TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
LÊ NGỌC HÀ ẢNH HƯỞNG CỦA pH LÊN VÒNG ĐỜI LUÂN TRÙNG
NƯỚC NGỌT (Brachionus angularis) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
ẢNH HƯỞNG CỦA pH LÊN VÒNG ĐỜI
LUÂN TRÙNG NƯỚC NGỌT (Brachionus angularis) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
i
LỜI CẢM TẠ
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Thuỷ
Sản, Bộ Môn Thuỷ Sinh Vật Ứng Dụng đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, rèn
luyện trong suốt những năm qua.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô hướng dẫn Thạc Sĩ Trần Sương Ngọc đã
trở thành con mồi thích hợp cho ấu trùng cá vừa mới hết noãn hoàng không thể ăn
được các loại thức ăn có kích cỡ lớn như naupli của artemia như ấu trùng cá bống
tượng. Việc nghiên cứu về vòng đời của luân trùng có vai trò quan trọng trong
việc cung cấp thêm thông tin cho hệ thống nuôi luân trùng nhằm chủ động được
nguồn thức ăn sẵn có. Luân trùng Brachionus angularis được nghiên cứu dưới sự
ảnh hưởng của pH lên vòng đời phát triển như: thời gian thành thục, thời gian phát
triển phôi, nhịp sinh sản, sức sinh sản, tốc độ lọc, tốc độ ăn, tuổi thọ. Kết quả thu
được là ở pH bằng 8 luân trùng có vòng đời phát triển tốt với thời gian thành thục
là 16giờ 34phút ± 0.61, thời gian phát triển phôi là 10giờ 32phút ± 2.75, nhịp sinh
sản là 2giờ 37phút ± 0.39, sức sinh sản là 15.7 trứng/con cái ± 2.16, tốc độ lọc là
4.48µl/con/giờ ± 1.27, tốc độ ăn là 195384tb/con/ngày ± 2832 và tuổi thọ trung
bình là 75giờ 07phút ± 10.96. Ở các nghiệm thức pH bằng 5, 6, 7 luân trùng có
vòng đời phát triển tương nhau, trong đó ở pH bằng 7 luân trùng phát triển tốt hơn
so với pH bằng 5 và 6. Nhưng ở pH bằng 9 luân trùng có sự sinh trưởng và phát
triển chậm, nhiều cá thể bị chết trước khi mang trứng hoặc trứng không kịp nở
trước khi chết với tuổi thọ trung bình thấp nhất là 44 giờ 38 phút ± 7.21.
iiiMỤC LỤC
Trang
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách hình v
Danh sách bảng vi
Chương 1. GIỚI THIỆU 1
Chương 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Tình hình phát triển nghề nuôi luân trùng 3
3.3. Phân lập luân trùng 15
3.4. Bố trí thí nghiệm 15
3.5. Các chỉ tiêu theo dõi 16
3.5.1. Mật độ tảo 16
3.5.2. Tốc độ lọc thức ăn 16
3.5.3. Tốc độ ăn 16
3.6. Phương pháp xử lý số liệu 17
Chương 4. KẾT QUẢ THẢO LUẬN 18
4.1. Nhiệt độ 18
4.2. Thí nghiệm: Ảnh hưởng của pH lên vòng đời luân trùng 18
4.2.1. Ảnh hưởng của pH lên thời gian thành thục 18
4.2.2. Ảnh hưởng của pH lên thời gian phát triển phôi 20
4.2.3. Ảnh hưởng của pH lên nhịp sinh sản 23
4.2.4. Ảnh hưởng của pH lên tuổi thọ 25
4.2.5. Ảnh hưởng của pH lên sức sinh sản 28
4.2.6. Ảnh hưởng của pH lên tốc độ lọc 30
4.2.7. Ảnh hưởng của pH lên tốc độ ăn 32
Chương 5. KẾT LUÂN VÀ ĐỀ XUẤT 34
5.1. Kết luận 34
5.2. Đề xuất 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 v
Danh Sách Hình
Danh Sách Bảng
Bảng 4.2.1. Giá trị trung bình thời gian thành thục 19
Bảng 4.2.2. Giá trị trung bình thời gian phát triển phôi 21
Bảng 4.2.2. Giá trị trung bình thời gian phát triển phôi trứng sau cùng 22
Bảng 4.2.3. Giá trị trung bình nhịp sinh sản 24
Bảng 4.2.4. Giá trị tuổi thọ trung bình 27
Bảng 4.2.5. Giá trị số lượng trứng trung bình 28
Bảng 4.2.6. Giá trị trung bình tốc độ lọc 31
Bảng 4.2.7. Giá trị trung bình tốc độ ăn 33
1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây nghề nuôi trồng thủy sản đang ngày càng được phát
triển. Do đó vấn đề về con giống đang hết sức được quan tâm. Để việc nuôi trồng
thủy sản mang lại hiệu quả cao thì khâu quản lý ao nuôi là rất cần thiết, nhưng
bên cạnh đó vấn đề về thức ăn cũng không kém phần quan trọng, bởi vì tất cả các
loài động vật thủy sản trong giai đoạn đầu của quá trình ương nuôi đều cần sử
dụng các loại thức ăn có kích cỡ phù hợp với cỡ miệng, mà trong đó thức ăn tự
nhiên có thể đáp ứng được yêu cầu đó. Thức ăn tự nhiên có kích cỡ tương đối
nhỏ, là mắc xích đầu tiên tạo nên năng suất sinh học sơ cấp, đánh giá sơ bộ về
hàm lượng chất dinh dưỡng và cả về chỉ thị môi trường. Theo Đặng Ngọc Thanh
(1974), thì “nguồn thức ăn tự nhiên nói chung và thực vật nổi hay tảo nói riêng là
thành phần cơ bản của động vật thủy sản trong thủy vực”. Thức ăn tự nhiên đóng
góp quan trọng trong quá trình sống, sinh trưởng và phát triển của thủy sinh vật.
Bên cạnh tất cả các loại thức ăn tự nhiên được sử dụng phổ biến trong quá trình
ương nuôi hiện nay như: tảo, Artemia, giáp xác râu ngành… thì luân trùng được
xem là nguồn thức ăn quan trọng cho ấu trùng tôm, cá. Do có các đặc điểm nổi
Ảnh hưởng của pH lên thời gian thành thục của luân trùng nước ngọt Brachionus
angularis.
Ảnh hưởng của pH lên thời gian phát triển phôi của luân trùng nước ngọt
Brachionus angularis.
Ảnh hưởng của pH lên nhịp sinh sản của luân trùng nước ngọt Brachionus
angularis.
Ảnh hưởng của pH lên sức sinh sản của luân trùng nước ngọt Brachionus
angularis.
Ảnh hưởng của pH lên tuổi thọ của luân trùng nước ngọt Brachionus angularis.
Ảnh hưởng của pH lên tốc độ lọc của luân trùng nước ngọt Brachionus angularis.
Ảnh hưởng của pH lên tốc độ ăn của luân trùng nước ngọt Brachionus angularis.
3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1.Tình hình phát triển ngành nuôi luân trùng
Bên cạnh tảo phiêu sinh, luân trùng đặc biệt là loài Brachionus đóng vai trò quan
trọng trong nghề nuôi trồng thủy sản. Đặc biệt chúng là thức ăn cho ấu trùng cá
biển (sarma, 2001). Ở nhiều nước như: Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, nuôi luân
trùng đã trở thành nghề nuôi thương phẩm.
Ở Nhật Bản, Brachionus plicatilis lần đầu tiên được Katashi (1995) nghiên cứu
và phát hiện ra như một loại thức ăn lý tưởng cho ấu trùng cá biển Agu. Hiện nay
nuôi sản xuất Brachions plicatilis dòng S và dòng L là mục tiêu của nghề nuôi cá
Pagrus major, Japanese flounder… với qui mô sản xuất lớn, nuôi luân trùng ở
Lớp phụ: Mongononta
Liên bộ: Pseudotrocha
Bộ: Ploima
Họ: Brachionidae
Giống: Brachionus
Loài: Brachionus angularis
(Goss, 1851)
http:.//www.Itis.gov. Cập nhật ngày 19 tháng 05 năm 2009.
2.2.2.Hình thái
Trùng bánh xe thuộc nhóm động vật đa bào nhỏ nhất trong số hơn 1000 loài đã
được mô tả, 90% trong số đó sống trong sinh cảnh nước ngọt, chiều dài cơ thể ít
khi đạt tới 2mm. Cơ thể của tất cả các loài luân trùng gồm có một số lượng không
đổi tế bào, loài Brachionus chứa khoảng 1000 tế bào (Dhert, 1996). Luân trùng có
kích thước từ 100 – 340 µm (Dhert, 1996), có dạng hình trứng dài, hơi hẹp theo
hướng lưng bụng, bờ bụng trước có 4 gai dạng u lồi giữa có khe hình chữ V.
Luân trùng thường phân bố ở ao đầm nước lợ và vùng cửa sông (Đặng Ngọc
5
Thanh, 1980). Ở nước ta loài luân trùng thường gặp là loài Brachionus
rotundiformis (Trương Sĩ Kỳ, 2004).
Brachionidae hiện tại bao gồm bảy giống (Koste, 1978), Brachionus, Keratella,
Notholca, Anuuraeopsis, Kellicottia, Platyias và Paranuraeopsis.
Luân trùng Brachionus angularis là phiêu sinh động vật có dạng hình trứng ngắn,
có kích thước từ 88 – 120 µm (Sudzuki, 1989, trích Nguyễn Tuấn Khương,
2008). Theo Goss (1851) thì luân trùng Brachionus angularis có chiều dài là
174µm và chiều rộng là 140 µm.
Theo Huang (1996), thì kích thước của luân trùng Brachionus angularis có chiều
dài là 80 – 110 µm và chiều rộng là từ 62 - 83µm.
Cơ thể luân trùng được chia làm 3 phần khác nhau gồm: đầu, thân và chân.
- Phần đầu: chứa cơ quan quay, hoặc vành, rất dễ được nhận biết bởi các lông tơ
độ 25
o
C, sau 0.5 – 1.5 ngày ấu trùng bắt đầu trưởng thành và sau đó con cái cứ
khoảng 4 giờ lại đẻ trứng một lần, con cái có thể sinh sản 10 thế hệ con (Dhert,
1996). Tuy nhiên khả năng sinh sản của con cái còn tùy thuộc rất nhiều vào điều
kiện môi trường và đặc biệt là nhiệt độ.
2.2.4.Sinh sản và vòng đời
Theo Hoff và Snell (1989, trích Nguyễn Tuấn Khương, 2008), thì vòng đời luân
trùng gồm 4 giai đoạn:
Giai đoạn phôi: từ khi trứng được tạo thành đến khi nở
Giai đoạn trước sinh sản: từ khi trứng nở đến khi sinh sản lần đầu tiên
Giai đoạn sinh sản: từ khi đẻ trứng lần đầu tiên đến khi trứng cuối cùng được đẻ
ra
Giai đoạn sau sinh sản: từ khi ngừng đẻ đến chết
Thời gian trải qua mỗi giai đoạn phụ thuộc vào điều kiện môi trường và tùy loài.
Luân trùng có hai hình thức sinh sản: sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính.
- Sinh sản vô tính: trong điều kiên môi trường thuận lợi con cái vô tính sẽ sinh
sản ra trứng lưỡng bội (2n) và phát triển thành con cái đơn tính. Con cái này sinh
sản với tốc độ nhanh, cứ khoảng 4 giờ con cái đẻ trứng một lần, mỗi lần cho 1 – 2
trứng 2n có kích cỡ (80 – 100) x (100 – 130) µm. Tốc độ sinh sản phụ thuộc vào
7
điều kiện nuôi và tuổi thọ luân trùng. Đây là hình thức sinh sản nhanh nhất để gia
tăng quần thể luân trùng và là hình thức nuôi quan trọng trong hệ thống nuôi luân
trùng.
- Sinh sản hữu tính: trong vòng đời của luân trùng khi gặp điều kiện bất lợi
(chẳng hạn như các yếu tố vật lý và hóa học, thức ăn, cạnh tranh…), chúng bắt
đầu hình thức sinh sản hữu tính, con cái (2n) sẽ đẻ ra 1 – 6 trứng 1n, có kích cỡ
(50 – 70) x (80 – 100) µm, trứng này sẻ nở thành con đực 1n có kích cỡ rất nhỏ.
Con đực có chứa đầy tinh dịch (1n). Con đực 1n sẻ bắt cặp và giao phối với con
Luân trùng không có hiện tượng lột xác, con trưởng thành thường lớn gấp 3 – 10
lần so với cá thể mới nở. Tuy vậy nhưng số tế bào trong từng cá thể trưởng thành
tương tự nhau trong cùng loài (Dương trí Dũng, 2000).
Tuổi thọ thường biến động theo loài: 6 ngày (Brachionus plicatilis), 8 ngày
(Epiphanes senta), 7.4 ngày (Lecan inermis). Con đực sống được 2 – 3 ngày
(Dương Trí Dũng, 2000).
2.3.Điều kiện nuôi
Brachionus calyciflorus và Brachionus rubens là hai loài thường được nuôi ở
điều kiện nước ngọt. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của chúng là từ 15 –
31
o
C (Hoff và Snell, 1987). Trong hệ thống nuôi người ta thường sử dụng nhiều
loại thức ăn khác nhau như tảo Scenedeesmus, Kirchneriella, Phacus,
Ankistrodesmus và Chlorella, men bánh mì…Theo Groeneweg và Schluter(1981.
trích Mostary, 2007), cho rằng cả hai loài luân trùng trên là thức ăn quan trọng
cho ấu trùng cá.
Theo nhận định của Nagata (1992. trích Quách Thế Vinh, 2004), khi nghiên cứu
ảnh hưởng của men và các loài tảo khác nhau thì luân trùng sử dụng tảo Chlorella
cho tốc độ sinh trưởng và phát triển với tốc độ cao nhất.
Trong môi trường nước thì Chlorella và Scenesdesmus là loài tảo được sử dụng
trong hệ thống nuôi luân trùng và có thể cho ăn riêng rẽ từng loài tảo (Arimoro,
2006). 9
2.3.1.Nồng độ muối
Luân trùng Brachionus angularis và luân trùng Brachionus quadidentatus chúng
có khả năng sống ở nồng độ dưới 5 - 10‰, nên có nhiều ý kiến cho rằng chúng
rất có tiềm năng được nuôi để làm thức ăn cho ấu trùng cá sống ở vùng nước mặn
C.
Theo Vey và Moore (1983. trích Mostary et al, 2007), thì nhiệt độ tối ưu để nuôi
luân trùng có giá trị trung bình từ 22 – 30
o
C.
Theo Hirayama và Kusano (1972. trích Mostary et al, 2007), thì nhiệt độ trong hệ
thống nuôi luân trùng là ở 25
o
C.
Nhiệt độ tối ưu là từ 21 – 25
o
C (Dhert, 1996). Nhiệt độ ảnh hưởng đến thành
phần sinh hóa và khả năng tiêu thụ thức ăn của luân trùng. Ở nhiệt độ cao sẽ làm
tăng khả năng tiêu thụ thức ăn và đồng thời làm tăng chi phí thức ăn. Ở nhiệt độ
cao luân trùng sẽ tiêu thụ nhanh nguồn cacbon hydrat và chất béo dự trữ (Dhert,
1996). 10Theo kết quả nghiên cứu của Ruttner-Kolisko (1972) trên luân trùng Brachionus
plicatilis với sự ảnh hưởng của nhiệt độ từ 15 – 25
o
C thì:
Nhiệt độ
o
C 15
o
C 20
2.3.3.pH
Trong môi trường tự nhiên pH thường trong khoảng từ 6 – 9. Giá trị pH nhỏ hơn
5 và trên 10, trên thực tế có thể làm giảm sự phát triển của nhiều loài cá và giáp
xác (Prophet, 1963; Anon, 1969; O’Brien & de Noyelles, 1972; Fryer, 1980;
Havas & Hutchinson, 1982; Malley & Chang, 1986; Manny et al., 1987;
Hargenby & Petersen, 1988).
Theo kết quả thí nghiệm của các trường và từ các phòng thí nghiệm thì pH từ 6 –
9 là điểm gây chết hoặc làm ảnh hưởng đến sức sống của loài zooplankton
(O’Brien và de Noyelles, 1972; Potts và Fryer, 1979; Alibone và Hội chợ, 1981;
Mitchell & Joubert, 1986; Mitchell 1992; Vijverberg et al., 1996; Wang et al.,
1997; Locke và Sprules, 2000). Giá trị pH phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó sự
hấp thu nguồn đạm khác nhau cũng dẫn đến sự biến đổi pH của môi trường có
tảo.
Theo Oh-hama (1986. trích Trần Sương Ngọc, 2003), thì sự hấp thu N-NO
3
sẽ
dẫn đến pH tăng trong khi đó tế bào tảo hấp thu N-NH
4
+
sẽ dẫn đến pH giảm.
Luân trùng là một thành phần quan trọng của zooplankton. Nhiều loài luân trùng
có thể xuất hiện ở những điểm pH khác nhau từ 4.5 – 8.5 (Be-rzin,S & Pejler,
1987). Sự khác biệt của pH có thể dự kiến được sự thay đổi của các loài luân
trùng khác nhau, thay đổi khả năng cạnh tranh của các loài và quy định sự cạnh
tranh đó (Mitchell & Joubert, 1986; Frost et al., 1998). Ngoài sự tương tác của
các yếu tố sinh học thì các yếu tố hóa học như pH cũng có thể xác định kết quả
cạnh tranh giữa các loài (Hessen et al.,1995; Pehek, 1995).
11
& Joubert, 1986). pH được diễn đạt cho sự ảnh hưởng lớn tới tốc độ tăng trưởng
và khả năng sinh sản của luân trùng Brachionus angularis (Mitchell, 1992).
Những phản ứng của Brachionus trên các pH khác nhau đã được nghiên cứu rộng
rãi (Mitchell & Joubert, 1986; Mitchell, 1992; Wang et al.,1997; Xi & Huang,
1999). pH được diễn đạt cho sự ảnh hưởng lớn tới tốc độ sinh trưởng và khả năng
sinh sản của loài Brachionus calyciflorus.
12
Theo Hoff và Snell (1989, Mostary et al, 2007) cho rằng phạm vi thích hợp cho
luân trùng Brachionus calyciflorus là từ 6 – 8.
Giá trị trung bình của pH được điều chỉnh dưới sự miêu tả của Mitchell & Joubert
(1986), bằng cách dùng NaOH để làm tăng giá trị của pH hoặc dung dịch HCl để
làm giảm giá trị của pH.
2.3.4.Ánh sáng
Cường độ ánh sáng và chu kỳ chiếu sáng tốt nhất cho luân trùng là 2000 lux và 18
giờ sáng : 6 giờ tối mỗi ngày. Khi so sánh hệ thống nuôi ngoài trời với ánh sáng
mặt trời đầy đủ và nuôi trong điều kiện tối, Fukusho (1989, trích Trần Công Bình,
2005) nhận thấy luân trùng Brachionus plicatilis phát triển tốt trong điều kiện ánh
sáng đầy đủ. Theo Fulks (1991, trích Trần Sương Ngọc, 2003) ánh sáng kích
thích sự phát triển của luân trùng nhờ vào sự gia tăng phát triển của vi khuẩn
quang hợp và tảo trong bể nuôi.
2.3.5.Dinh dưỡng
Luân trùng là loài ăn lọc không chọn lọc,thức ăn có kích cỡ từ 20 – 25µm mang
đến miệng nhờ sự chuyển động của vòng tiêm mao (Dhert, 1996), thông qua hoạt
động bơi lội. Trong tự nhiên thức ăn chủ yếu của luân trùng là loài tảo phiêu sinh
như: Chlorella, Nanochoropsis, Dunaliella và các loài tảo khác. Ngoài ra chúng
còn có khả năng ăn được nhiều loại thức ăn khác như men bánh mì, bột đậu nành,
thức ăn nhân tạo, vi khuẩn, chất hữu cơ lơ lững trong nước…Tuy nhiên giá trị
dinh dưỡng của thức ăn sẽ quyết định đến giá trị dinh dưỡng, cũng giống như
năng suất nuôi luân trùng. Do đó việc lựa chọn nguồn thức ăn thích hợp rất quan
bị nhiễm Euplotes sp là một vấn đề lớn, đặc biệt khi chúng phát triển quá mức
không những làm suy tàn quần thể tảo mà còn hạn chế sự phát triển của luân
trùng.
Ngoài ra các loài giáp xác râu ngành cũng là tác nhân làm giảm số lượng luân
trùng trong quá trình nuôi do chúng cạnh tranh thức ăn và môi trường sống.
Trong hệ thống nuôi luân trùng , tiêm mao trùng sinh sản nhanh bằng nhiều hình
thức làm giảm chất lượng luân trùng và cuối cùng đưa đến sự suy tàn của quần
thể luân trùng (Thái Trần Bái, 2001). Chúng xuất hiện trong trường hợp sử dụng
men bánh mì làm thức ăn (Dhert, 1996).
Theo Dhert (1996), thì tiêm mao trùng tạo nhiều hợp chất N – NO
2
làm giảm pH,
gây ảnh hưởng không tốt đến điều kiện sống của luân trùng. Khi một vài loài vi
khuẩn, vật lây nhiễm, xác chết luân trùng thì sẽ làm giảm số lượng luân trùng.
Tuy nhiên chúng có hiệu quả tích cực trong việc giải phóng các chất khí độc từ vi
khuẩn và từ sự dư thừa thức ăn.
14
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Thời gian và địa điểm
3.1.1.Thời gian: Các thí nghiệm được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2009
3.1.2.Địa điểm: Các thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm nuôi luân
trùng thuộc Khoa Thủy Sản Trường ĐHCT.
3.2.Phương pháp nghiên cứu
3.2.1.Vật liệu thí nghiệm
3.2.1.1.Dụng cụ
Cốc thủy tinh
Ống falcon (lưu giữ luân trùng)
bỏ các sinh vật khác. Khi đã tách được luân trùng, sau đó dùng pipet bắt một con
luân trùng dưới kính lúp bỏ vào ống falcon và cho ăn bằng tảo Chlorella. Sau một
vài ngày khi mật độ luân trùng tăng thì tiến hành nhân giống luân trùng trong ống
nghiệm 10ml, trong bình tam giác (50ml, 100ml, 500ml…) và tiếp tục nhân giống
luân trùng với các thể tích nuôi lớn hơn.
Sau khi phân lập được luân trùng có thể lưu giữ luân trùng bằng ống falcon 50ml,
mật độ 1 luân trùng/ống falcon cho ăn bằng tảo Chlorella với mật độ 2 triệu tb/ml
và đặt lên rotor quay 4vòng /phút.
3.4.Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm: Ảnh hưởng của pH lên vòng đời và sự phát triển của luân trùng
Brachionus angularis.
Thí nghiệm được bố trí 1con/cốc thủy tinh 1ml, gồm 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm
thức được lập lại 10 lần.
Nghiệm thức 1: nuôi luân trùng ở pH = 5
Nghiệm thức 2: nuôi luân trùng ở pH = 6
Nghiệm thức 3: nuôi luân trùng ở pH = 7
Nghiệm thức 4: nuôi luân trùng ở pH = 8
Nghiệm thức 5: nuôi luân trùng ở pH = 9
Thức ăn cho luân trùng là tảo Chlorella, mật độ tảo cho ăn là 2 triệu tb/ml.
Thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện phòng thí nghiệm có máy điều hòa ổn
định nhiệt độ ở 28
o
C, bằng heater. Nước sau khi được xử lý xong thì tiến hành
điều chỉnh pH, theo phương pháp của Mitchell & Joubert (1986), dùng NaOH để
tăng pH và HCl để giảm pH.
16
Luân trùng mẹ được nuôi trong pH cùng điều kiện pH với thí nghiệm, con non
vừa mới nở ra được bắt và bố trí vào cốc thủy tinh, với số lượng 1 con/700µl
nước. Luân trùng được quan sát 30 phút một lần bằng kính lúp có độ phóng đại
t
CtCov
F
)ln(ln
Co: mật độ tảo ban đầu (tb/µl)
Ct: mật độ tảo tại thời điểm t (tb/µl)
t: thời gian nuôi (giờ)
v: thể tích nước nuôi (µl)
17
Tốc độ ăn – I (tb/con/ml): số tế bào tảo mà luân trùng sử dụng, xác định
trong một khoảng thời gian và được tính theo công thức Ferrando et al
(1993).
CtCoFI .
Co: mật độ tảo ban đầu (tb/µl)
Ct: mật độ tảo tại thời điểm t (tb/µl)
t: thời gian nuôi (giờ)
3.6.Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý bằng phần mềm excell, statistica.