TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ QUỐC TẾ
**********************
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài: Quản lý vốn ODA tại Sở giao dịch III Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn : TS. NGÔ THỊ TUYẾT MAI
Sinh viên thực hiện : Nghiêm Xuân Đức
MSSV : CQ480576
Lớp : Kinh tế quốc tế B
Khóa : 48
Hà Nội, 05/2010
LỜI CAM ĐOAN
2
Em là Nghiêm Xuân Đức, sinh viên lớp Kinh tế quốc tế 48B, khoa Thương mại
và Kinh tế quốc tế.
Em xin cam đoan bài báo cáo thực tập: “Quản lý vốn ODA tại Sở giao dịch III
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” là do em nghiên cứu, hoàn thành dưới
sự hướng dẫn của cô giáo TS. Ngô Thị Tuyết Mai và sự hỗ trợ của của Sở Giao dịch
III Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, đồng thời qua tham khảo các tài liệu
sách báo khác. Em xin cam đoan những số liệu trong bài báo cáo này là những số
liệu trung thực, được cung cấp từ Sở giao dịch III Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển
Việt Nam. Nếu trong bài viết có gì không trung thực, em xin hoàn toàn chịu trách
nhiêm.
Sinh viên
Nghiêm Xuân Đức
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nội dung đầy đủ
1 ATM Máy rút tiền tự động
3
Bảng 2.3: Số dự án SGD III và Chi nhánh cho vay và dư nợ qua
các năm
Tr. 30
Bảng 2.4: Tổng số tiền thu trả nợ và phí mà SGD III được Tr. 32
4
hưởng.
Hình 2.1: Số dự án mà SGD III cho vay lại và phục vụ tài khoản Tr. 26
Hình 2.2: Tổng giá trị mà SGD III tiếp nhận qua các năm. Tr. 26
LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn vốn ODA đã và vẫn là đang là một nguồn tài chính quan trọng, là nguồn
vốn không thể thiếu hiện nay tại Việt Nam. ODA đã bổ sung một nguồn vốn quan
trọng góp phần cân đối nguồn vốn đầu tư phát triển trong các kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. ODA đã hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội, góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa và hiện đại hóa, cải thiện các dịch vụ kinh tế - xã hội, góp phần xoá đói,
giảm nghèo tại nhiều địa phương.
Do đó việc quản lý các dự án ODA có hiệu quả là nhiệm vụ vô cùng quan trọng
đối với Việt Nam cũng như với Sở giao dịch III Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam, là cơ quan trực tiếp quản lý các dự án tín dụng quốc tế cũng như đi đầu
5
trong nghiệp vụ ngân hàng đại lý uỷ thác. Trong những năm gần đây, chúng ta đã
phát hiện ra một số nguồn vốn ODA bị tham nhũng, đó là điều khó chấp nhận
nhưng chúng ta cần nhìn nhận ra nguyên nhân của nó là do vấn đề quản lý ODA
hiện nay còn nhiều bất hợp lý. Vì vậy, sau quá trình thực tập tại Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam, em đã quyết định chọn đề tài “Quản lý vốn ODA tại Sở
giao dịch III Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”. Mục đích nghiên cứu của
đề tài nhằm giúp chúng ta hiểu thêm về tình hình quản lý ODA tại Việt Nam nói
chung và tại Sở giao dịch III Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng để
có thể có phương hướng quản lý nguồn vốn ODA hiệu quả hơn trong tương lai.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: Nguồn vốn ODA và tình hình
tranh, thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1957 – 1965); Thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở
miền Bắc, chi viện cho miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước (1965- 1975);
Xây dựng và phát triển kinh tế đất nước (1975-1989) và Thực hiện công cuộc đổi
mới hoạt động ngân hàng phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước (1990 –
nay).
1.1.1.1 Thời kỳ Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (1957 – 1981).
a. Giai đoạn 1957-1960.
Ra đời trong hoàn cảnh cả nước đang tích cực hoàn thành thời kỳ khôi phục và
phục hồi kinh tế để chuyển sang giai đoạn phát triển kinh tế có kế hoạch, xây dựng
những tiền đề ban đầu của chủ nghĩa xã hội, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam đã có
những đóng góp quan trọng trong việc quản lý vốn cấp phát kiến thiết cơ bản, hạ
thấp giá thành công trình, thực hiện tiết kiệm, tích luỹ vốn cho nhà nước… Nhiều
công trình lớn, có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống sản xuất của nhân dân miền Bắc
khi đó đã được xây dựng nên từ những đồng vốn cấp phát của Ngân hàng Kiến
Thiết.
b. Giai đoạn 1960-1965.
8
Trong giai đoạn này, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam đã cung ứng vốn cấp phát
để kiến thiết những cơ sở công nghiệp, những công trình xây dựng cơ bản phục vụ
quốc kế, dân sinh và góp phần làm thay đổi diện mạo nền kinh tế miền Bắc.
c. Giai đoạn 1965-1975.
Thời kỳ này, Ngân hàng Kiến thiết đã cùng với nhân dân cả nước thực hiện
nhiệm vụ xây dựng cơ bản thời chiến, cung ứng vốn kịp thời cho các công trình
phòng không, sơ tán, di chuyển các xí nghiệp công nghiệp quan trọng, cấp vốn kịp
thời cho công tác cứu chữa, phục hồi và đảm bảo giao thông thời chiến, xây dựng
công nghiệp địa phương.
d. Giai đoạn 1975- 1981
Ngân hàng Kiến thiết đã cùng nhân dân cả nước khôi phục và hàn gắn vết
thương chiến tranh, tiếp quản, cải tạo và xây dựng các cơ sở kinh tế ở miền Nam,
b. Giai đoạn hội nhập (2000 đến nay)
Sau những năm thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, BIDV đã đạt được những
kết quả quan trọng thể hiện trên một số bình diện sau đây:
- Quy mô tăng trưởng và năng lực tài chính được nâng cao: Đến 31/12/2009, tổng
tài sản của BIDV đạt 300.000 tỷ đồng; Dư nợ tín dụng 194.157 tỷ đồng, lợi nhuận
10
trước thuế đạt 3.451 tỷ đồng, các chỉ tiêu an toàn chất lượng đều đạt và vượt chuẩn
quốc tế.
- Cơ cấu lại hoạt động theo hướng hợp lý hơn: BIDV đã tích cực chuyển dịch cơ
cấu khách hàng và cũng tích chuyển dịch cơ cấu tín dụng, đồng thời chú trọng phát
triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, nhằm tăng thu dịch vụ trên tổng nguồn thu của
ngân hàng.
- Đầu tư phát triển công nghệ thông tin.
- Hoàn thành tái cấu trúc mô hình tổ chức - quản lý, hoạt động, điều hành theo
tiêu thức Ngân hàng hiện đại. Cùng với quá trình cơ cấu lại mô hình tổ chức, công
tác quản lý hệ thống cũng đã liên tục được củng cố, tăng cường, phù hợp với mô
hình tổ chức và yêu cầu phát triển mới.
- Đầu tư, tạo dựng tiềm lực cơ sở vật chất và mở rộng kênh phân phối sản phẩm:
Trong năm 2009, BIDV đã đưa vào sử dụng tháp văn phòng hạng A theo tiêu chuẩn
quốc tế - BIDV Tower - tại 35 Hàng Vôi, Hoàn Kiếm, Hà nội. Đến nay BIDV đã có
108 chi nhánh và hơn 500 phòng giao dịch, hàng nghìn ATM và POS tại 63 tỉnh
thành trên toàn quốc.
- Không ngừng đầu tư cho chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Bên cạnh
việc tiếp tục bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt cho ngành, đào tạo và đào tạo lại
cán bộ, BIDV đã liên tục tuyển dụng nguồn nhân lực trẻ có tri thức và kỹ năng đáp
ứng các yêu cầu của hội nhập.
- Tiếp tục mở rộng và nâng tầm quan hệ đối ngoại lên tầm cao mới: BIDV hiện
đang có quan hệ đại lý, thanh toán với 1551 định chế tài chính trong nước và quốc
tế, là Ngân hàng đại lý cho các tổ chức đơn phương và đa phương như WB, ADB,
JBIC, NIB…. BIDV đã thiết lập các liên doanh với các nước như đầu tư vào thị
doanh Việt Nga (VRB), Công ty liên doanh Tháp BIDV.
1.1.2.2 Khối sự nghiệp:
- Trung tâm đào tạo (BTC)
- Trung tâm công nghệ thông tin (BITC)
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ:
Kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân
hàng và phi ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng cao
lợi nhuận của ngân hàng, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ
phát triển kinh tế Đất nước.
1.1.4 Cơ cấu tổ chức quản lý:
* Hội đồng quản trị:
- Là cơ quan hoạch định chiến lược phát triển, định hướng hoạt động của BIDV.
13
- Thành viên HĐQT bao gồm:
+ Chủ tịch HĐQT: Ông Trần Bắc Hà
+ 6 Uỷ viên HĐQT
* Ban tổng giám đốc:
- Là cơ quan điều hành mọi hoạt động của BIDV.
+ Tổng giám đốc: Ông Trần Anh Tuấn
+ 7 Phó Tổng giám đốc
* Cán bộ công nhân viên:
Hơn 12000 người. làm việc chuyên nghiệp, nghiêm túc và hiệu quả, đặc biệt có
kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư phát triển, là thế mạnh cạnh tranh của BIDV.
1.1.5 Các hoạt động chính:
- Ngân hàng: Cung cấp đầy đủ, trọn gói các dịch vụ ngân hàng truyền thống và
hiện đại
- Bảo hiểm: Bảo hiểm, tái bảo hiểm tất cả các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm phi
nhân thọ
- Chứng khoán: Môi giới chứng khoán; Lưu ký chứng khoán; Tư vấn đầu tư
(doanh nghiệp, cá nhân); Bảo lãnh, phát hành; Quản lý danh mục đầu tư .
số cán bộ điều động từ Ban Quản lý các dự án tín dụng quốc tế của NHNN và một
số phòng chức năng như Đại lý ủy thác, Kinh doanh dịch vụ... của BIDV. Từ 35 cán
bộ ban đầu, đến nay, nguồn nhân lực của SGD III đã được bổ sung và kiện toàn cả
về số lượng và chất lượng với quân số 127 cán bộ tính đến hết năm 2009 để đáp
ứng nhu cầu phát triển và vươn lên trong điều kiện mới. SGD III hiện nay gồm 127
cán bộ và gồm 16 phòng, tổ chia thành 5 khối.
Trong đó mỗi khối gồm các phòng sau:
- Khối quản lý dự án: Phòng Quản lý dự án, Phòng Lựa chọn định chế, Phòng
Thẩm định dự án, Phòng Môi trường, Tổ Đào tạo và Quản lý tiểu cấu phần cấp
phát.
- Khối quan hệ khách hàng: Phòng Quan hệ khách hàng, Phòng Ngân hàng Đại lý
và ủy thác.
- Khối quản lý rủi ro: Phòng Quản lý rủi ro.
- Khối tác nghiệp: Phòng Quản trị tín dụng; Phòng Dịch vụ khách hàng, Phòng
Thanh toán quốc tế, Phòng Quản lý và dịch vụ kho quỹ.
- Khối quản lý nội bộ: Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Phòng Tài chính kế toán,
Phòng Điện toán, Phòng Tổ chức Hành chính.
16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ODA TẠI SGD III
BIDV.
2.1 Giới thiệu chung về ODA và thực trạng quản lý vốn ODA tại Việt Nam.
2.1.1 Giới thiệu chung về ODA.
Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA, là viết tắt của cụm từ Official
Development Assistance) là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính
phủ nước CHXHCN Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức
tài trợ song phương và các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia. (Nguồn: Quy
chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, ban hành kèm theo Nghị
định số 131/2006/NĐ-CP).
ODA bao gồm: ODA không hoàn lại, và ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn
lại (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất là 25% trở lên so với tổng giá trị khoản
đối với từng khoản viện trợ hoặc từng chương trình, dự án cụ thể. Nhìn chung công
tác quản lý ODA tập trung ở cấp Trung ương.
Trong quá trình đổi mới, công tác quản lý mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của
đất nước đã chuyển dần sang dựa trên nền tảng pháp luật. Việc quản lý nguồn vốn
ODA không là ngoại lệ và chính vì vậy, ngay sau khi Việt Nam nối lại quan hệ với
cộng đồng tài trợ quốc tế vào tháng 11 năm 1993, Chính phủ đã nhận thức được
trách nhiệm của mình đối với việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA cũng như tầm
quan trọng của nguồn vốn này đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước và đặt ra yêu cầu phải quản lý chặt chẽ nguồn vốn này như một nguồn lực
công của quốc gia. Theo tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho Ủy ban
Kế hoạch Nhà nước lúc đó (nay là Bộ KH&ĐT) và các cơ quan hữu quan Việt Nam
bắt tay nghiên cứu và xây dựng Nghị định của Chính phủ về quản lý và sử dụng
ODA và ngày 15 tháng 3 năm 1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định đầu tiên về
quản lý và sử dụng ODA (Nghị định 20/CP).
Tiếp theo Nghị định 20/CP, căn cứ vào tình hình thực tế và thực tiễn của viện trợ
phát triển, Chính phủ đã ban hành Nghị định 87/CP (ngày 05/8/1997), Nghị định
17/2001/NĐ-CP (ngày 04/5/2001) và Nghị định 131/2006/NĐ-CP (ngày
9/11/2006). Trong quá trình thực hiện có thể thấy rõ Nghị định sau tiến bộ và hoàn
thiện hơn Nghị định trước. Nếu như trong Nghị định 20/CP quy trình quản lý và sử
dụng ODA còn đơn giản và tập trung chủ yếu ở cấp Trung ương thì trong Nghị định
131/2006/NĐ-CP quy trình ODA đã bao quát toàn diện và phân cấp mạnh mẽ cho
các Bộ, ngành và địa phương.
Căn cứ vào các Nghị định trên của Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước về
ODA như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính, Bộ Ngoại giao đã ban hành các
thông tư, quyết định hướng dẫn thi hành.
19