện của một trong hai dấu
hiệu này mà thôi.

bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Người có
hành vi trộm cắp tài sản chỉ trở thành chủ thể của tội cướp giật tài sản khi họ có khả
năng nhận thức được tính chất thực tế (tính nguy hiểm cho xã hội) và tính pháp lý (tính
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status