Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
LỜI NÓI ĐẦU.
Hiện nay trên thế giới, một vấn đề có tính cạnh tranh giữa các quốc gia là
sự ganh đua về phát triển kinh tế. Và điều đó được đo bằng sự tăng trưởng của
chỉ tiêu GDP. Vì thế quốc gia nào cũng muốn tìm mọi cách đểû tăng chỉ tiêu
GDP của nước mình.
Đứng trước thách thức to lớn như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương
từ nay đến năm 2020 đưa nước ta thành một nước công nghiệp phát triển, từng
bước hoà nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Để làm được điều này, ngay
từ bây giờ Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiệm vụ cho tất cả các ngành, các cấp
thực hiện. Trong đó ngành Thống kê có nhiệm vụ quan trọng là phải tính toán
các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, mà quan trọng không chỉ là GDP theo năm mà còn
cả GDP quý để Chính phủ biết được thực trạng nền kinh tế nước nhà, tốc độ tăng
trưởng kinh tế không chỉ qua các năm mà còn qua các quý trong năm, cung cấp
thông tin kịp thời để các nhà hoạch định chính sách nhanh chóng đề ra các chính
sách phát triển kinh tế chiến lược ngắn hạn, cũng như dài hạn cho quốc gia, cho
vùng, lãnh thổ, xác định ngành nghề mới, gọi vốn đầu tư trong nước và từ nước
ngoài… để phát triển nền kinh tế nước nhà.
Khu vực 1 là một trong ba khu vực kinh tế trọng yếu của đất nước ta, chiếm
vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp lương thực – thực phẩm cho đời
sống các tầng lớp dân cư; cung cấp nguyên liệu cho các ngành khác hoạt động
như: công nghiệp chế biến, xuất khẩu…, và giải quyết vấn đề việc làm cho xã
hội. Vì vậy, một sự thay đổi của khu vực 1 sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế và ổn định xã hội của đất nước.
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của khu vực 1 đến sự phát triển nền kinh tế
của đất nước và sự đóng góp trong GDP toàn quốc qua các năm và qua từng quý
trong năm, cần phải tính GDP của khu vực 1 theo năm nói chung và theo quý nói
riêng. Từ đó có các chính sách, biện pháp phù hợp với sự phát triển của khu vực
1 và nền kinh tế qua các năm và qua từng quý trong năm để góp phần phát triển
kinh tế đất nước.
Từ ý nghĩa to lớn đó của GDP quý và vai trò của khu vực 1 trong nền kinh
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
Hệ thống tài khoản quốc gia (System of National Accounts –SNA) là một
trong hai hệ thống thông tin kinh tế xã hội tổng hợp trên thế giới, được hình
thành bởi một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, trình bày dưới dạng những
bảng cân đối hoặc những tài khoản tổng hợp nhằm phản ánh toàn bộ quá trình tái
sản xuất xã hội như: điều kiện sản xuất, kết quả sản xuất, chi phí sản xuất; quá
trình phân phối, phân phối lại thu nhập giữa các ngành kinh tế, giữa các khu vực
thể chế và các nhóm dân cư; phản ánh quá trình sử dụng cuối cùng kết quả sản
xuất cho các nhu cầu:tiêu dùng cuối cùng của cá nhân dân cư và xã hội ,tích lũy
tài sản, xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ với nước ngoài ...của một quốc gia.
2. Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống tài khoản quốc gia.
Cuộc đại quy thoái kinh tế các năm 1930 cùng với sự phát triển các lý
thuyết kinh tế vĩ mô đã thúc đẩy các nước chú ý nghiên cứu về thu nhập quốc gia
cũng như thống nhất cách tính các chỉ tiêu kinh tế để có thể so sánh được trên
phạm vi thế giới.
Năm 1947, bản báo cáo đầu tiên về SNA của Richard Stone công bố, là một
hệ thống gồm 9 bảng biểu và 24 tài khoản, trong đó thể hiện rõ cách tiếp cận
hạch toán trên phạm vi xã hội (Social accounting approach). Cách tiếp cận hạch
toán xã hội được xem như là sự phát triển logic và trở thành nguyên lý cơ bản
cho các hướng hoàn thiện SNA sau này. Tuy nhiên SNA 1947 chỉ áp dụng được
đối với những nước phát triển và các giao dịch chủ yếu là các giao dịch về tiền
tệ.
Năm 1952, Liên hợp quốc đã tổ chức nghiên cứu, xây dựng một hệ thống
tài khoản quốc gia chuẩn công bố năm 1953 dựa trên báo cáo đầu tiên về SNA
năm 1947. Trong SNA 1953 có 6 tài khoản chuẩn và 12 biểu trình bày chi tiết
các luồng ghi tài khoản. SNA 1953 phát triển thêm các giao dịch về vốn và mở
rộng phạm vi áp dụng cho các nước đang phát triển. Tuy nhiên SNA năm 1953
không có bảng I-O.
Năm 1968, Uỷ ban thống kê Liên hiệp quốc công bố SNA 1968 công bố lần
thứ 2 sau khi điều chỉnh lần đầu. Trong SNA 1968 ngoài phần mở rộng và chi
Như vậy, từ năm 1993, Việt Nam đã áp dụng hệ thống tài khoản quốc gia thay
cho bảng cân đối kinh tế quốc dân. Đến nay, sau 10 áp dụng SNA, vụ hệ thống
tài khoản quốc gia nước ta đã thu được những thành tựu nhâùt định như: đã tính
được một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp như: GDP, tích luỹ tài sản, tiêu dùng cuối
cùng, GNI… và đã lập được một số tài khoản chủ yếu phục vụ quản lý vĩ mô của
Đảng và Nhà nước.
3. Tác dụng của hệ thống tài khoản quốc gia.
Hệ thống tài khoản quốc gia là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô nền kinh
tế quốc dân. Nó có những tác dụng sau:
- Số liệu của SNA phản ánh một cách tổng hợp toàn bộ kết quả sản xuất
nền kinh tế quốc dân, cung cấp thông tin chi tiết để theo dõi một cách toàn diện
các diễn biến của nền kinh tế: tích luỹ tài sản, xuất nhập khẩu, tiêu dùng cuối
cùng của dân cư và xã hội.
- Cung cấp thông tin để tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, nghiên cứu
các cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân: cân đối giữa tiêu dùng và sản xuất,
xuất khẩu và nhập khẩu, tiêu dùng và tích luỹ … và các cơ cấu kinh tế.
- Nghiên cứu quá trình sản xuất, phân phối và phân phối lại và sử dụng
cuối cùng, nghiên cứu các mối quan hệ giữa các ngành trong nền kinh tế thông
qua các mô hình kinh tế vĩ mô do các nhà kinh tế thế giới đề xuất. Trên cơ sở kết
quả phân tích và dự báo, đề ra chiến lược và chính sách kinh tế phù hợp.
- Hệ thống tài khoản quốc gia là một chuẩn mực của hệ thống kê Liên
Hiệp Quốc, thống nhất được phạn vi, nội dung và phương pháp hạch toán nền
kinh tế, do đó đảm bảo tính so sánh được trong so sánh quốc tế, đánh giá trình độ
tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia.
Trường đại học kinh tế quốc dân
4
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
Trên đây là những tác dụng của SNA. Chính những tác dụng này của SNA đã
khẳng định vai trò to lớn của SNA trong quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô.
4. Các tài khoản chủ yếu của SNA.
Tài khoản sản xuất có tác dụng đánh giá tổng hợp kết quả xuất của nền kinh tế
quốc dân. Thông qua tài khoản sản xuất ta có thể nắm bắt được các chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp như: giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm, thặng dư
sản xuất, khấu hao tài sản cố định. Trên cơ sở đó nghiên cứu kết cấu giá trị của
sản phẩm (C, V, M).
Trường đại học kinh tế quốc dân
5
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
Tài khoản sản xuất được thiết lập với các phân tổ như: theo nghành kinh tế,
theo thành phần kinh tế, theo khu vực thể chế... có ý nghĩa quan trọng trong việc
nghiên cứu cơ cấu sản xuất của nền kinh tế.
4.2. Tài khoản thu nhập và chi tiêu.
a. Đối tượng nghiên cứu của tài khoản thu nhập và chi tiêu.
Tài khoản thu nhập và chi tiêu là hệ thống các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp có
liên hệ hữu cơ với nhau được trình bày dưới dạng tài khoản nhằm phản ánh quá
trình hình thành, phân phối và phân phối lại các khoản thu nhập và chi tiêu giữa
các thành viên của khu vực thể chế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một
thời kỳ nhất định.
Khác với tài khoản sản xuất, tài khoản thu nhập và chi tiêu chỉ nghiên cứu
quá trình tái sản xuất theo quan điểm tài chính, tức là tài khoản thu nhập và chi
tiêu ngiên cứu quá trình sản xuất và phân phối kết quả sản xuất
b. Tác dụng của tài khoản thu nhập và chi tiêu .
Tài khoản thu nhập và chi tiêu là một trong 4 tài khoản chính, chủ yếu của
SNA, đứng thứ 2 sau tài khoản sản xuất. Nó có những tác dụng chủ yếu sau:
- Tài khoản thu nhập và chi tiêu phản ánh quá trình phân phối và phân
phối lại tổng sản phẩm trong nước (GDP), quá trình chuyển nhượng thu nhập
giữa các thành viên trong các khu vực thể chế và giữa các khu vực thể chế, giữa
trong nước và nước ngoài. Từ đó hình thành thu nhập của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân nói chung cũng như từng khu vực thể chế nói riêng.
- Thông qua tài khoản thu nhập và chi tiêu ta có thể tính được các chỉ tiêu:
và từng khu vực thể chế .
Thông qua tài khoản này, có thể đánh giá khả năng tích luỹ từ nguồn sản
xuất trong nước, mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài, định hướng phát
triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển sản xuất nói riêng trên nền tảng hiện có.
4.4. Tài khoản quan hệ kinh tế với nước ngoài
a. Đối tượng nghiên cứu của tài khoản quan hệ kinh tế với nước ngoài
Tài khoản quan hệï kinh tế với nước ngoài là một hệ thống các chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp trình bày dưới dạng tài khoản, phản ánh mối quan hệ kinh tế của nền
kinh tế quốc dân với nước ngoài.
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của tài khoản quan hệ kinh tế với nước
ngoài là các quan hệ kinh tế của nền kinh tế với nước ngoài. Đó là các quan hệ
kinh tế thường xuyên với nước ngoài như: quan hệ trao đổi hàng hoá dịch vụ
(còn gọi là hoạt động xuất nhập khẩu), quan hệ thu – chi nhân tố sản xuất như:
lao động, vốn, tài sản, các quan hệ thu - chi chuyển nhượng thường xuyên dưới
hình thức bắt buộc và tự nguyện, quan hệ mua bán tài sản vật chất và tài sản tài
chính; và các quan hệ về vốn - tài sản – tài chính với nước ngoài.
b. Tác dụng của tài khoản quan hệ kinh tế với nước ngoài .
Tài khoản quan hệ kinh tế với nước ngoài phản ánh quá trình trao đổi, giao
lưu sản phẩm vật chất và dịch vụ, chuyển nhượng hiện hành, chuyển nhượng
vốn, cũng như quan hệ thu nhập về các nhân tố sản xuất với nước ngoài .
Nghiên cứu mối quan hệ cân đối giữa xuất khẩu với nhập khẩu, thu nhập và
chi trả về lợi tức sở hữu các nhân tố sản xuất như: lao động, vốn kinh doanh, đất,
tài nguyên... chuyển nhượng hiện hành dưới hình thức bắt buộc và tự nguyện,
chuyển nhượng vốn (tư bản) dưới hình thức viện trợ, cho không, quà biếu của
các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, vay và cho vay với nước ngoà. Trên cơ
sở đó định ra các chính sách và chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại.
Tài khoản quan hệ kinh tế với nước ngoài còn được sử dụng làm cơ sở để
kiểm tra lại một số chỉ tiêu trong các tài khoản khác, như tài khoản sản xuất, tài
khoản thu nhập và chi tiêu, tài khoản vốn –tài sản –tài chính.
4.5. Bảng vào /ra
trong hệ thống Tài khoản quốc gia được cấu thành bởi các chỉ tiêu kinh tế tổng
hợp khác nhau. Song giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Mối quan
hệ đó được thể hiện thông qua phương pháp kế toán kép. Một chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp nào đó được thể hiện bên nguồn (thu, có) của tài khoản này, đồng thời
nó cũng được thể hiện bên sử dụng (chi, nợ) của tài khoản khác và ngược lại. Cụ
thể, ta có sơ đồ sau:
Nhập khẩu
Trả công người SX thuần thu LTNT
Thuế SX
Thặng dư SX thuần thu CNHH khác
TDCC nhà nước
TDCC hộ gia đình thuần
TLTS cố định để dành
Trường đại học kinh tế quốc dân
8
TK
Thu - chi
TK vốn – tài
sản - tài chính
TK quan hệ
KT với NN
TK
sản xuất
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
TLTS lưu động
Thuần thu CN vốn
Tích luỹ TSQH
Khấu hao TSCĐ thuần thu về TSTC
Thuần thực tế các khoản nợï
Xuất khẩu
3. Sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ tạo ra phải hữu ích và phải được
xã hội chấp nhận, tức thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội, của sản xuất, cho
đời sống và cho tích luỹ.
Trường đại học kinh tế quốc dân
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
Quan niệm về sản suất trên đây của SNA đã mở rộng phạm vi tính toán các
chỉ tiêu kinh tế tổng hợp trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân. Ngoài
ra, nó còn cho phép phân định hoạt động nào là hoạt động sản xuất, hoạt động
nào là hoạt động phi sản xuất; chi phí nào được tính vào chi sản xuất (tiêu dùng
trung gian), chi phí nào đựơc tính vào tiêu dùng cuối cùng, kết quả nào được tính
vào kết quả sản xuất… Tuy nhiên, trong thực tế, khi xây dựng SNA, phải căn cứ
vào đặc điểm kinh tế xã hội, điều kiện thu thập thông tin và trình độ hạch toán
thống kê ở mỗi nước mà có những quy điịnh thêm.
5.2. Lãnh thổ kinh tế.
Trong nền kinh tế mở, khi mà tất cả các quốc gia đều có những mối quan hệ
giao lưu kinh tế xét trên tất cả các mặt: sản xuất, xuất nhập khẩu… với nhau và
những mối quan hệ này thường rất đa dạng và phức tạ thì vấn đề đặt ra có tính
nguyên tắc trong SNA là phải xác định rõ ràng và cụ thể phạm vi hạch toán kinh
tế ở từng quốc gia. Để giải quyết vấn đề này, SNA sử dụng hai khái niệm có liên
quan đến nhau rất chặt chẽ với nhau là: lãnh thổ kinh tế, đơn vị thường trú và
đơn vị không thường trú.
* Lãnh thổ kinh tế.
Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp trong các tài khoản thuộc SNA được tính theo
phạm vi lãnh thổ kinh tế. Lãnh thổ kinh tế của một quốc gia là lãnh thổ địa lý của
quốc gia đó, không kể phần địa giới các sứ quán, lãnh sự quán, khu quân sự, cơ
quan làm việc của các tổ chức quốc tế … mà các quốc gia khác, các tổ chức của
Liên Hiệp Quốc, các tổ chức phi Chính phủ… thuê và hoạt động trên lãnh thổ
quốc gia đó và được tính thêm phần địa giới các tổ chức tương ứng của quốc gia
đó thuê và hoạt động trên lãnh thổ địa lý của quốc gia khác, bao gồm :
dưới 1 năm.
Ngược với khái niệm đơn vị thường trú là khái niệm đơn vị không thường
trú dùng để chỉ tất cả các tổ chức hay cá nhân không phải là đơn vị thường trú
cuả một quốc gia, bao gồm:
- Phần còn lại của các đơn vị thuộc các nước không hoạt động trên lãnh
thổ địa lý Việt nam .
- Các đơn vị sản xuất kinh doanh của Việt Nam hoạt động ở nước ngoài
với thời gian trên 1 năm.
- Các tổ chức hoặc dân cư nước ngoài hoạt động ở Việt Nam thời gian
dưới 1 năm, kể cả học sinh nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
- Các đại sứ quán, lãnh sự quán, tổ chức quốc phòng, an ninh của nước
ngoài làm việc tại Việt Nam.
Việc xác định đơn vị thường trú và lãnh thổ kinh tế đóng vai trò quan trọng
khi tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp để lập các tài khoản. Vì vậy, tuỳ theo điều
kiện kinh tế xã hội mỗi nước, thời gian hoạt động và lợi ích kinh tế của từng đơn
vị hoạt động sản xuất kinh doanh mà có quy định cụ thể cho phù hợp với khả
năng hạch toán và thu thập thông tin.
5.3. Nền kinh tế quốc dân.
Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống bao gồm toàn bộ các đơn vị kinh tế
hay chủ thể kinh tế có chức năng hoạt động khác nhau, tồn tại trong mối quan hệ
mật thiết với nhau trên cơ sở phân công lao động xã hội, được hình thành trong
một giai đoạn lịch sử nhất định.
So với quan niệm về nền kinh tế quốc dân của MPS, quan niệm về nền kinh
tế quốc dân của SNA có nhiều điểm khác nhau:
- Theo MPS: nền kinh tế quốc dân gắn liền với lãnh thổ địa lý. Theo lãnh
thổ địa lý, nền kinh tế quốc dân là tổng thể các đơn vị kinh tế thường trú và
không thường trú trong phạm vi lãnh thổ nghiên cứu, tồn tại trong mối quan hệ
Trường đại học kinh tế quốc dân
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
y tế, văn hoá, giáo dục, thể thao… Nguồn kinh phí để chi tiêu cho các đơn vị này
do ngân sách Nhà nước cấp.
- Khu vực thể chế tài chính: gồm các đơn vị có chức năng hoạt động kinh
doanh tiền tệ, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm… Nguồn kinh phí để hoạt động của
các đơn vị chủ yếu dựa vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tiền tệ và tài
chính của đơn vị.
- Khu vực thể chế phi tài chính: gồm các đơn vị có chức năng sản xuất
kinh doanh sản phẩm hàng hoá và dịch vụ thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, công
nghiệp, xây dựng, thương nghiệp… Nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu dựa vào
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm hàng hoá - dịch vụ của đơn vị.
Trường đại học kinh tế quốc dân
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
- Khu vực thể chế vô vị lợi: gồm các đơn vị sản cung cấp các dịch vụ
phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt, tín ngưỡng của dân cư như: các hiệp hội,
các hội từ thiện, các tổ chức tín ngưỡng… Nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu
dựa vào sự đóng góp tự nguyện của các thành viên, sự đóng góp và giúp đỡ của
các tổ chức.
- Khu vực thể chế hộ gia đình. Hộ gia đình dân cư vừa là đơn vị tiêu
dùng cuối cùng, vừa là đơn vị sản xuất có chức năng sản xuất ra sản phẩm vật
chất và dịch vụ. Khu vực hộ gia đình bao gồm toàn bộ các hộ gia đình dân cư với
tư cách là đơn vị tiêu dùng và đơn vị sản xuất các thể. Nguồn kinh phí chủ yếu
để chi tiêu của các hộ gia đình dựa vào sản xuất kinh doanh cá thể, thu nhập và
tiền lương, lãi tiền gửi ngân hàng …
Phân tổ theo khu vực thể chế sẽ giúp cho việc xác định các chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp được chính xác hơn, phạm vi nghiên cứu rôïng hơn, đa dạng hơn để
phục vụ công tác lãnh đạo các cấp và quản lý nền kinh tế ở tầm vĩ mô đạt kết quả
cao nhất.
6.2 Phân ngành kinh tế quốc dân.
Phân ngành kinh tế quốc dân là sự phân chia nền kinh tế quốc dân thành các
tích, đánh giá thực trạng nền kinh tế, phục vụ việc xây dựng các chủ trương,
chính sách nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo mục tiêu chiến lược trong từng
giai đoạn lịch sử của kinh tế đất nước.
Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, phân ngành kinh tế quốc dân đã mô tả
chi tiết hơn, chính xác hơn, cụ thể hơn một bước của phân loại theo khu vực thể
chế.
6.3. Phân tổ theo sản phẩm.
Nếu phân ngành kinh tế, về cơ bản vẫn dựa vào chức năng sản xuất chính
của từng đơn vị hoạt động kinh tế, trong đó bao gồm nhiều loại sản phẩm dịch vụ
thuộc ngành kinh tế khác nhau thì phân theo ngành sản phẩm dựa vào :
- Những sản phẩm dịch vụ có cùng công dụng.
- Những sản phẩm dịch vụ có cùng quy trình công nghệ sản xuất tương tự
nhau.
- Sử dụng nguyên vật liệu chủ yếu tương tự nhau.
Phân theo ngành sản phẩm sẽ chi tiết hơn nữa đối với từng ngành kinh tế,và
được sử dụng trong bảng I/O, trong công tác kiểm kê sản phẩm hàng hoá, tồn
kho, tài sản cố định, hàng hoá xuất nhập khẩu…
6.4 Phân tổ theo thành phần kinh tế.
Phân theo thành phần kinh tế là căn cứ vào chế độ sở hữu đối với các yếu tố
sản xuất và kết quả sản xuất để tập trung các đơn vị hay chủ thể kinh tế của nền
kinh tế quốc dân thành từng nhóm khác nhau.
Phân theo thành phần kinh tế là căn cứ quan trọng để hoạch định các chính
sách phát triển kinh tế- xã hội đúng đắn, khuyến khích các thành phần kinh tế
phát triển, đồng thời củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Theo Nghị Quyết Đại Hội 9 của Đảng và Nhà nước, các thành phần kinh tế
nước ta hiện nay gồm có:
1. Kinh tế Nhà nước.
2. Kinh tế tập thể
3. Kinh tế cá thể và tiểu chủ.
4. Kinh tế tư bản tư nhân
Tổng giá trị sản xuất là chỉ tiêu kinh tế phản ánh toàn bộ giá trị của sản
phẩm do lao độngtrong các ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân tạo ra trong
1 thời kỳ nhất định, tức là phản ánh kết quả sản xuất của toàn bộ nền kinh tế
theo từng thời kỳ: tháng, quý, 6 tháng, năm, thường là một năm.
GO được xác định theo 3 phương pháp:
a. Phương pháp xí nghiệp.
Theo phương pháp này, lấy xí nghiệp làm đơn vị tính, thực chất là tổng giá
trị sản xuất của tất cả các xí nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
GO
XN
=
∑
=
n
i
GO
1
XN1
.
b. Phương pháp ngành.
Lấy ngành làm đơn vị tính, thực chất là tổng cộng giá trị sản xuất của tất cả
các ngành trong nền kinh tế quốc dân.
GO
NGàNH
=
∑
=
)17(20
1I
cáo …
Khi tính chi phí trung gian cần chú ý các nguyên tắc sau:
- Chỉ tính những yếu tố nào đã được tính vào tổng giá trị sản xuất mới
được tính vào chi phí trung gian.
- Giá tính chi phí trung gian là giá sử dụng khi tính giá trị sản xuất của
các yếu tố thuộc chi phí trung gian.
7.3 Tổng sản phẩm quốc nội( Gross Domestic Product – GDP)
7.4 Tổng thu nhập quốc gia (Gross National Income -GNI)
GNI =GDP +∆nhân tố sản xuất.
7.5 Thu nhập quốc gia (National Income – NI)
NI= GNI – KHTSCĐ.
7.6 Thu nhập quốc gia sử dụng(National Disposable Income – NDI)
NDI= NI + ∆ chuyển nhượng hiện hành
7.7 Tiêu dùng cuối cùng(Final Consumption - C)
Tiêu dùng cuối cùng là một phần của Tổng sản phẩm xã hội sử dụng để
thoã mãn nhu cầu tiêu dùng đời sống, sinh hoạt của các nhân dân cư, hộ gia đình
và nhu cầu tiêu dùng chung của xã hội (Nhà Nước), gồm: tiêu dùng cuối cùng
của dân cư và tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước.
7.8 Tổng tích luỹ tài sản (Gross Capital Formation)
Tổng tích luỹ tài sản là một bộ phận của GDP được sử dụng để đầu tư tăng
tài sản nhằm mở rộng sản xuất và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
dân cư, gồm tích luỹ tài sản cố định, tích luỹ tài sản lưu động và tích luỹ tài sản
quý hiếm.
7.9. Xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.
Trường đại học kinh tế quốc dân
16
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
Xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ bao gồm toàn bộ sản phẩm vật chất và
dịch vụ được mua bán, trao đổi, chuyển nhượng… giữa các đơn vị thường trú
của nước ta với các đơn vị thường trú của nước ngoài.
- Thuế sản xuất (không kể trợ cấp sản xuất).
- Khấu hao tài sản cố định.
- Thặng dư sản xuất.
Nếu đứng ở giác dộ người sản xuất (tức người lập tài khoản sản xuất) thì 4
yếu tố cấu thành trên là những khoản chi phí mà chủ sản xuất thực hiện trong
thời kỳ sản xuất để làm tăng giá trị sản phẩm được sản xuất ra.
Nếu đứng ở giác độ người thu nhập trong sản xuất (tức người lập tài khoản
thu nhập chi tiêu, tài khoản vốn tài sản tài chính) thì 4 yếu tố trên là những khoản
thu nhập để tiêu dùng (đối người lập tài khoản thu nhập chi tiêu) hoặc là thu
nhập để đầu tư tích luỹ vốn tài sản (đối với người lập tài khoản vốn tài sản tài
chính)
2.1. Trả công cho người lao động (Compensation of employees).
Trường đại học kinh tế quốc dân
17
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
Trả công lao động cho người sản xuất là toàn bộ các khoản thu nhập mà
người sanû xuất nhận được từ công lao động của mình được chủ sản xuất huy
động sử dụng trong quá trình sản xuất .
Thực chất chỉ tiêu này là toàn bộ các khoản chi phí mà chủ sản xuất trả cho
người trực tiếp sản xuất để bù đắp lại sức lao dộng đã hao phí trong quá trình sản
xuất tạo ra sản phẩm mới.
Thu nhập về tiền công lao động của người sản xuất (gồm tiền mặt, hiện vật)
được thể hiện ở những khoản sau;
- Tiền lương.
- Trả tiền công lao động.
- Trích bảo hiểm xã hội.
- Các khoản thu nhập có tính chất khác: tiền ăn trưa, ca ba; tiền bồi dưỡng
độc hại; tiền hao mòn, xe máy, xe đạp cho CNVC đi làm việc thường ngày; tuền
phong bao hội nghị về chuyên ngành; tiêng phụ cấp lưu trú, tiền đi công tác…
2.2. Thuế sản xuất (Tax on production).
- Trả công lao động cho người sản xuất.
- Thuế sản xuất (không kể trợ cấp sản xuất của Nhà nước) nộp vào ngân
sách Nhà nước.
- Hao mòn tài sản cố định.
Về bản chất, thặng dư sản xuất chỉ phát sinh ở những ngành hoạt động mang
tính chất sản xuất kinh doanh và là phần nguồn cho việc chi trả lợi tức sở hữu
trong quan hệ sản xuất.
3. Vị trí và ý nghĩa kinh tế của chỉ tiêu GDP.
3.1. Vị trí của GDP trong hệ thống tài khoản quốc gia SNA.
Như đã trình bày ở trên, hệ thống tài khoản chính, chủ yếu của SNA được
thiết lập nhằm phản ánh kết quả một quá trình sản xuất trên lãnh thổ kinh tế của
một quốc gia trong một thời kỳ kế toán (thường là một năm); phản ánh quá trình
phân phối lần đầu và phân phối lại kết quả sản xuất đó vào các mục đích tiêu
dùng (TDCC Nhà nước, TDCC dân cư), tích luỹ (TLTS cố định, TS lưu động,
TS quý hiếm), đồng thời cũng phản ánh kết quả các mối quan hệ kinh tế (mua
bán, chuyển nhượng, vay vốn…) cuả quốc gia với bên ngoài quốc gia. Như vậy,
điểm chủ đạo và cũng là mấu chốt được được thể hiện trong các tài khoản đó là
chỉ tiêu giá trị (được phân chia ra các yếu tố) phản ánh kết quả của nền sản xuất
thực hiện trên lãnh thổ kinh tế của quốc gia trong 1 năm; bởi lẽ, có kết quả sản
xuất (mà chủ yếu phản ánh khối lượng sản phẩm mới tăng thêm trong năm do
các ngành sản xuất đóng góp ) mới có các quá trình phân phối xã hội: Phân phối
lần đầu và phân phối lại; mới có các mối quan hệ kinh tế với bên ngoài (quốc
gia khác, các tổ chức quốc tế khác và các tổ chức phi chính phủ…). Chỉ tiêu
phản ánh kết quả của mọi hoạt động trên nền kinh tế của một quốc gia sau 1 năm
hoặc quý là GDP.
Trong hệ thống các tài khoản chính được xây dựng, GDP bằng tổng các chi
phí tạo nên các yếu tố hình thành các điều khoản trong tài khoản sản xuất và như
vậy cũng bằng tổng các điều khoản mang tính thu nhập trong tài khoản thu nhập
và chi tiêu. Trên thực tế của nền sản xuất xã hội, các yếu tố hình thành các điều
khoản gốc tạo nên GDP (các điều khoản của tài khoản sản xuất), qua sự vận
- Biểu hiện hiệu quả tái sản xuất xã hội theo chiều sâu và chiều rộng .
- Là một trong những cơ sở quan trọng để tính các chỉ tiêu kinh tế khác.
- Hơn nữa, chúng còn là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá
sự tăng trưởng của một quốc gia, nghiên cứu khả năng tích luỹ, huy động vốn,
tính toán các chỉ tiêu đánh giá mức sống dân cư, so sánh quốc tế, xác định trách
nhiệm của mỗi nước đối với các tổ chức quốc tế…
4. Phương pháp tính.
4.1 Nguyên tắc tính.
Cũng như GO, khi tính VA và GDP cần tuân theo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc thường trú ( hay theo lãnh thổ kinh tế): chỉ tính vào VA và
GDP kết quả sản xuất của các đơn vị thường trú.
- Tính theo thời điểm sản xuất: kết quả sản xuất của thời kỳ nào được tính
vào VA và GDP của thời kỳ đó.
Trường đại học kinh tế quốc dân
21
Tài khoản sản xuất
G D P
Tài khoản quan hệ kinh
tế với nước ngoài
Tài khoản thu nhập và
chi tiêu
Tài khoản vốn -
tài chính
Tiêu
dùng
sản
phẩm
cuối
cùng
Tích
- Trả công lao động (bằng tiền và bằng hiện vật) trong kinh tế tập thể.
- Trích bảo hiểm xã hội trả thay lương.
- Thu nhập khác như: ăn trưa, ca ba, phụ cấp độc hại đi đường, lưu trú
trong công tác phí, phong bao hội nghị, trang bị bảo hộ lao động dùng trong sinh
hoạt ngoài thời gian làm việc.
- Thu nhập hỗn hợp trong kinh tế phụ và kinh tế cá thể.
TN1DN chính là thu nhập lần đầu của các đơn vị kinh tế (thặng dư sản
xuất) gồm:
- Lợi tức vốn sản xuất đóng góp.
- Lợi tức về thuê đất đai, vùng trời, vùng biển phục vụ sản xuất.
- Lợi tức kinh doanh…
- Khấu hao tài sản cố định để lại doanh nghiệp.
- Trả lãi đi vay.
TN1NN gồm:
- Thuế gián thu như: thuế doanh thu hoặc thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc
biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế nhà đất, thuế tài nguyên: đất, rừng, hầm mỏ…,,
thuế vốn, thuế môn bài, thuế sản xuất khác…
Trường đại học kinh tế quốc dân
22
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
- Khấu hao tài sản cố định nộp cho ngân sách.
Kết thúc giai đoạn phân phối lần đầu, GDP tiếp tục được phân phối lại để
điều tiết thu nhập, và hình thành nên thu nhập cuối cùng. Khi đó:
GDP = ΣTN
1
= Σ TNCC
Với TNCC = TN
1
+ kết dư phân phối lại.
Trên phạm vi nền kinh tế, kết dư phân phối lại bằng không.
công tác tính GDP cả năm đảm bảo chất lượng và độ chính xác cao.
- Ngoài ra, việc nghiên cứu và tính GDP theo quý còn có mục đích phấn
đấu để trình độ thống kê tài khoản quốc gia Việt Nam ngang tầm với trình độ
trung bình tiên tiến của các nước trên thế giới.
Trường đại học kinh tế quốc dân
23
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
Chính vì ý nghĩa to lớn như vậy nên việc tính GDP theo quý ngày càng phát
triển và được áp dụng rộng rãi ở Việt nam
6. Kết luận chương
Những nội dung trên chỉ là giới thiệu rất sơ lược về hệ thống tài khoản quốc
gia và chỉ tiêu GDP. Tuy nhiên qua đó ta cũng có thể nhận thấy tầm quan trọng
của hệ thống tài khoản quốc với vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân và ý
nghĩa của việc nghiên cứu chỉ tiêu GDP, đặc biệt là việc nghiên cứu chỉ tiêu
GDP theo quý đối với ngành thống kê nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Và cũng qua đó ta có thể nhận thấy sự khác biệt giữa hai hệ thống thông tin
kinh tế xã hội SNA và MPS về cơ sở lý luận, đối tượng nghiên cứu và phản
ánh, các quan điểm khi xem xét quá trình sản xuất, phương pháp luận nói chung
và phương pháp tính chỉ tiêu thu nhập quốc dân và Tổng sản phẩm quốc nội nói
riêng.
Trường đại học kinh tế quốc dân
24
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Kim Thoa - Thống kê 41A
CHƯƠNG II
TÍNH GDP QUÝ CỦA KHU VỰC I ( NÔNG – LÂM - THUỶ SẢN )
THEO PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT.
I. VAI TRÒ CỦA KHU VỰC I
Hệ thống ngành kinh tế quốc dân ban hành theo Nghị định của Chính phủ
số 75/CP ngày 27/10/1993, toàn bộ hoạt động sản xuất của nền kinh tế quốc dân
của quốc gia được chia thành 3 khu vực :
1.83% trong tổng số lao động của nước ta thì năm 2000 đã tăng lên là 1.96%;
Trường đại học kinh tế quốc dân
25