ảnh hưởng lượng men bánh mì và tỉ lệ thu hoạch lên sự phát triển của quần thể luân trùng nước ngọt (brachionus angularis) - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THÀNH ĐỨC

ẢNH HƯỞNG LƯỢNG MEN BÁNH MÌ VÀ TỈ LỆ THU
HOẠCH LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUẦN THỂ LUÂN
TRÙNG NƯỚC NGỌT (BRACHIONUS ANGULARIS)
ẢNH HƯỞNG LƯỢNG MEN BÁNH MÌ VÀ TỈ LỆ THU
HOẠCH LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUẦN THỂ LUÂN
TRÙNG NƯỚC NGỌT (BRACHIONUS ANGULARIS)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ths. TRẦN SƯƠNG NGỌC 2009


* V*40%), NT
60
(0.0168D
t

0,415
*
V*60%), NT
80
(0.0168D
t

0,415
* V*80%), NT
100
(0.0168D
t

0,415
* V*100%),
NT
ĐC
(60.000 tế bào/luân trùng/ngày). Thí nghiệm 2 được thực hiện nhằm tìm
ra tỉ lệ thu hoạch thích hợp cho sự phát triển của luân trùng Brachionus
angularis gồm 4 nghiệm thức với các tỉ lệ thu sinh khối là 0%, 15%, 25%,
35%. Kết quả cho thấy với điều kiện nhiệt độ từ 27,9 – 29,4
0
C, pH dao động
từ 7,43 – 7,52, mật độ bố trí ban đầu là 200 ct/ml thì lượng men bánh mì cho
luân trùng ăn là 0.0168D

Bảng 4.12: Tỉ lệ luân trùng mang trứng ở các nghiệm thức (%) 33
Bảng 4.10:Biến động số lượng thu (triệu cá thể/ngày) ở các nghiệm thức 35 iv
DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Hình thái của luân trùng Brachionus angularis 3
Hinh 2.2: Vòng đời của luân trùng 5
Hình 3.1: Bể nuôi luân trùng ở thí nghiệm 1 16
Hình 3.2: Bể nuôi luân trùng ở thí nghiệm 2 18
Hình 4.1: Biến động mật độ giữa các nghiệm thức 23
Hình 4.2: Biến động mật độ trước và sau thu hoạch của các nghiệm thức 31
Hình 4.3: Biến động số lượng thu ở các nghiệm thức 35


2.2.2 Sự thu hoạch luân trùng 10
2.2.3 Các Loại Thức Ăn Sử Dụng Cho Luân Trùng 11
2.2.3.1 Tảo 11
2.2.3.2 Men Bánh Mì 12
2.2.4 Đánh giá khả năng phát triển của luân trùng 12
2.2.5 Một số ảnh hưởng bất lợi trong nuôi luân trùng 13
2.2.5.1 Vi khuẩn 13
2.2.5.2 Ciliates 14
Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
3.2 Vật liệu nghiên cứu 15
3.3 Phương Pháp nghiên cứu 15
Phần 4: KẾT QỦA VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 Kích thước của luân trùng Brachionus angularis 19
4.2 Thí nghiệm 1 (TN1): Ảnh hưởng của lượng men bánh mì lên sự phát
triển của quần thể luân trùng nước ngọt Brachionus angularis 19
vi
4.2.1 Các yếu tố môi trường 19
4.2.1.1 Nhiệt độ 19
4.2.1.2 pH 20
4.2.1.3 NH
3
21
4.2.1.4 NO
2
-
22
4.2.2 Sự phát triển của luân trùng 22
4.3 Thí Nghiệm 2: Ảnh hưởng của tỉ lệ thu hoạch lên sự phát triển của quần
thể luân trùng nước ngọt Brachionus angularis 27

1
Phần 1:
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, theo xu hướng phát triển của thế giới thì hầu hết các ngành
nghề đều được cải thiện và phát triển. Từ y học, công nghiệp cho đến nông
nghiệp. Trong đó không thể bỏ qua sự phát triển mạnh mẽ của thuỷ sản. Chính
sự phát triển của ngành nuôi trong thuỷ sản nó đã góp phần khá quan trọng
vào nền kinh tế của nước ta. Với xu hướng phát triển như hiện nay thì nhu cầu
con giống là vấn đề cấp bách và nan giải, khâu quan trọng trong quá trình sản
xuất giống để đạt tỉ lệ sống và chất lượng con giống cao là việc cung cấp thức
ăn tươi sống phù hợp với tập tính và kích cỡ miệng của ấu trùng giáp xác và cá
con. Bên cạnh tảo, giáp xác râu ngành, Artemia, thì luân trùng cũng được xem
là thức ăn tự nhiên quan trọng. Luân trùng có đặc điểm như kích thước nhỏ,
bơi lội chậm chạp, và thường lơ lửng trong môi trường nước nhờ vậy mà ấu
trùng tôm cá dễ bắt mồi, bên cạnh đó ta có thể giàu hoá như protein, acid béo
cao phân tử không no (HUFA), vitamin…Cùng với các loài luân trùng được
nuôi ở nước lợ, ở nước ngọt cũng có nhiều loài đang được nghiên cứu để nuôi,
trong đó có loài Brachionus angularis
Brachionus angularis là loài ăn lọc thụ động có thể sử dụng nhiều loại
thức ăn để nuôi như: tảo, men bánh mì, bột đậu nành…trong đó men bánh mì
được xem là thức ăn phổ biến, giá rẽ có thể chủ động trong nuôi sinh khối luân
trùng. Tuy nhiên nuôi luân trùng bằng men bánh mì có khuynh hướng làm
giảm chất lượng nước nhanh do thức ăn dư gây ra sự bất ổn định trong bể
nuôi, do đó phải có sự cân bằng giữa mật độ luân trùng và tỉ lệ thức ăn tránh
để vật chất hữu cơ tích luỹ vượt quá giới hạn trong bể nuôi. Bên cạnh đó việc
duy trì ổn định sự phát triển của luân trùng khi thu hoạch để cho cá bột ăn vừa
có hiệu quả kinh tế vừa hạn chế được những rũi ro cho người nuôi cũng hết
sức cần thiết. Cho đến nay chưa tìm thấy tài liệu nào cho biết tỉ lệ men bánh
mì và sự thu hoạch thích hợp cho luân trùng Brachionus angularis này mà chủ
yếu dựa trên luân trùng Brachionus plicatilis. Từ thực tế trên, đề tài: “ Ảnh
3
Phần 2:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Luân Trùng Brachionus angularis
2.1.1 Đặc Điểm Phân Loại – Hình Thái
Brachionus angularis là loài phiêu sinh động vật theo Pechenik,J.,A.
2005 có vị trí phân loại như sau:
Giới Animalia
Ngành Rotifera
Lớp Monogononta
Bộ Ploima
Họ Brachionidae
Giống Brachionus
Loài Brachionus angularis (Gosse, 1851)
Brachionus angularis có dạng hình trứng, phía sau hơi tròn hay hơi bóp
lại. Mặt vỏ nhẵn hay những mấu lồi dạng hạt và hình vỏ chia mặt vỏ thành
nhiều mãnh. Bờ bụng trước lượn song, đuôi có mấu lồi nhỏ. Bờ lưng trước có
hai gai ngắn, giữa hai gai có vết xẻ hình chữ U. Lỗ chân hình thận, nằm dịch
về phía bụng, mép có gai nhỏ, thẳng và song song với nhau hay hơi cong
(Đặng Ngọc Thanh và ctv, 1980).

Hình 2.1: Hình thái của luân trùng Brachionus angularis
4
Luân trùng Brachionus angularis là phiêu sinh động vật có kích thước
nhỏ 88 - 120 µm (Nguyễn Văn Hải, 2008), bơi lội chậm chạp, có tính lơ lửng,

Sinh sản đơn tính (chủ yếu): con cái đơn tính sinh ra trứng lưỡng bội
(2n NST) và phát triển thành con cái đơn tính, chúng có tốc độ sinh sản nhanh
trong điều kiện thuận lợi. Đây là hình thức sinh sản nhanh nhất để tăng quần
thể luân trùng và là hình thức quan trọng trong hệ thống nuôi sinh khối luân
trùng.
5
Sinh sản hữu tính: khi gặp điều kiện bất lợi như biến động nhiệt độ,
thiếu thức ăn… luân trùng sẽ sinh sản hữu tính. Khi đó, trong quần thể luân
trùng sẽ xuất hiện cả con cái vô tính và hữu tính, có hình thái giống nhau khó
phân biệt. Tuy nhiên con cái hữu tính sẽ sinh ra trứng đơn bội và phát triển
theo hai hình thức:
+ Trứng đơn bội không thụ tinh sẽ phát triển thành con đực, có kích
thước bằng 1/3 con cái. Chúng không có hệ tiêu hóa và bàng quang, chỉ có
tinh hoàn chứa tinh trùng. Hinh 2.2: Vòng đời của luân trùng
+ Trứng nghỉ (Cyst): là trứng đơn bội kết hợp với tinh trùng tạo thành.
Trứng nghỉ có vách tế bào dày, có khả năng chống chịu tốt với môi trường, khi
gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát triển thành con cái.
2.1.3 Môi Trường Sống
2.1.3.1 Nhiệt độ
Luân trùng là loài khá rộng nhiệt, khoảng nhiệt độ thích hợp từ 15 –
35
0
C. Nhiệt độ dưới 10
0
C luân trùng sẽ hình thành trứng nghỉ và quần thể sẽ
tàn lụi. Nhiệt độ cao 30 – 35
0

. Độ mặn thích hợp nhất khoảng 10 – 35%
0
. khả năng chịu
đựng độ mặn cũng khác nhau tuỳ loài chẳng hạn như đối với luân trùng dòng
S độ mặn tốt nhất là 20%
0
và đối với luân trùng dòng L độ mặn tốt nhất là
30%
0
(Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2000)
Theo Trần Bình Nguyên (2008) thì luân trùng nước ngọt Brachionus
angularis phân bố (theo thuỷ vực sông) nhiều ở độ mặn 0%
0
, ở độ mặn 1%
0

vẫn có xuất hiện nhưng với mật độ không đáng kể và ở độ mặn 5%
0
thì không
có xuất hiện Brachionus angularis. Mặt khác theo Byeong Ho Kim, ctv. 2006
(trích dẫn bởi Nguyễn Văn Hải, 2008) thì luân trùng Brachionus angularis sẽ
tăng trưởng trong 2- 3 ngày đầu khi tăng độ mặn 1-2%
0
/ngày và nó không tăng
trưởng khi tăng độ mặn hơn 4%
0
/ngày. Khi tăng độ mặn lên 10%
0
trong vòng
5 – 30 phút thì không còn cá thể nào phát triển cũng như sống sót

với thuỷ sinh vật
Theo Patrick Lavens & Patrick Sorgeloos (1996), thì nồng độ NH
3
an
toàn cho luân trùng là 1 mg/l. Tuy nhiên theo M. Schliiter & J. Groeneweg
(1984) nghiên cứu ảnh hưởng của NH
3
trên luân trùng Brachionus rubens thấy
rằng loài luân trùng này có thể chịu được hàm lượng NH
3
đến 3mg/l, dưới
nồng độ 3 mg/l thì tăng trưởng của luân trùng không bị ảnh hưởng và trong
khoảng 3 – 5 mg/l tốc độ tăng trưởng của luân trùng bị giảm. Nếu nồng độ
NH
3
vượt quá 5 mg/l thì luân trùng sẽ chết sau 2 ngày và hai ông khuyến cáo
rằng trong nuôi sinh khối luân trùng nồng độ NH
3
không được vượt quá 3
mg/l.
2.1.3.6 NO
2

Hàm lượng N-NO
2
-
20ppm trong bể luân trùng B. rubens thấp hơn 50%
so với bể nuôi đối chứng. Theo Schluter và Groeneweg (1981) (trích dẫn bởi
Nguyễn Đông Truyền, 2008) với hàm lượng N-NO
2

200 m
3
. (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2000)
Ở kỹ thuật nuôi này luân trùng được giữ trong bể 5 ngày. Trong suốt 2
ngày đầu, thể tích nước được bổ sung gấp đôi cho mỗi ngày để pha loãng mật
độ luân trùng ra phân nữa. Trong suốt những ngày tiếp theo, thu hoạch phân
nữa bể và tiếp tục đổ đầy nước lần nữa để giảm mật độ luân trùng xuống phân
nữa. Ở ngày thứ 5 thì thu hoạch toàn bộ.
Theo Lubzens (1987), nuôi liên tục là nuôi luân trùng với mật độ cao
trong hệ thống bể có thể tích nhỏ từ vài chục lít tới 200 m
3
. Vì vậy trong hệ
thống nuôi, các sản phẩm thải, thức ăn dư thừa tích tụ làm chất lượng môi
trường nước nuôi kém. Đây là nguyên nhân gây ra tính rủi ro cao hơn so với
phương pháp nuôi mẻ. Trong nuôi luân trùng mật độ cao, một số lớn vật chất
hữu cơ lắng tụ dễ làm nước mau xấu đi, thu luân trùng 1 phần để giảm ô
nhiễm. Theo Girin và Devauchele (1974) đã lấy 25% thể tích nước mỗi ngày
và thay bằng nước mới. Mật độ cấy luân trùng từ 50 – 200 luân trùng/ml thì
mật độ thu hoạch có thể đạt từ 300 đến trên 1000 luân trùng/ml trong 3 đến 7
ngày nuôi, nguồn thức ăn sử dụng là vi tảo và men bánh mì.
2.2.1.3 Nuôi liên tục
Dụng cụ nuôi có dạng bình Chemostat, thể tích 200 – 1000 lít. tảo được
cho vào bể liên tục và luân trùng được thu liên tục. Năng suất luân trùng trung
bình 180 – 300 triệu con/m
3
/ngày (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2000). Nuôi
sinh khối luân trùng theo phương pháp liên tục có quy mô nhỏ hơn nuôi theo
mẻ nhưng quản lý thâm canh hơn. Đây là phương pháp hiệu quả nhất để sản
xuất ra luân trùng có chất lượng cao. Vì vậy máy móc trong mô hình nuôi
được duy trì ở những điều kiện được xác định hết sức nghiêm ngặt. Mô hình

28
0
C cung cấp oxy và cho ăn bằng tảo Chlorella cô đặc, với mật độ luân trùng
là 17.000 – 19.000 luân trùng/ml ở pH = 7, luân trùng thu hoạch là 33.500
con/ml (theo Park et al. 2001) (trích dẫn bởi Dương Thị Hoàng Oanh, 2005).
Theo Patrick Lavens & Patrick Sorgeloos (1996), nuôi luân trùng với
mật độ thả cao có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ trứng, tỷ lệ trứng giảm từ mức
trung bình 30% ở mật độ 150 luân trùng/ml xuống còn 10% ở mật độ 2000
luân trùng/ml và dưới 5% ở mật độ 5000 luân trùng/ml
Lubzens (1987) khi nuôi luân trùng mật độ cao ở hình thức nuôi bán
liên tục ở các bể có thể tích nhỏ từ vài chục lít đến 200 m
3
thì các sản phẩm
thải, thức ăn dư thừa và các chất bẩn làm chất lượng nước nuôi kém nó làm
cho hệ thống nuôi này không an toàn. Khi mật độ luân trùng vượt quá 1000
ct/ml, chất thải của luân trùng ngày càng nhiều tích tụ ở bể nuôi, gây ra nhiều
chất vẩn hữu cơ lơ lủng trong nước. Để khắc phục nhược điểm này Yoshimura
et al, (1997) sử dụng vải lót bằng nilon treo vào bể nuôi luân trùng để nhận
những chất lơ lững này hằng ngày rửa sạch vải nilon để loại bỏ chất vẩn, ngăn
10
protozoa kí sinh nhằm ổn định quần thể luân trùng (trích từ Dương Thị Hoàng
Oanh, 2005)
Khi mật độ luân trùng cao thì cần nhiều oxy cho quá trình hô hấp của
chúng, do đó ta cần cung cấp oxy cho luân trùng. Theo Hoàng Hiệp Nhất
(2007) khi nuôi luân trùng Brachionus rotundiformis dòng ss với các mật độ
nuôi là 200, 300, 400 và 500 cá thể/ml thì kết quả cho thấy nghiệm thức nuôi
với mật độ 200 và 300 cá thể/ml cho tốc độ tăng trưởng đạt cao nhất sau 6
ngày nuôi.
2.2.2 Sự Thu Hoạch Luân Trùng
Theo Trần Sương Ngọc (2003) nghiên cứu nuôi luân trùng trong hệ

được hằng ngày là 67,9 triệu luân trùng, thời gian nuôi kéo dài được 15 ngày
(Nguyễn Đông Truyền, 2008)
2.2.3 Các Loại Thức Ăn Sử Dụng Cho Luân Trùng
Thức ăn của luân trùng gồm nhiều loại khác nhau như tảo, vi khuẩn,
nấm men và những hạt mãnh nhỏ. Trong các loại thức ăn đó thì tảo Chlorella
và men bánh mì được xem là thức ăn tốt nhất
2.2.3.1 Tảo
Theo trích dẫn của Trần Sương Ngọc (2003), Chlorella là một trong
những loài được phân lập đầu tiên từ năm 1890. Chlorella phân bố tự nhiên
trong cả nước ngọt và nước lợ. Chúng có thể phát triển trong những điều kiện
môi trường khác nhau ngay cả trên đất hoặc trên tường ẩm ướt. Chlorella là
giống tảo có giá trị dinh dưỡng cao thường sử dụng làm thực phẩm cho con
người và trong nghề nuôi thuỷ sản lẫn trong chăn nuôi
Tảo Chlorella là thức ăn rất tốt cho luân trùng do chúng có hàm lượng
dinh dưỡng cao chứa 20 – 30 % glucid với rất ít lượng gian bào không tiêu hoá
được. Lượng lipid của tảo thay đổi từ 10 – 20% với đa số các acid béo không
no. Chlorella có chứa hầu hết các vitamin A, B1, B2, B6, B12, C, D, K, acid
nicotinic, acid pantotenic…Hàm lượng đạm khoảng 50% và chứa hầu hết các
acid amin thiết yếu như Lysine, Methionine, Tryptophan, Arginine,
Histidine…( Trần Văn Vỹ, 1982 ). Hơn nữa Chlorella còn sản sinh ra chất
kháng sinh Chlorellin chống lại một số vi khuẩn do đó giúp hạn chế được một
số mầm bệnh. Với các đặc tính nêu trên nên Chlorella là thức ăn lý tưởng cho
luân trùng
Theo Trương Sĩ Kỳ (2004), ưu điểm của việc sử dụng tảo làm thức ăn
cho luân trùng là năng suất cao, dễ quản lý môi trường trong khi sử dụng các
loại thức ăn nhân tạo mặc dầu dễ dàng chủ động được nguồn thức ăn nhưng
năng suất không cao, khó quản lý môi trường, dễ nhiễm tạp
Thức ăn cho luân trùng bao gồm các loại tảo, quan trọng nhất là
Chlorella, Tetraselmis, Chlamidomonas, Dunadiela, Nanochloropsis,
Phaeodactilum, Nitszchia…Những loài tảo chứa nhiều HUFA như Chlorella,

nước có mùi hôi và thức ăn dư đóng thành cục trôi nổi trong nước (Trích từ
Dương Thị Hoàng Oanh, 2005)
Ngoài ra, men bánh mì là loại thức ăn rất tiện lợi cho nuôi sinh khối
luân trùng, nhất là khi tảo nuôi gặp nhiều khó khăn. Men bánh mì có hàm
lượng đạm cao nhưng không có nhiều HUFA cần thiết cho ấu trùng tôm cá. Vì
thế luân trùng được nuôi bằng men bánh mì, sau khi thu hoạch và trước khi sử
dụng làm thức ăn cho ấu trùng tôm cá cần được giàu hoá dinh dưỡng, đặc biệt
là HUFA. Luân trùng có thể được giàu hoá bằng tảo sống hoặc giàu hoá bằng
nhũ tương với acid béo omega-3 trước khi cho ấu trùng tôm cá ăn (Dương Thị
Hoàng Oanh, 2005). Tuy nhiên khi nuôi luân trùng bằng men bánh mì, luân
trùng có kích thước lớn hơn khi nuôi bằng tảo (Dhert, 1996).
2.2.4 Đánh giá khả năng phát triển của luân trùng
Snell et al, (1987) đưa ra 2 phương pháp quan trọng để đánh giá tình
trạng sinh lí của luân trùng nuôi sinh khối.
13
Đầu tiên là hoạt động bơi lội, được xác định bằng cách cho luân trùng
bơi trên một lưới có diện tích 1 mm
2
. Hoạt động bơi giảm chứng tỏ luân trùng
yếu, nguyên nhân là do nồng độ NH
3
tăng cao và khi luân trùng bị đói, đặc
biệt khi nhiệt độ của nước lên cao hoặc xuống thấp, trong trường hợp này nên
thay nước hoặc kiểm tra hàm lượng amonia trong bể nuôi, vì đây là nhân tố
giới hạn khả năng sinh sản của luân trùng và là nguyên nhân gây mất ổn định
trong bể nuôi (Yu et al. 1986)
Phương pháp thứ 2 là dựa vào tỉ lệ mang trứng. Hệ số mang trứng dự
đoán tình trạng bể nuôi trong 24h. Hệ số trứng phụ thuộc vào chất lượng thức
ăn, ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như nhiệt độ, oxy, độ mặn, pH và
chỉ số amonia, bất kì sự thay đổi nào ra khỏi khoảng thích hợp của những yếu

cấp nguồn dinh dưỡng cho tảo hấp thu. Một số vi khuẩn có lợi cho tảo nhưng
14
không có lợi cho luân trùng, do chúng tạo ra nhiều NH
3
sẽ ức chế sự phát triển
của luân trùng
Mặc dầu hầu hết các vi khuẩn đều không gây bệnh cho các luân trùng
nhưng cần tránh chúng sinh sôi nảy nở vì khi chúng tích tụ lại và truyền qua
chuỗi thức ăn gây ra những ảnh hưởng có hại đến tôm, cá nuôi.
2.2.5.2 Ciliates
Theo trích dẫn của Hoàng Hiệp Nhất (2007) thì một số loài tiêm mao
trùng (ciliate), protozoa,…như: Uronema sp có kích thước là 30 µm và
Euplotes sp có kich thước là 50 µm, đây là những loài thường xuyên gặp
trong nuôi sinh khối luân trùng, chúng cạnh tranh thức ăn và oxy với luân
trùng. Quần thể trùng tiêm mao xuất hiện trong những trường hợp sử dụng
men bánh mì làm thức ăn cho luân trùng. Qúa trình trao đổi chất của chúng
làm tăng mức NO
2
-
, giảm pH. Tuy nhiên chúng cũng có vai trò lọc sạch vi
khuẩn và chất vẩn. (Dhert, 1996). Euplotes sp chịu được biến động nhiệt độ
thấp trong khoảng từ 20,2 đến 21,2
0
C (Hill et al, 1986)
Khi đưa luân trùng bị nhiễm Ciliate vào hệ thống ương ấu trùng thuỷ
sản sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất giống như: ấu trùng chậm
phát triển, chất lượng ấu trùng kém đồng thời làm bể ương ấu trùng bị tàn dẫn
đến pH bị thay đổi gây ảnh hưởng không tốt đến ấu trùng (Patrick Lavens &
Patrick Sorgeloos, 1996)
Để hạn chế nhiễm nguyên sinh động vật trong bể nuôi thì ta cần rửa

), KI, Javen và các
chất cố định khác…
Nguồn nước: nước ngọt cung cấp từ nhà máy nước Cần Thơ đã được
xử lý bằng Javen với nồng độ 50ppm và trung hòa bằng Natri Thiosulfate
(Na
2
S
2
O
3
) với thuốc thử là KI.
Thức ăn cho luân trùng là tảo Chlorella cô đặc và men bánh mì
Luân trùng Brachionus angularis
3.3 Phương Pháp nghiên cứu
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của lượng men bánh mì lên sự phát triển
của quần thể luân trùng nước ngọt Brachionus angularis
Thí nghiệm được thực hiện trong phòng điều hoà ở nhiệt độ 28
0
C. Luân
trùng được nuôi trong các chay hình nón có thể tích 0,8 L với mật độ thả luân
trùng ban đầu 200 ct/ml (Nguyễn Tuấn Khương, 2008). Luân trùng được cho
ăn bằng tảo cô đặc và men bánh mì, lượng men bánh mì được tính theo công
thức do Lavens et al. (1994) đề nghị: m(g) = 0.0168Dt
0,415
* V (1)
m: lượng men bánh mì cho bể luân trùng trong một ngày (g)
Dt: Mật độ luân trùng tại thời điểm t (ct/mL).
V: Thể tích bể nuôi (L).
Men bánh mì được xay trong máy sinh tố với tỉ lệ 50g/lít nước và bảo
quản trong tủ lạnh ở 4

-
), sau đó cấp nước
mới vào bể nuôi để đảm bảo thể tích 800 ml.
Các yếu tố theo dõi:
Chỉ tiêu thuỷ lý
+ Nhiệt độ: đo 2 lần/ngày vào lúc 8h và 14h bằng nhiệt kế.
+ pH: đo 1 lần/ngày vào lúc 8h bằng máy đo pH (water proof pH
scan 2 tester)
Chỉ tiêu thuỷ hoá: được thu vào 3 ngày/lần lúc 10h và phân tích tại
phòng Kỹ thuật phân tích chất lượng nước, Bộ môn Thủy Sinh học Ứng dụng,
khoa Thủy Sản. Mẫu được trữ lạnh ở điều kiện 4
0
C.
+ N-NO
2
-
: Phân tích theo phương pháp Diazonium
+ N-NH
4
+
: Phân tích theo phương pháp Indo – phenol blue.
Chỉ tiêu sinh học
17
+ Kích thước luân trùng: Đo chiều dài (không tính gai đầu và gai
đuôi) và chiều rộng (tại vị trí mà kích thước lớn nhất) bằng kính hiển vi vật
kính 10. (đo ngày đầu tiên và ngày cuối cùng)
+ Mật độ luân trùng: được xác định hàng ngày bằng cách sử dụng
micropipette 100 µl. Mẫu thu vào mỗi buổi sáng với 3 lần lặp lại. Mẫu được
cố định và nhuộm màu bằng Lugol và đếm dưới kính lúp, không đếm những
con không bắt màu Lugol (đã chết).

nghiệm thức lập lại 3 lần, bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên.
Nghiệm thức 1 (NT
0
): tỉ lệ thu hoạch 0%/ngày
Nghiệm thức 2 (NT
15
): tỉ lệ thu hoạch 15%/ngày
Nghiệm thức 3 (NT
25
): tỉ lệ thu hoạch 25%/ngày
Re = x 100 (%)
số con cái mang trứng
Tổng số luân trùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status