kinh tế du lịch kinh nghiệm phát triển du lịch quốc tế của nhật bản - Pdf 10

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I: TÌM HIỂU CHUNG VỀ DU LỊCH
I. Khái niệm và phân loại du lịch
1. Một số khái niệm
2. Phân loại du lịch
3. Vai trò và những nội dung cơ bản của kinh doanh du lịch
3.1. Vai trò
3.1.1. Du lịch quốc tế tạo nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho đất nước
3.1.2. Tạo điều kiện cho đất nước phát triển du lịch
3.1.3. Tiết kiệm thời gian và tăng vòng quay của vốn đầu tư
3.1.4. Du lịch quốc tế là phương tiện quảng cáo không mất tiền cho đất nước
du lịch chủ nhà
3.1.5. Mở rộng và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế
3.1.6. Các vai trò khác
3.2. Nội dung của hoạt động kinh doanh quốc tế
II. Các nhân tố ảnh hưởng
2.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
2.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
2.3. Ảnh hưởng từ các nhân tố khác
Chương II: NHỮNG KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
QUỐC TẾ CỦA NHẬT BẢN
I. Giới thiệu chung về đất nước và hoạt động du lịch của
1. Vài nét về Nhật Bản và du lịch Nhật Bản
1.1. Sơ lược về Nhật Bản
1.2. Sơ lược về du lịch Nhật Bản
II. Kinh nghiệm phát triển hoạt động du lịch quốc tế của Nhật Bản
1. Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch
2. Kinh nghiệm phát triển cơ sở hạ tầng-vật chất phục vụ du lịch
2.1. Đường giao thông
2.2. Cơ sở lưu trú và vui chơi giải trí

2.2 Những đề xuất kiến nghị
2.2.1 Đối với các cơ quan chức năng quản lí về du lịch
2.2.1.1 Chính phủ
2.2.1.2 Tổng cục du lịch Việt Nam
2.2.2 Đối với các bộ ngành có liên quan
2.2.3 Đối với các khách sạn và công ty du lịch đón khách quốc tế
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI MỞ ĐẦU
Chương 1: TÌM HIỂU CHUNG VỀ DU LỊCH
I. Khái niệm và phân loại du lịch quốc tế
1. Một số khái niệm
I.1 Khái niệm về du lịch
Theo Tổ chức du lịch Thế giới, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động
của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan khám
phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí,
thư giãn; cũng như mục đích khác nhau nữa, trong thời gian liên tục
nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư;
nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.
Ở Việt Nam, khái niệm du lịch được nêu trong Luật du lịch như sau:
“Du lịch là hoạt động có liên quan tới chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”
I.2 Khái niệm về du lịch quốc tế
Du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm
đến của cuộc hành trình nằm ở các quốc gia khác nhau. Ở hình thức
này khách phải vượt qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch.
1.3 Khái niệm về thị trường du lịch quốc tế
Thị trường du lịch quốc tế được hiểu là điểm đến, sự lựa chọn của

biết về con người, văn hóa và đất nươc mình nhiều hơn.
3.5 Mở rộng và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế
Sự phát triển của du lịch có ý nghĩa quan trọng đến việc mở rộng và
củng cố các mối quan hệ kinh tế quôc tế. Các mối quan hệ này thường
theo hướng: ký kết hợp đồng trao đổi khschd giữa các nước tổ chức và
hãng du lịch; hợp tác phát triển trong lĩnh vực vay vốn phát triển du
lịch; hợp tác trong lĩnh vực cải tiến các mối quan hệ tiền tệ trong lĩnh
vực du lịch quốc tế.
Du lịch có vai trò quan trọng góp phần làm cho các dân tộc gần gũi
nhau hơn, bình thường hóa quan hệ quốc tế và tăng thêm phần hữu
nghị giữa các dân tộc.
3.6 Các vai trò khác
Bên cạnh những vai trò chủ yếu ở trên du lịch còn góp phần thúc đẩy
các quốc gia bảo tồn di xản văn hóa dân tộc, bảo vệ và phát triển môi
trường thiên nhiên- xã hội. Du lịch cũng kích thích các ngành nghề
khác phát triển như: giao thông vận tải, thông tin liên lạc, khách sạn, y
tế, xây dựng
Chính vì vai trò của du lịch đối với kinh tế là rất lớn do vậy cần hiểu
rõ mức độ quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch.
Du lịch phát triển góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng
thu ngoại tệ và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Hiệu
quả kinh doanh du lịch mang lại còn có vai trò quan trọng trong việc
tái xây dựng nền kinh tế, cải thiện trang thiết bị máy móc, phương tiện
kinh doanh.
II. Các nhân tố ảnh hưởng
Du lịch quốc tế, xét trên phương diện nào đó giống như hoạt động xuất
nhập khẩu hàng hóa quốc tế, nên du lịch quốc tế sẽ chịu ảnh hưởng
của nhiều nhân tố từ bên trong cũng như bên ngoài, lien quan đến luật
pháp của nhiều quốc gia khác nhau, nhiều nền văn hóa khác nhau.
2.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

ngành du lịch phát triển ở tầm cỡ quốc tế
• Sự can thiệp của chính phủ.
Chương II: NHỮNG KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
CỦA NHẬT BẢN
I. Giới thiệu chung về đất nước và hoạt động du lịch của Nhật Bản
1. Vài nét về Nhật Bản và du lịch Nhật Bản
1.1. Sơ lược về Nhật Bản
Tên gọi Nhật Bản có nghĩa là "gốc của Mặt Trời" và như thế được hiểu là
"đất nước Mặt Trời mọc". Nhật Bản còn có các mỹ danh là "xứ sở hoa anh
đào", vì loài hoa này nở rộ trên khắp nước Nhật từ Bắc xuống Nam, hay "đất
nước hoa cúc" vì bông hoa cúc 16 cánh giống như Mặt Trời đang tỏa chiếu là
biểu tượng của hoàng gia và là quốc huy Nhật Bản hiện nay. Nhật Bản còn
được gọi là Phù Tang - một loại cây dâu. Theo truyền thuyết cổ phương Đông
có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần Mặt Trời
nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang
Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt Trời mọc.
1.1.1 Địa lý
Nhật Bản là quốc gia hải đảo hình vòng cung, có diện tích tổng cộng là
379.954 km², nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa châu Á. Đất nước
này nằm ở phía đông của Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc và trải từ biển
Okhotsk ở phía bắc đến biển đông Trung Quốc ở phía nam.
1.1.2 Khí hậu và cảnh quan thiên nhiên
• Khí hậu
Nhật Bản thuộc vùng ôn đới, có 4 mùa rõ rệt. Vị trí nằm trên vành
đai núi lửa Thái Bình Dương, nằm ở điểm nối của ba vùng kiến tạo
địa chất đã khiến Nhật Bản thường xuyên phải chịu các dư trấn
động đất nhẹ cũng như các hoạt động của núi lửa. Các cơn động
đất có sức tàn phá, thường dẫn đến sóng thần, diễn ra vài lần trong
một thế kỷ. Vì các hoạt động núi lửa diễn ra thường xuyên nên
quốc gia này có vô số suối nước nóng và các suối này đã và đang

truyền thống khác như trà đạo, kiến trúc, vườn Nhật và cả gươm Nhật. Ẩm
thực Nhật Bản hiện nay là một trong những nền ẩm thực nổi tiếng nhất trên
thế giới.
1.1.5. Kinh tế
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên, ngoại trừ gỗ và hải sản, trong
khi dân số quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá
kiệt quệ trong chiến tranh. Tuy nhiên,nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế
Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi trong những năm 1945- 1954, phát triển cao độ
trong những năm 1955- 1973 khiến cho cả thế giới hết sức kinh ngạc và khâm phục.
Nhật Bản là một nước có nền kinh tế- công nghiệp- tài chính thương mại-
dịch vụ- khoa học kĩ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (đứng sau Hoa Kỳ). Cán
cân thương mại và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra
nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế
giới. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn
vị tiền tệ là: đồng Yên Nhật.
1.2. Sơ lược về du lịch Nhật Bản
1.2.1. Lịch sử ngành du lịch
Tại Nhật Bản, nguồn gốc của truyền thống tham quan du lịch các địa điểm
đẹp đầu tiên không rõ ràng, nhưng các chuyến tham quan ghi nhận sớm trong lịch sử
Nhật Bản là chuyến đi năm 1689 của Matsuo Basho đến nơi mà thời điểm đó là "cực
Bắc" của Nhật Bản, diễn ra không lâu sau khi Hayashi Razan phân loại “Nhật Bản
tam cảnh” vào năm 1643. Sau Minh Trị Duy Tân và sau khi xây dựng một mạng
lưới đường sắt quốc gia trên khắp Nhật Bản, du lịch đã trở nên phổ biến hơn với giá
cả phải chăng cho công dân trong nước và du khách từ nước ngoài có thể vào Nhật
Bản một cách hợp pháp. Đầu năm 1887, các quan chức chính phủ công nhận sự cần
thiết cho một hệ thống có tổ chức thu hút khách du lịch nước ngoài; các Kihinkai
(Quý Tân Hội) nhằm để phối hợp các đơn vị và tổ chức khác nhau trong ngành du
lịch, được thành lập năm đó. Các nhà lãnh đạo đầu của nó bao gồm Shibusawa
Eiichi và Ekida Takashi. Một mốc quan trọng trong sự phát triển của ngành công
nghiệp du lịch tại Nhật Bản đã được thông qua Luật Phát triển khách sạn năm 1907,

Xếp thứ 2 là du lịch hướng tới thiên nhiên (45,7%). Nhận thức về du lịch sinh thái
của người dân cũng cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây.
Nhu cầu du lịch sinh thái của nguời Nhật bắt nguồn từ ý thức bảo vệ môi trường rất
cao của người dân. Tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường, trong đó có
cả sản phẩm du lịch trở thành một phần trong giá trị sống. Người Nhật đã rất quen
với ý thức phân loại rác sinh hoạt (có khi tới 4-5 chủng loại khác nhau), hạn chế xả
rác và tự thu dọn rác của mình tại những nơi công cộng, những điểm du lịch. Họ
cũng sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm có “giá trị môi trường cao”, được
thiết kế và sản xuất theo hướng thân thiện với môi trường và nhận được các chứng
chỉ môi trường. Điều này giải thích vì sao nhiều chuỗi khách sạn, nhà hàng của Nhật
Bản tiên phong trong việc xây dựng vòng tròn khép kín từ thu thập rác thải hữu cơ,
sản xuất phân vi sinh sử dụng để sản xuất rau sạch và dùng rau sạch này trong khách
sạn.
Du lịch sinh thái của Nhật Bản thực sự trở thành một loại hình du lịch được quan
tâm phát triển từ đầu những năm 1990, khi Ủy ban Môi trường (nay là Bộ Môi
trường) Nhật Bản tiến hành nghiên cứu về các giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở
đảo Okinawa (đảo phía Nam Nhật Bản). Ủy ban Môi trường tham gia vào Liên minh
Di sản Thế giới năm 1992. Cũng từ năm đó, các nhóm kinh doanh và hoạt động về
du lịch sinh thái ở các địa phương bắt đầu tập hợp và họp bàn ở cấp toàn quốc. Năm
1994, Hiệp hội Bảo vệ Di sản Thiên nhiên Nhật Bản cho ra đời “Hướng dẫn về Du
lịch Sinh thái”. Sau sự ra đời của một số Hiệp hội du lịch sinh thái tại một số địa
phương là sự ra đời của Hội đồng Xúc tiến Du lịch Sinh thái Nhật Bản năm 1998.
Hội đồng này là cơ quan cao nhất của nhà nước đưa ra các chính sách phát triển du
lịch sinh thái tại Nhật Bản hướng tới việc bảo tồn và phát triển bền vững của các
nguồn tài nguyên tự nhiên, lịch sử, văn hóa của các vùng. Hội đồng bao gồm cả
những đại diện của những cơ quan quản lý nhà nước có liên quan (các bộ Môi
trường; Đất đai, Cơ sở Hạ tầng, Giao thông và Du lịch; Bộ Nông nghiệp, Lâm
nghiệp và Thủy sản …), các cơ quan quản lý nhà nước của địa phương, các hiệp hội
du lịch, đại diện cho các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch sinh thái.
Đứng đầu Hội đồng là Bộ truởng Bộ Môi trường Nhật Bản.

• Hình thành các “Hội đồng xúc tiến du lịch sinh thái địa phương” với
sự tham gia của chính quyền địa phương, hướng dẫn viên, công ty lữ
hành, các tổ chức phi lợi nhuận, giới nghiên cứu …
• Xây dựng các quy định cho khách du lịch về bảo vệ môi trường tự
nhiên
• Phát triển nguồn nhân lực hay xây dựng các chương trình phát triển du
lịch sinh thái tại các địa phương.
Bên cạnh các dự án phát triển du lịch sinh thái là một loạt các dự án nhằm sử dụng
hữu hiệu hơn các vườn quốc gia. Tại Nhật Bản có 28 vườn quốc gia, đón nhận
khoảng 370 triệu lượt khách một năm. Nhiều trong số này đang gặp phải những vấn
đề nghiêm trọng về môi trường, giao thông, rác thải do quá tải. Một loạt các dự án
của Nhà nước được đưa ra nhằm giải quyết các vấn đề này cũng như xây dựng nền
tảng cho phát triển bền vững tại các vườn quốc gia, ví dụ như quy định về số lượng
ô tô được ra vào 25 vườn quốc gia, tu tạo hệ thống đường mòn lên núi và bảo vệ
thảm thực vật hai bên đường, trang bị hệ thống nhà vệ sinh tại các vùng núi, phát
triển các hệ thống kiểm soát việc sử dụng các vườn quốc gia … Bộ Môi trường Nhật
Bản cũng phối hợp với các cơ quan và tổ chức du lịch trong nước và quốc tế xây
dựng và phổ biến các quy định và tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch bền vững tại
các khu bảo tồn như “Hướng dẫn về du lịch tại các vườn và khu bảo tồn tại khu vực
Đông Á”.
2.1.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch làng nghề ở Nhật Bản.
Là nước công nghiệp phát triển, nhưng Nhật Bản vẫn phát triển các làng nghề thủ
công một cách bền vững, đóng góp nhiều sản phẩm có giá trị văn hóa cao. Phát triển
du lịch làng nghề cũng là hướng đi Nhật Bản rất quan tâm, trong đó coi trọng việc
giữ gìn cảnh quan môi trường.
Phong trào “mỗi làng một sản phẩm” ở tỉnh Oita của Nhật Bản đã thực sự thu hút
được sự quan tâm, học hỏi và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có
Thái Lan, Trung Quốc, Cam puchia, Indonesia…
Ðể có được những sản phẩm có chất lượng cao lại có mẫu mã đẹp đòi hỏi bàn tay
khéo léo và sáng tạo của nghệ nhân. Sản phẩm thủ công chỉ có thể cạnh tranh được

Ẩm thực: Ẩm thực Nhật Bản không lạm dụng quá nhiều gia vị mà chú trọng làm nổi
bật hương vị tươi ngon, tinh khiết tự nhiên của món ăn. Hương vị món ăn Nhật
thường thanh tao, nhẹ nhàng và phù hợp với thiên nhiên từng mùa. Ẩm thực
Nhật nổi tiếng với shushi, tempura, rượu sake…
Văn hóa Nhật Bản còn được quảng bá rộng rãi vô cùng, nhắc đến du lịch Nhật là du
khách biết tới núi Phú Sĩ, văn hóa geisha, các tiệc trà đạo, vật sumo hay các suối
nước nóng (Onsen)…
Nhờ các chiến lược phù hợp trong phát triển du lịch trải nghiệm văn hóa Nhật, khai
thác tốt tiềm năng du lịch trong các giá trị văn hóa truyền thống, Nhật Bản đã rất
thành công trong loại hình du lịch văn hóa.
2.2. Kinh nghiệm phát triển cơ sở hạ tầng-vật chất phục vụ du lịch
2.2.1. Đường giao thông và phương tiện vận chuyển trong du lịch
Nhật Bản đã chú trọng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tạo điều kiện thu hút
ngày càng nhiều khách du lịch, tăng cường những dự án đầu tư giao thông
phục vụ cho các hoạt động du lịch.
• Đường hàng không: hiện nay Nhật Bản có số lượng lớn các sân bay hiện đại
phục vụ cho hoạt động di chuyển của du khách:
o 5 sân bay cấp một có thế phục vụ các chuyến bay giữa các châu lục.
o 24 sân bay cấp 2 có thể phục vụ cả các chuyến bay khu vực và quốc tế.
o 55 sân bay cấp 3 phục vụ các chuyến bay nội địa nhánh.
• Đường bộ: Các thành phố lớn ở Nhật đều được đầu tư hệ thống xe điện ngầm
rất thuận tiện, có thể đưa du khách đi tham quan quanh thành phố mà không
phải tốn nhiều tiền. Ngòai ra còn có tàu Shinkanshen - biểu tượng của nước
Nhật hiện đại. Tàu có thể chạy với tốc độ tối đa là 300km/h. Hãng tàu
shinkanshen nổi tiếng ở Nhật đó là Japan Rail Pass.
• Đường thủy: Nhật Bản đã thiết lập mạng lưới phà dày đặc, kết nối Kyushyu
với phía Nam của bờ biển Honsyu. Phà cũng nối liền các đảo lớn với các đảo
nhỏ, xuống tận cả đảo Okinawa ở gần Đài Loan.
2.2.2. Cơ sở lưu trú và vui chơi giải trí
Tại Nhật, chính phủ đã đầu tư xây dựng và cấp phép xây dựng hàng ngàn khách sạn

Bên cạnh đó, ở Nhật tỉ lệ trộm cắp khá thấp. Vì vậy du khách có thể mang
theo số lượng tiền mặt lớn để thuận tiện trong giao dịch mua bán, chi tiêu
mua sắm…
Tại các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay
Osaka, không nơi nào du khách phải lo gửi giỏ hay túi xách.
2.4.2. Coi trọng chiến lược, kế hoạch và các chính sách thúc đẩy phát triển du
lịch di sản văn hóa
Phác thảo khung pháp lý
Hệ thống quản lý về bảo tồn di sản văn hóa tại Nhật Bản được hình
thành từ những năm 1910 với việc ban hành luật Bảo tồn di tích lịch sử -
danh lam thắng cảnh tự nhiên, luật Bảo tồn nguồn tài nguyên quý hiếm quốc
gia năm 1929, luật Bảo vệ tài sản Văn hóa năm 1950.
Luật Bảo vệ tài sản văn hóa được sửa đổi năm 1975, hệ thống các khu
bảo tồn nằm trong các nhà truyền thống cũng được giới thiệu trong luật sửa
đổi. Hệ thống này bao gồm các địa danh lịch sử như: làng chài, làng nghề
truyền thống, cảng biển, đền chùa…. Hiện tại, hơn 100 địa danh đã được
công nhận là khu di tích cổ quan trọng của Nhật Bản, những nơi này đang trở
thành những điểm du lịch nổi tiếng. Vào những năm gần đây, trong bộ luật
quy hoạch thành phố lịch sử ban hành năm 2008, các vấn đề giữa phát triển
vùng và bảo tồn di sản văn hóa có thể được giải quyết song song trong cùng
một chính sách.
Về du lịch, bộ luật xây dựng đất nước du lịch đã được ban hành
năm 2006, cơ quan du lịch Nhật Bản được thành lập năm 2008.
  Từ bối cảnh trên, các biện pháp quản lý với di sản văn hóa được
thực hiện trước, các biện pháp đối với du lịch được thực hiện ngay sau đó.
2.4.3 Chính sách giá
Nếu biết bạn là khách nước ngoài đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng ở Nhật sẽ
tự động trừ thuế, giảm 5 - 10% mọi phí tổn.
Nếu bạn đi máy bay để sang các hòn đảo nhỏ thì nên kiểm tra xem mình có
thuộc diện được giảm giá hay không nhé. Ví dụ như hãng JAL thường giảm

• Ennichi : lễ hội chùa (ngày linh thiêng này có liên hệ đến Kami hay
Buddha)
Ngoải ra còn rất nhiều các lễ hội đặc biệt thu hút khách du lịch như: lế
hội hoa anh đào, lễ hội hoa hướng dương, lễ hội đom đóm, lễ hội khỏa
thân…
2.5.5. Vấn đề môi trường và vệ sinh trong du lịch
Khi nhắc tới một đất nước công nghiệp, tiêu thụ hàng tấn đồ điện tử mỗi năm, hoạt
động săn bắt cá voi hay những thảm họa hạt nhân, người ta thường nghĩ ngay đến
"đất nước mặt trời mọc". Ít ai hình dung tới một Nhật Bản xanh và thân thiện với
môi trường. Tuy nhiên, du khách sẽ dễ dàng nhận thấy không ở đâu có sáng kiến đột
phá về các giải pháp cho môi trường như Nhật Bản ngay từ khi đặt chân tới đất
nước
Chú trọng đảm bảo vấn đề môi trường hiện nay, trong lĩnh vực du lịch, chính
phủ Nhật Bản đã có những chính sách, biện pháp cụ thể, phù hợp để đảm bảo
phát triển du lịch song song với giữ gìn và bảo vệ môi trường thiên nhiên. Sự
ra đời của các công ty du lịch, các tour du lịch xanh hấp dẫn du khách là
minh chứng rõ nhất cho điều này. Hiện nay, du khách tới Nhật có thể dễ dàng
tìm được những khôn gian xanh yên bình, đầy sáng tạo trong lòng thủ đo
Tokyo hiện đại và sôi động như vườn Pasona (quận Marunouchi), công viên
Shinijuku Gyoen, làng Yoyogi…
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP RÚT RA TỪ KINH NGHIỆM
PHÁT TRIỂN CỦA NHẬT BẢN CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI VIỆT NAM
3.1. Xu hướng vận động của thị trường du lịch ở Việt Nam
Việt Nam có đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn, với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú.
Năm 2008, Việt Nam đã đón 4,218 triệu lượt khách quốc tế, con số này năm 2009 là
3,8 triệu lượt, giảm 11% so với năm trước. Năm 2012, số khách quốc tế đến Việt
Nam là 6,8 triệu lượt. Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2009 đạt từ 68.000
đến 70.000 tỷ đồng 160.000 tỷ đồng năm 2012. Du lịch đóng góp 5% vào GDP của
Việt Nam.

mạnh tay. Để khai thác tốt nguồn khách này, các đơn vị lữ hành cần xây dựng các
dòng sản phẩm tour cao cấp cùng với việc tăng cường các chương trình xúc tiến,
quảng bá.
Dự báo của trang tư vấn du lịch trực tuyến Cheapflights về xu hướng du lịch năm
2013 trên thế giới là tăng nhu cầu du lịch giảm giá và đây là quan tâm hàng đầu của
du khách. Ngành du lịch sẽ chứng kiến sự gia tăng nhu cầu đối với các chuyến đi
giảm giá như kỳ nghỉ trọn gói, dịch vụ trọn bộ và du lịch biển…
Cùng với việc đổi hướng khai thác thị trường, nhiều đơn vị lữ hành lớn trên cả nước
đã bắt tay với các đối tác nhằm giảm giá tour, tăng sức cạnh tranh. Ông Nguyễn
Minh Mẫn, đại diện Công ty Du lịch Vietravel cho hay, thời điểm khó khăn như
hiện nay cũng là lúc phân chia lại thị trường với ưu thế thuộc về công ty tiên phong
đổi mới và nắm bắt thời cơ. Đa dạng các sản phẩm, phối hợp với hàng không và hệ
thống nhà hàng, khách sạn để cung cấp mức giá tốt, hợp lý nhất dành cho du khách
là cách mà Vietravel vượt qua khó khăn.
Còn với Saigontourist, để bảo đảm tình hình kinh doanh trong năm 2013, đơn vị này
đã phối hợp với các đối tác cung ứng dịch vụ, vận chuyển, khách sạn… đẩy mạnh
các sản phẩm du lịch tiết kiệm. Ngoài ra, Saigontourist cũng sẽ liên kết khai thác
nguồn khách quốc tế đến Việt Nam theo đường hàng không, biển, sông và đường
bộ, mở thêm nhiều tour mới, cả du lịch tiết kiệm lẫn cao cấp…
Trong khi đó, Tổng cục Du lịch cũng đang tích cực hoàn thiện đề án chương trình
kích cầu du lịch năm 2013 với chính sách dành cho các doanh nghiệp tham gia như
miễn giảm thuế, giảm giá vé hàng không, đơn vị lưu trú, nhà hàng, chính sách tính
giá điện, nước ưu đãi… Đây là giải pháp để "tăng sức" cho ngành du lịch trước cơn
"bão khủng hoảng", đưa Việt Nam trở thành điểm đến lý tưởng cho du khách quốc.
3.2. Một số hạn chế và điểm yếu dễ nhận thấy ở hoạt động du lịch của Việt Nam
a) Về quản lý khai thác tài nguyên du lịch
- Mặc dù Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
phong phú và đa dạng nhưng cho tới nay chưa khai thác tương xứng với tiềm
năng đó, thể hiện hệ thống sản phẩm du lịch vẫn còn nghèo nàn, đơn điệu.
- Cho đến nay tài nguyên du lịch cả tự nhiên và nhân văn chưa được thống kê,

hạn chế, chưa thích ứng kịp với xu hướng hội nhập, cạnh tranh toàn cầu.
- Đánh giá mặt bằng chung chất lượng nhân lực du lịch vẫn chưa đáp ứng yêu
cầu đòi hỏi về tính chuyên nghiệp, kỹ năng quản lý, giao tiếp và chất lượng
phục vụ. Ngành du lịch thực sự thiếu đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp du lịch
kiểu mẫu của thời đại với yêu cầu cạnh tranh và hội nhập cao. Đội ngũ hướng
dẫn viên chuyên nghiệp với nhiều loại hình du lịch và ứng với các ngôn ngữ
thuộc thị trường mục tiêu vẫn chưa sẵn sàng đầy đủ.
d) Về phát triển sản phẩm và thị trường
- Sản phẩm du lịch chậm đổi mới; phần lớn các doanh nghiệp du lịch có quy
mô vừa và nhỏ, thiếu vồn, công nghệ nên khai thác những tài nguyên có sẵn
hoặc sao chép để hình thành sản phẩm du lịch. Vì vậy tính chất độc đáo, giá
trị nguyên bản và ý tưởng của sản phẩm du lịch rất nghèo nàn và trùng lắp
giữa các vùng miền. Quá trình phát triển sản phẩm chưa được nghiên cứu bài
bản vì vậy chất lượng và giá trị hàm chứa trong sản phẩm thấp. Sự nghèo
nàn, ít sáng tạo, thiếu tính độc đáo, đặc sắc; thiếu đồng bộ và thiếu liên kết là
thuộc tính phổ biến của sản phẩm du lịch hiện nay và là điểm yếu chính của
du lịch Việt Nam. Kết quả là sản phẩm, dịch vụ du lịch có hàm lượng giá trị
gia tăng thấp, sản phẩm trùng lắp, suy thoái nhanh.
- Sự hạn chế, yếu kém trong nghiên cứu thị trường du lịch cả ở tầm vĩ mô và ở
cấp doanh nghiệp. Việc nghiên cứu phân đoạn thị trường để xác định thị
trường mục tiêu chưa thực sự đi trước một bước và thường thụ động. Kết quả
nghiên cứu thị trường chưa được ứng dụng, theo đuổi triệt để, dẫn tới các
chính sách thị trường rất cảm tính, thiếu cơ sở và bị nhiễu loạn thông tin, biểu
hiện trong sự a rua, bày đàn trong đầu tư và cạnh tranh trên thị trường.
- Xúc tiến quảng bá du lịch chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả;
mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp
dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch. Một số địa danh du lịch
được quốc tế biết đến như Hạ Long, Sapa, Hà Nội, Huế, Hội An, Đà Lạt, Sài
Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng hình ảnh vẫn chưa đậm nét.
e) Về vốn và công nghệ

với yêu cầu phát triển.
g) Thách thức.
- Du lịch Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh mẽ của những bất ổn chính trị, xung
đột, khủng bố, dịch bệnh, thiên tai, khủng khoảng kinh tế, tài chính tại ở các
nước đối tác, các thị trường truyền thống. Khi là thành viên của WTO những
tác động tiêu cực này sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn, khó lường hơn trong khi năng
lực thích ứng và ứng phó với những biến động trên thị trường của Việt Nam
còn hạn chế. Tranh chấp, bất đồng khu vực, đặc biệt vấn đề gắn với biển
đông có tác động mạnh, trực tiếp và đột ngột đến hoạt động du lịch của Việt
Nam. Đây là thách thức bao trùm trong quá trình hội nhập du lịch toàn cầu,
ứng phó với khủng khoảng kinh tế, bất ổn an ninh, chính trị trên bình diện
quốc tế.
- Sức ép cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, đặc biệt đối với Du lịch Việt
Nam là ngành còn non trẻ và còn nhiều điểm yếu. Cạnh tranh giữa các điểm
đến trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philiphines,
Cămphuchia đang trở lên quyết liệt hơn với quy mô và tính chất mới do có
yếu tố công nghệ mới và toàn cầu hóa. Sự cạnh tranh này cả về dòng vốn đầu
tư và thu hút khách, cả về chất lượng và hiệu quả kinh doanh và xây dựng
hình ảnh, thương hiệu quốc gia. Những yếu tố cạnh tranh quốc tế đòi hỏi Việt
Nam phải đầu tư nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm du lịch với lợi thế
quốc gia và sự độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam nếu không sẽ thua thiệt
trong cạnh tranh toàn cầu.
- Biến đổi khí hậu đang có tác động mạnh mẽ hơn so với dự báo. Du lịch Việt
Nam với thế mạnh tập trung vào biển đảo sẽ đứng trước thách thức vô cùng
lớn và khó lường trước ảnh hưởng của triều cường, mực nước biển dâng ở
các vùng duyên hải, vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long. Những dị
thường của khí hậu tác động trực tiếp gây khó khăn, trở ngại tới hoạt động du
lịch. Trên bình diện thế giới, Việt Nam được xác định là 1 trong các quốc gia
chịu tác động mạnh nhất của biến đổi khí hậu bởi mực nước biển dâng. Ngoài
ra ô nhiễm môi trường cục bộ đang trở thành mối đe dọa đối với điểm đến du

tâm bảo trì đúng mức, do đó cảnh quan đang bị xuống cấp hay phá hủy, điển hình là
trường hợp các di tích quốc gia như Thác Voi, Thác Liên Khương.
Lãnh đạo ngành du lịch hứa hẹn, năm 2010, ngành sẽ đột phá cải thiện nhà vệ sinh,
sẽ phát động chiến dịch ở đâu có du lịch ở đó có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn, tuy
nhiên đã không đạt được.
Năm 2012, lần nữa, những tin tức tiêu cực và kinh nghiệm xấu về du lịch Việt Nam
được đăng tải trên nhiều báo chí, phản ánh 'Nạn lừa đảo du khách rất đáng báo
động', chất lượng dịch vụ kém và "du khách đua nhau tố các chiêu 'chặt chém' ",
chưa có đấu hiệu thay đổi. Thêm nữa, nạn ô nhiễm môi trường lại tăng lên, theo kết
quả của báo cáo thường niên năm 2012 mang tênThe Environmental Performance
Index (EPI) của hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và
Columbia của Mỹ thực hiện, về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam
đứng thứ 123 trong bảng xếp hạng 132 quốc gia khảo sát, được xem là có không khí
bẩn thứ 10 thế giới.)

2. Một số kiến nghị giải pháp để đẩy mạnh hoạt động du lịch ở Việt Nam từ việc
nghiên cứu kinh nghiệm Nhật Bản.
2.1 Giải pháp cho Việt Nam trong phát triển du lịch bền vững và phát huy giá trị di
sản văn hóa.
Dựa trên những phân tích từ kinh nghiệm của Nhật Bản,có thể đưa ra một số giải
pháp cho Việt Nam trong phát triển du lịch bền vững và phát huy giá trị di sản văn
hóa.
(1) Hoạt động bảo tồn nên được quản lý tốt hơn để tiếp đón du khách
Một trong những điều kiện quan trọng có tính chất quyết định trong việc phát
triển du lịch bền vững là việc sử dụng các di sản văn hóa. Mô hình các điểm du lịch
di sản văn hóa thành công bao gồm:
i. Quản lý và bảo tồn hệ thống di sản văn hóa,
ii. Duy trì chất lượng của di sản văn hóa để thu hút du lịch,
iii. Nhận thức của cộng đồng địa phương và chính quyền về tầm quan trọng của bảo
tồn với phát triển bền vững.

đây đã tăng lên. Số lượng các hộ gia đình hoạt động dịch vụ du lịch như nhà hàng,
làm kẹo truyền thống, bán hàng lưu niệm cũng ngày càng tăng. JICA gần đây đã tạo
ra một bản đồ du lịch của làng với sự phối hợp của người dân địa phương và Ban
quản lý di tích để giới thiệu không chỉ điểm di tích mà còn giới thiệu các dịch vụ du
lịch của người dân địa phương bao gồm: trải nghiệm về sản xuất hàng hóa ở địa
phương, du lịch nghỉ tại nhà dân, trải nghiệm nông trại và trải nghiệm về quán ăn
làng quê.
Ý tưởng của bản đồ du lịch là để tạo ra sự tương tác giữa khách du lịch và cộng
đồng địa phương nhằm tạo ra một mối quan hệ tốt giữa hai bên. Thực tế là trong
trường hợp của Đường Lâm, những kinh nghiệm của Nhật Bản sẽ là hữu ích trong
bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề truyền thống, sử dụng một số ý tưởng sau:
Các ý tưởng chủ đạo:
• Hoạt động bảo tồn nên được quản lý tốt, sau đó đến đón tiếp du khách
• Giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa Khách (Du khách) và Chủ ( Cộng đồng)
• Làm cho ngôi làng trở thành một địa điểm hấp dẫn du khách đến sinh sống
hoặc thăm quan
Sắp tới, lượng du khách đến làng sẽ tăng lên nhanh chóng do vị trí gần trung tâm
Hà Nội và sự hấp dẫn của các yếu tố thôn quê và truyền thống mà nó có. Các ý
tưởng cơ bản trên sẽ giúp cho sự phát triển bền vững của làng.
2.2 Giải pháp cho du lịch sinh thái tại Việt Nam.
Với nhiều tiềm năng về tự nhiên, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển du lịch
sinh thái. Tuy vậy, sản phẩm du lịch sinh thái Việt Nam chưa thực sự tạo ra một
điểm nhấn trong khác du lịch mà thay vào đó là sự đa dạng văn hóa, dân tộc hay
thực phẩm. Phát triển du lịch sinh thái gắn với những hình ảnh và sản phẩm du lịch
đã sẵn có có thể là một phương thức phát triển thị trường khách du lịch sinh thái tới
Việt Nam.
Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái tại Nhật Bản cho thấy tầm quan trọng của
một định hướng và kế hoạch phát triển du lịch sinh thái rõ ràng. Định hướng phát
triển du lịch sinh thái vừa có thể được xem là bước đi tiên phong trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường, vừa là cơ sở phát triển một loại hình kinh doanh của một quốc gia.

Nam chỉ còn là bài toán thời gian và quyết tâm của người thực hiện.
KẾT LUẬN
Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã thu được những thành tựu quan
trọng. Số lượng khách du lịch quốc tế và trong nước đều tăng cao, doanh thu về du
lịch, thu nhập xã hội mà du lịch mang lại tăng, vấn đề quy hoạch dần được nhà
nước, chính quyền địa phương chú trọng, cùng với đó là hoạt động quảng bá hình
ảnh du lịch Việt Nam ra thế giới được thúc đẩy hơn, cơ sở vật chất ngày một cải
thiện. Nhìn chung, hoạt động du lịch ngày một hoàn thiện và có định hướng rõ ràng.
Tuy nhiên, du lịch Việt Nam vẫn còn tồn tại một số mặt yếu kém. Thông qua bài
tiểu luận: “Kinh nghiệm phát triển du lịch của Nhật Bản”, nhóm em mong muốn làm
rõ được những bài học về công tác quản lí, cơ chế vận hành của ngành du lịch Nhật
Bản. Qua đó, sẽ học hỏi được nhiều cách thức, chiến lược phát triển, chiến lược
quảng cáo du lịch để áp dụng cho thực tiễn du lịch Việt Nam. Đặc biệt, trong lĩnh
vực du lịch làng nghề, bảo tồn các khu di tích lịch sử, nâng cao phong cách ứng xử,
thái độ phục vụ của nhân viên trong du lịch và tạo dựng văn hóa du lịch thân thiện,
hiếu khách. Chúng em cũng mong muốn với những giải pháp mình đưa ra sẽ góp
phần thiết thực cải thiện và nâng cao diện mạo du lịch Việt Nam.
Bài tiểu luận: kinh nghiệm phát triển du lịch của Nhật Bản chắc chắn không tránh
khỏi những thiếu sót. Mong giảng viên và các bạn đóng góp ý kiến để bài tiểu luận
được hoàn thiện hơn. Chúng em xin trân trọng cảm ơn!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế Du lịch- GS. TS. Nguyễn Văn Đính và PGS. TS.
Trần Thị Minh Hòa (NXB ĐHKTQD, Hà Nội 2009)
2. Giáo trình Kinh tế Du lịch- TS. Vũ Đức Minh ( NXB Thống kê, Hà
Nội 2009)
3. Luật Du lịch, NXB Chính trị Quốc gia, 2005
4. www.baodulich.com
5. />6. />7. />8.
9.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status