khảo sát hiện trạng các mô hình nuôi cua biển (scylla pp) ở tỉnh cà mau - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LĂNG ĐOÀN THÁI MINH
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG CÁC MÔ HÌNH NUÔI CUA
BIỂN (Scylla pp) Ở TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LĂNG ĐOÀN THÁI MINH
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG CÁC MÔ HÌNH NUÔI CUA
BIỂN (Scylla pp) Ở TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
T.s TRƯƠNG HOÀNG MINH
Th.s. TRẦN VĂN VIỆT
2009
i
LỜI CẢM TẠ
Trước hết, xin chân gởi đến thầy Trần Văn Việt và thầy Trương Hoàng Minh
lời cảm ơn sâu sắc đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên
cứu và hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp nầy.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô khoa thủy sản, trường Đại học Cần Thơ đã
tận tình giảng dạy, bồi dưỡng cho tôi những kiến thức bỗ ít để thực hiện tốt đề
tài nầy.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ đang công tác tại phòng nông
nghiệp huyện Đầm Dơi, Ngọc Hiển và Trần Văn Thời đã cung cấp cho tôi
những thông tin cần thiết.
Xin cảm ơn tất cả các bạn lớp Quản lý nghề Cá khóa 31 đã nhiệt tình giúp đỡ

Lời cảm tạ ……………………………………………………………… i
Tóm tắt………………………………………………………………… ii
Mục lục ……………………………………………………………………….iii
Danh sách bảng…………………………………………………………… v
Danh sách hình ……………………………………………………………….vi
Các từ và thuật ngữ viết tắt …………………………………………………vii
Chương I: GIỚI THIỆU Error! Bookmark not defined.
1.1 Đặt vấn đề Error! Bookmark not defined.
1.2 Mục tiêu đề tài Error! Bookmark not defined.
1.3 Nội dung nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
Chương II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Error! Bookmark not defined.
2.1 Đặc điểm sinh học cua biển Error! Bookmark not defined.
2.3 Kỹ thuật nuôi cua kết hợp Error! Bookmark not defined.
2.4 Tình hình nuôi cua biển Error! Bookmark not defined.
2.4.1 Trên thế giới Error! Bookmark not defined.
2.4.2 Ở Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2.4.3 Tình hình nuôi thủy sản và Cua ở Cà Mau Error! Bookmark not defined.
2.4.4 Khuynh hướng phát triển nghề nuôi cua ở Cà Mau .Error! Bookmark not
defined.
Chương III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined.
3.1 Thời gian và địa điểm Error! Bookmark not defined.
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Cà Mau Error! Bookmark not defined.
3.2 Vật liệu nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
3.3 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu Error! Bookmark not
defined.
3.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Error! Bookmark not defined.
Chương IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Error! Bookmark not defined.
4.1 Tình hình phát triển của mô hình bán thâm canh cua và cua – rừng – tôm ở tỉnh
Cà Mau Error! Bookmark not defined.
4.2 Mô hình cua -rừng – tôm và mô hình bán thâm canh cua Error! Bookmark

vi
DANH SÁCH HÌNH
Tựa đề Trang
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Cà Mau …………………………………………………… 14
Hình 4.1: Diện tích mặt nước trung bình của mô hình cua - rừng - tôm và bán thâm
canh cua (chuyên cua) ở tỉnh Cà Mau………………………………………………18
Hình 4.2: Phần trăm số hộ sử dụng nguồn cua giống cho mô hình cua – rừng –tôm ở
tỉnh Cà Mau……………………………………………………………………… 18
vii
CÁC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng bằng sông cữu long
TTXVN Thông tấn xã việt Nam
1
Chương I
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Đồng Bằng Sông Cửu Long của Việt Nam là vùng có hệ thống sông ngòi rộng
khắp và bờ biển dài rất thuận lợi cho việc phát triển thủy sản. Hàng năm ngành
thủy sản góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, năm
2008 tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 2.5 tỷ đô la (TTXVN, 2009).
Nghề nuôi trồng thủy sản trong những năm gần đây có những bước phát triển
vượt bậc. Trong đó nghề nuôi thủy sản nước lợ đang phát triển mạnh mẽ, được
đánh giá có nhiều tiềm năng phát triển và góp phần đáng kể vào nền kinh tế
đất nước.
Những đối tượng thủy sản nước lợ được nuôi phổ biến ở ĐBSCL như: Tôm
sú, Cua biển, cá Chình, cá Mú, các loài cá nước lợ khác. Trong những loài
giáp xác được nuôi, bên cạnh con Tôm sú thì con Cua biển (Scylla serrata)
đang được người dân chọn làm đối tượng nuôi khá phổ biến trong các ao đầm
nước lợ ven biển, do chúng có khả năng tăng trọng nhanh, kích thước lớn, dễ
nuôi không đòi hỏi kỹ thuật cao và thu hoạch trong thời gian ngắn. Cua biển là

tôm.
3
Chương II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học cua biển
Giới thiệu chung
Cua biển (Scylla sp) là loài giáp xác thuộc bộ mười chân (Decapoda), là đối
tượng hải sản quý, có giá trị thương mại cao và là mặt hàng xuất khẩu quan
trọng của nhiều nước. Việt Nam có nguồn lợi cua khá phong phú, phân bố ở
khắp các vùng biển, ao đầm, cửa sông, vùng vịnh. Ở vùng biển Việt Nam cua
xanh và cua bùn là hai loài cua có kích thước lớn, có giá trị kinh tế cao. Cua có
thân hình dẹp theo hướng lưng bụng. Toàn bộ cơ thể được bao bọc trong lớp
vỏ kitin dày, thường có màu xanh lục hay vàng sẫm.
(Nguồn: htt://www.fistenet.gov.vn/DMSP/index.asp?menu=cua)
Vòng đời cua biển
Vòng đòi cua biển trãi qua nhiều giai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn có tập
tính sống, cư trú khác nhau.
- Ấu trùng Zoea và Mysis: Sống trôi nổi và nhờ dòng nước đưa vào ven bờ
biến thái thành cua con.
- Cua con: Bắt đầu sống bò trên đáy và đào hang để sống hay chui rúc vào gốc
cây, bụi rậm, đồng thời với việc chuyển từ đời sống trong môi trường nước
mặn sang nước lợ ở rừng ngặp mặn, vùng cửa sông hay cả vùng nước ngọt
trong quá trình lớn lên.
- Cua đạt giai đoạn thành thục: Có tập tính di cư ra vùng nước mặn ven biển
sinh sản. Cua có khả năng bò lên cạn và di chuyển rất xa. Đặc biệt vào thời kỳ
sinh sản cua có khả năng vượt cả rào chắn để di cư sinh sản.
- Ấu trùng Zoea thích hợp với độ muối từ 25-30%o, cua con và cua trưởng
thành thích nghi và phát triển tốt trong phạm vi 2-38 %o. Tuy nhiên, trong thời
kỳ đẻ trứng đòi hỏi độ mặn từ 22-32 %o. Cua biển là loài phân bố rộng, tuy
nhiên, nhiệt độ thích hợp nhất từ 25-30

năm) lại di cư ra vùng biển gần bờ. (Hoàng Đức Đạt, 2003)
Tính ăn
Tính ăn của cua biến đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển. Giai đoạn ấu trùng, Cua
thích ăn thực vật và động vật phù du. Cua con chuyển dần sang ăn tạp như
rong tảo, giáp xác, nhuyễn thể, cá hay cả xác chết động vật. Cua con 2-7cm ăn
chủ yếu giáp xác, cua 7-13cm thích ăn nhuyễn thể và cua lớn hơn thường ăn
cua nhỏ, cá,…
Cua có tập tính trú ẩn vào ban ngày và kiếm ăn vào ban đêm. Nhu cầu thức ăn
của chúng khá lớn nhưng cũng có khả năng nhịn đói 10 – 15 ngày.
Cua có đôi mắt kép rất phát triển có khả năng phát hiện mồi hay kẻ thù từ bốn
phía. Khứu giác cũng rất phát triển giúp cua phát hiện mồi từ xa. Cua di
chuyển theo lối bò ngang. Khi gặp kẻ thù, chúng lẩn trốn vào hang hay tự vệ
bằng đôi càng to và khỏe.
(Nguồn:http://aquatic.plus.vn/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=162)
5
Lột xác và tái sinh
Quá trình phát triển của cua trải qua nhiều lần lột xác biến thái để lớn lên.
Thời gian giữa các lần kột xác thay đổi thao từng giai đoạn. Ấu trùng cua lột
xác trong vòng 2-3 hoặc 3-5 ngày/lần. Cua lớn lột xác chậm hơn nửa tháng
hay một tháng một lần. Sự lột xác của cua có thể bị tác động bởi 3 loại kích
thích tố ức chế lột xác, kích thích tố thúc đẩy lột xác và kích thích tố điều
khiển hút nước lột xác.
Đặc biệt trong quá trình lột xác cua có thể tái sinh laị những phần đã bị mất
như chân, càng,…Cua thiếu phụ bộ hay phụ bộ bị tổn thương thường có
khuynh hướng lột xác sớm hơn. (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải,
2004)
2.2 Kỹ Thuật Nuôi cua thương phẩm
Xây dựng ao nuôi :
Ao nuôi cua con thành cua thương phẩm thường có diện tích từ 500m
2

mặn 15- 25%
0
. Tuy vậy cua chịu sự thay đổi độ mặn rất lớn, cua sống và phát
triển tốt ở độ mặn 5%
0
đến 30%
o
. (Bùi Việt Hùng, 2007)
Thả giống:
Nguồn cua giống cung cấp cho nghề nuôi cua chủ yếu dựa vào nguồn giống
tự nhiên. Nguồn cua giống thu được ở hàng đáy, ghe cào ở các cửa sông, tìm
bắt ở các bãi sình vùng ngập mặn.
Cua giống có các cỡ:
- Loại nhỏ 60-120 con/kg
- Loại vừa 25-50 con/kg
- Loại lớn 10-15 con/kg
Tốt nhất là nên thu mua cua giống từ vùng lân cận và sau khi đã đánh bắt
được chuyển nhanh về nơi thả nuôi. Tính toán số lượng cần thả đặt mua trong
mấy ngày liên tục để thả cua vào ao nuôi trong thời gian tương đối ngắn.
Trong từng ao nên thả cua cùng cỡ. Cũng có thể chọn cỡ cua theo mong muốn
ngay ở nơi cung cấp cua giống, hoặc tuyển chọn trước lúc thả nuôi. (Bùi Việt
Hùng, 2007)
Mật độ thả:
Cua nhỏ 3-5 con/m
2
, loại vừa 2-3 con/m
2
, cỡ lớn 0,5-1 con/m
2
. Thả giống ở

của cua, xem xét tình trạng của cua: cua nhanh nhẹn, không bị ký sinh ngoài
vỏ, xem trong xoang mang có bị ký sinh hay không. Nếu có hiện tượng bị
nhiễm bệnh thì phải tìm nguyên nhân và biện pháp xử lý.
Thời gian cuối của vụ nuôi trọng lượng cua trong ao tăng lên, cho ăn thức ăn
nhiều nên môi trường rất dễ bị nhiễm bẩn. Cho nên việc thay nước thường
xuyên kiểm tra môi trường rất có ý nghĩa. Trong một số trường hợp, đáy ao
tích tụ nhiều thức ăn thừa, thối rữa, có thể phải tháo cạn, gạn cua và làm vệ
sinh đáy ao : cào bỏ lớp bùn trên mặt và thức ăn thừa thối rữa đi. (Bùi Việt
Hùng, 2007)
Thu hoạch:
Đánh thử cua lên kiểm tra chất lượng. Cua thường phẩm phải đạt 250g/con trở
lên. Cua chắc thịt hoặc đã đầy gạch (cua cái). Khi thấy cua đã đạt tiêu chuẩn,
được giá thì thu hoạch cua để bán.
Những cua chưa đạt kích thước, trọng lượng, cua ốp hoặc chưa đầy gạch nếu
còn khoẻ mạnh thì có thể đem nuôi ở các ao nhỏ, nuôi vỗ tích cực sau một thời
gian đạt tiêu chuẩn thu hoạch bán sẽ được giá hơn.
8
Nuôi cua thương phẩm từ cua con, thời gian từ 3 – 8 tháng thường tỉ lệ hao hụt
tương đối lớn (40 – 60%) nhưng trọng lượng cua tăng từ 3 – 4 lần (tăng từ 60-
80g/con lên 250-350g/con). Tổng trọng lượng của cua thương phẩm tăng từ
1.5 – 2 lần tổng trọng lượng cua giống. (Bùi Việt Hùng, 2007)
Một số điểm cần chú ý để nuôi cua thành công:
- Cua giống phải đồng cỡ, thả cùng một lúc.
- Phải có đủ nguồn nước trong sạch để thay thường xuyên.
- Phải có đủ nguồn thức ăn tươi sống.
- Phải có đăng chắn ở trên bờ ao.
- Trong ao phải có các ụ chà làm nơi trú ẩn cho cua.
2.3 Kỹ thuật nuôi cua kết hợp
Đây là hình thức nuôi quản canh kết hợp nuôi cá, tôm với cua, có vùng còn kết
hợp trồng rau câu. Ao đầm có diện tích nuôi lớn từ một đến vài chục hecta, ở

gần cống phải rào chắn không cho cua thoát ra ngoài.
Ngoài đắp đập xây dựng ao đầm, ở vùng vùng có thể dùng đăng chắn vây để
nuôi cua, tôm cá. Có thể lợi dụng địa hình ở eo vịnh chắn đăng từ một phía
đến ba phía đẻ nuôi cua. Thường dùng những đăng bằng tre cao cắm sâu
xuống đáy ghép với nhau có cọc đỡ. Đăng phải cao hơn mực nước từ 0,5-1m.
(Hoàng Đức Đạt, 2003)
Thả giống
Nguồn cua giống thường thu qua cửa cống cùng với lấy giống tôm cá. Độ lớn
cua giống qua cống rất khác nhau tùy theo mùa vụ. trong và sau mùa sinh
sanrcos nhiều cua con cỡ nhỏ, chiều rộng mai từ 1-2cm đến 3-4cm. Những
tháng khác cua giống lớn hơn, có khi có cả cua trưởng thành đi vào đầm. Có
thể theo giõi cua giống vào qua cửa cống đẻ đánh giá mật độ cua trong ao
đầm. Việc thu cua giống qua cửa cống có thể kaos dài nhiều tháng. Nếu thấy
mật độ cua trong ao đầm thưa thì có thể thu thêm cua giống ở bên ngoài để thả
bỗ sung, cua giống thường được mua ở các hàng đáy, các ghe cào trong vùng.
Nên chọn những cua khỏe mạnh vận chuyển nhanh và thả vao ao đầm. Cua
được nuôi theo hình thức quảng canh nên mật độ thưa từ 0,1-0,2 con/m
2
.
(Hoàng Đức Đạt, 2003)
Chăm sóc và quản lý
Cua nuôi ghép trong ao đầm lớn thường có giống nhỏ, thời gian nuôi kéo dài
từ 3-8 tháng. Trong những tháng đầu cua sủ dụng chủ yếu là thức ăn tự nhiên
trong ao đầm, những tháng cuối khi cua lớn, sức ăn tăng thường cho thêm thức
ăn bỗ sung. Thường tận dụng thức ăn trong vùng cho cua ăn như: cá vụng (cá
10
đóng đáy, cào, đăng…), còng, ba khía. Thức ăn được chặt thành khúc nhỏ đem
rãi vào ao đầm.
Khi cho thức ăn xuống ao đầm ngoài cua còn có tôm cá cũng ăn, vì vậy cần
tính toán kỹ để đảm bảo đủ thức ăn cho tất cả các đối tượng nuôi.

này. Hình thức nuôi cua theo chu kỳ kín đang được nghiên cứu thực nghiệm
và công bố. Một số nước Châu Á: Đoài Loan, Thái Lan, Ấn Độ, Philippine,
Việt Nam,…nuôi theo hình thức nuôi đơn (trong ao, lồng), nuôi ghép với cá [
cá măng biển (Chanos chanos) ] với rong câu (Gracilaria). (Hoàng Đức Đạt,
2003)
Cua được nuôi nhiều ở các nước Đông Nam Á (Davis, 1996). Sản lượng cua
nuôi thương phẩm đã chiếm một tỉ lệ đáng kể trong sản lượng cua khai thác
tùy điều kiện của từng dùng, có những hình thức nuôi khác nhau: Ở Đoài
Loan, Cua được thả với mật độ 0,5-3 con/m
2
trong diện tích 0,2-0,5 ha cho ăn
cá tạp và ốc (khoảng 10-15 gam/m
2
/ngày), với thời gian 3-4 tháng nuôi, cua
tăng từ 8-9 cm và tỉ lệ sống đạt 30-70%, năng suất 1.800 kg/ha/vụ (Chen,
1990, trích dẫn từ Hồ Hoàng Hà, 2005).
Ở Trung Quốc cua được nuôi với mật độ 0.4-0.8 con/m
2
, kích cỡ cua giống
thả từ 5-25gam, cua thu hoạch là 125 gam trong 6-9 tháng. Cho ăn bỗ sung 5%
trọng lượng thân từ 3-4 lần/ngày và thu hoạch từ tháng 10-11. Năng suất đạt
300-500 kg/ha. Nuôi cua theo hình thức quảng canh, mật độ 3-4,5 con/m
2
,
kích cỡ cua giống 3-5 gam hoặc mật độ 1,5-2 con/m
2
với kích cỡ cua giống 3-
5 gam năng suất đạt 450-1.500 kg/ha (Luo,1998 trích dẫn bởi Hồ Hoàng Hà,
2005).
2.4.2 Ở Việt Nam

hợp trong mô hình tôm - cua và cua - rừng - tôm để tăng thu nhập và mô hình
nuôi cua bán thâm canh (huyện Trần Văn Thời, Cái Nước).
Năm 2009 Cà Mau hiện có 244.700ha nuôi tôm quảng canh truyền thống,
nhưng nông dân thả nuôi cua biển xen canh trên 80% diện tích này mang lại
hiệu quả kinh tế khá cao (TTXVN, 2009), Cua biển là đối tượng dễ nuôi, thời
gian thu hồi vốn nhanh (sau 3 tháng nuôi có thể thu tỉa với trọng lượng khoảng
200-250 gam), có giá trị kinh tế cao, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của
nhiều nước trên thế giới. Cà Mau hiện có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh cua
giống kết hợp với nguồn giống đánh bắt ngoài tự nhiên, sông gạch, ven biển,
đã giúp cho nông dân chủ động được nguồn giống thả nuôi (Agroviet-
27/10/2008. Cà Mau: Nuôi cua biển xen canh đạt hiệu quả kinh tế cao).
2.4.4 Khuynh hướng phát triển nghề nuôi cua ở Cà Mau
Đa số các hộ nuôi cua đều cho rằng, nghề nuôi cua tuy không đem lại lợi
nhuận cao, nhưng ít rủi ro và thất bại như nuôi tôm sú. Hiện nay nguồn cua
giống khá phong phú nên không gặp khó khăn về con giống, nguồn giống sẵn
có tại địa phương (cua ép, cua đóng đáy, cua bãi) và giá thành tương đối thấp:
cua cỡ tiêu dưa có giá từ 500-800 đồng/con, hạt me giá từ 1200-1500
đồng/con tạo điều kiện thuận lợi ban đầu cho người nuôi. Tuy nhiên, trong
những năm sắp tới diện tích, quy mô nuôi cua đặc biệt là mô hình nuôi chuyên
cua có thể được mỡ rộng và phát triển, có thể thay cho mô hình nuôi tôm sú
quảng canh cải tiến năng suất cao, mô hình nuôi tôm sú thâm canh, đang gặp
13
nhiều rũi ro về thời tiết, thị trường. Hiện nay giá cua thương phẩm tương đối
cao: cua gạch từ 150,000-300,000 đồng/kg, cua Y giá 80,000-120,000
đồng/kg, là động lực thúc đẩy nghề nuôi cua ở Cà Mau phát triển, vấn đề về
kỹ thuật nuôi và sự ổn định về giá thành cua thương phẩm là cần được quan
tâm để giúp cho người nuôi đạt hiệu quả cao nhất.
Trong thời gian sắp tới, việc tổ chức tập huấn kỹ thuật, có chính sách hỗ chợ
về vốn cũng là quan tâm hàng đầu của người nuôi, góp phần ổn định đời sống
người nuôi.

nuôi, nguồn giống, mật độ thả giống, số lần thả thả giống, nguồn thức ăn, cách
chăm sóc và quản lý.
- Thông tin về kinh tế: năng suất trên vụ nuôi, tổng chi phí, tổng thu nhập,
nghề nghiệp chính phụ, thuận lợi khó khăn.
3.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu thu được sẽ được kiểm tra trước khi nhập vào máy. Sau khi nhập vào
máy tính, số liệu được kiểm tra lần cuối trước khi tiến hành xử lý phân tích
thống kê. Sử dụng phần miềm Excel for windows để nhập số liệu, xử lý thống
kê và tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị tối đa, tối thiểu….và
dùng Words để viết báo cáo.
16
Chương IV
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình phát triển của mô hình bán thâm canh cua và cua – rừng –
tôm ở tỉnh Cà Mau
Qua kết quả điều tra tỉnh Cà Mau có các mô hình nuôi cua: nuôi cua ốp thành
cua chắc, nuôi bán thâm canh cua, nuôi kết hợp với mô hình tôm – cua, cua –
rừng – tôm.
Mô hình cua - rừng - tôm được nuôi ở những địa phương có diện tích rừng
ngập mặn lớn bao gồm các huyện: Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Năm Căn, mô hình
này được nuôi từ năm 2005 do sự xuất hiện của nguồn cua giống khai thác từ
tự nhiên (cua đóng đáy khai thác ở cửa sông bằng hàng đáy và cua bãi bắt từ
bãi biển), đến năm 2006 Cà Mau xuất hiện nhiều trại sản xuất giống cua nhân
tạo góp phần đa dạng và chủ động nguồn giống cho người nuôi, bên cạnh việc
chủ động về nguồn giống, thì giá cua thương phẩm ngày càng tăng (cua gạch
giá bán từ 80.000 – 120.000 đồng/kg năm 2005, từ 180.000 – 300.000 đồng/kg
năm 2009) trong các năm gần đây là nguồn động lực thúc đẩy mô hình cua –
rừng – tôm được nuôi phổ biến và thay thế cho mô hình tôm – rừng trước đây.
(Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Cà Mau, 2008)
Mô hình bán thâm canh cua được nuôi ở huyện Trần Văn Thời và Cái Nước,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status