MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4: Báo cáo kết quả kinh doanh từ 2004 đến 2006 31
Danh Mục Sơ Đồ Bảng Biểu
Sơ đồ 1 : Mô hình tiêu thụ sản phẩm………………………………………………
Bảng 1 : Sản phẩm sản xuất chủ yếu qua các năm…………………………………
Bảng 2 : Số lượng các cửa hang của TCT qua một số năm…………
Bảng 3 : Kim ngạch xuất khẩu qua một số năm……………………………………
Bảng 4 : Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2004 đến năm 2006…………………
Bảng 5 : Các kết quả đạt được của năm 2008, so với 2007 và
1
kế hoạch tháng 1/2009……………………………………………………………
Bảng 6 : TÌnh hình tiêu thụ sản phẩm may mặc trên thị trường XK……………….
Bảng 7 : Giá trị tiêu thụ sản phẩm may mặc ở thị trường trong nước
Bảng 8 : Doanh thu tiêu thụ theo cơ cấu sản phẩm…………………………………
Bảng 9 : Daonh thu tiêu thụ theo cơ cấu thị trường…………………………………
Biểu đồ doanh thu tiêu thụ mặt hang qua các năm…………………………………
2
Giới Thiệu
1.Sự cần thiết của đề tài.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn
của các quốc gia. Để đạt được sự tăng trưởng và phát triển đòi hỏi các quốc gia phải luôn
nỗ lực phấn đấu không ngừng, đặc biệt là các doanh nghiệp trong nền kinh tế của quốc gia
đó. Việc quyết định ba vấn đề cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế
nào? càng trở lên quan trọng. Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất
kinh doanh nhưng nó lại là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho các doanh nghiệp tồn tại, phát
triển. Tiêu thụ giúp quá trình tái sản xuất diễn ra, giúp doanh nghiệp không ngừng nâng
Chuyên đề thực tập mà em thực hiện nhằm tập trung trả lời các câu hỏi sau đối với DN:
1.Các khó khăn mà Hanosimex gặp phải trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm may mặc
trên thị trường nội địa là gì?
2. Tại sao Hanosimex lại tập trung thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm may mặc trên thị trường nội
địa ở thời điểm hiện tại?
3. Những giải pháp thúc đẩy tiêu thụ mà Hanosimex đã áp dụng ? Những biện pháp trong
thời gian tới ?
4. Số liệu và phương pháp phân tích.
Số liệu thu thập được là số liệu thứ cấp, được cập nhật từ Website của DN, và từ Dệt
May VN,các kết quả, báo cáo từ phòng Kinh doanh, Phòng kế toán,… của Hanosimex.
Sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả để phân tích các số liệu thu thập được.
5. Kết cấu đề tài.
Chương I: Lý Luận Chung Về Tiêu Thụ Sản Phẩm Của Hanosimex Trên Thị
Trường Nội Địa.
Chương II: Thực Trạng Tiêu Thụ Sản Phẩm May Mặc Của Hanosimex Trên Thị
Trường Nội Địa.
Chương III: Một Số Biện Pháp Thúc Đẩy Tiêu THụ Sản Phẩm May Mặc Của
Hanosimex Ở Thị Trường Trong Nước.
2
Chương 1: Lý Luận Chung Về Tiêu Thụ Sản Phẩm May Mặc
Của Hanosimex Trên Thị Trường Nội Địa
I.Những Vấn Đề Cơ Bản Về Tiêu Thụ Sản Phẩm Của Doanh Nghiệp.
1. Khái Niệm Về Tiêu Thụ Sản Phẩm.
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá, là quá trình
chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ hàng sang tiền, và sản phẩm được coi là tiêu
Tiêu thụ là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng, là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu góp phần
bảo đảm cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, cân đối giữa cung và cầu, bình ổn giá cả và
đời sống nhân dân. Tiêu thụ giúp cho người tiêu dùng có được giá trị sử dụng mà mình
mong muốn và người sản xuất đạt được mục đích của mình trong kinh doanh. Tạo thêm
công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Qua tiêu thụ, hàng hoá được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị và đồng
thời vòng chu chuyển Vốn kinh doanh của DN được hoàn thành. Tiêu thụ giúp cho quá
trình tái sản xuất được diến ra liên tục và có điều kiện phát triển. Sản phẩm làm ra được
tiêu thụ thì tính chất hữu ích của sản phẩm mới được xác định, khi đó giá trị và giá trị sử
dụng mới được thực hiện, lao động của người sản xuất hàng hoá nói riêng và của toàn bộ
xã hội nói chung mới được thừa nhận.
b. Đối với Doanh nghiệp.
- Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Doanh
nghiệp được thực hiện theo kế hoạch giao nộp sản phẩm với giá cả và địa chỉ do Nhà nước
quy định. Còn trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định 3vấn
đề cơ bản: Sản xuất cái gì? Cho ai? Bằng cách nào? Do vậy tiêu thụ trở thành vấn đề sống
còn của Doanh nghiệp.
- Tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh và
lợi nhuận của Doanh nghiệp, đồng thời nó cũng chi phối và quyết định đến các hoạt động
nghiệp vụ khác của Doanh nghiệp như: Nghiên cứu thị trường, tạo nguồn hàng, dịch vụ, dữ
trữ,… quyết định sự mở rộng hoặc thu hẹp sản xuất của Doanh nghiệp và là cơ sở để xác
định vị thế của Doanh nghịêp trên thị trường.
- Tiêu thụ sản phẩm là khâu cơ bản, trực tiếp thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá,
đóng vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp. Khi sản
phẩm của Doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận
(thị trường chấp nhận). Sức tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy
tín của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu tiêu dùng và sự hoàn
thiện của các hoạt động dịch vụ. Nói cách khác, tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ những
điểm mạnh và điểm yếu của Doanh nghiệp.
-Tiêu thụ sản phẩm là tiền đề giúp Doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh
tổ chức thực
hiện các KH
Quản lý lực
lượng bán
Tổ chức
bán hàng
và cung cấp
DV
Quản lý dự
trữ và hoàn
thiện SP
Hàng
hoá
dịch
vụ
Thôn
g tin
TT
5
3.1. Nghiên cứu thị trường.
Đối với tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, thị trường đóng một vai trò rất quan
trọng, quyết định tới sự thành công hay thất bại trong kinh doanh. Vậy nghiên cứu thị
trường là gì? Thực chất nghiên cứu thị trường là quá trình tìm hiểu, thu thập, xử lý thông
tin, là việc phân tích về mặt lượng và chất của cung và cầu của một sản phẩm hay dịch vụ.
Nghiên cứu thị trường nhằm trả lời các câu hỏi: Sản xuất những sản phẩm gì? sản xuất như
thế nào? sản phẩm bán cho ai? Vì vậy, nghiên cứu thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên
đối với các Doanh nghịêp bắt đầu kinh doanh, đang kinh doanh hay muốn mở rộng và phát
triển kinh doanh.
Mục đích của nghiên cứu thị trường là nghiên cứu xác định khả năng tiêu thụ những loại
không phải dựa trên cái mà Doanh nghiệp sẵn có.
3.2. Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm.
Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là việc xây dựng, đề ra các kế hoạch nhằm triển khai các
hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Các kế hoạch này được lập và xây dựng dựa trên kết quả của
công tác nghiên cứu thị trường. Lập kế hoạch tiêu thụ, là cơ sở giúp cho quá trình sản xuất
kinh doanh cảu Doanh nghiệp diễn ra nhịp nhàng và liên tục. Đồng thời đây cũng là căn
cứ để xây dựng kế hoạch hậu cần vật tư và các bộ phận khác của kế hoạch sản xuất- kỹ
thuật – tài chính doanh nghiệp…
Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm phải đề cập được tới các vấn đề : khu vực thị trường, tập hợp
khách hàng, sản phẩm, giá cả, doanh số, phân phối, giao nhận, dịch vụ khách hàng, ngân
quỹ cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm, các yêu cầu về nhân lực, tài lực, vật lực, cho việc
tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Trong xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, Doanh nghiệp có
thể sử dụng các phương pháp như : phương pháp cân đối, phương pháp quan hệ động,
phương pháp tỷ lệ cố định,… Trong đó phương pháp cân đối là phương pháp được sử
dụng chủ yếu.
3.3. Chuẩn bị hàng hoá xuất bán.
Đây là nghiệp vụ tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh trong khâu lưu thông. Để cho quá
trình lưu thông hàng hoá được liên tục, không bị gián đoạn thì các Doanh nghiệp phải chú
trọng đến các nghiệp vụ sản xuất ở Kho như: tiếp nhận, phân loại, lên nhãn hiệu cho sản
phẩm, bao gói, sắp xếp hàng hoá ở kho- bảo quản và ghép đồng bộ để xuất bán cho khách
hàng. Tiếp nhận đầy đủ về số lượng và chất lượng hàng hoá từ các nguồn nhập Kho theo
đúng mặt hàng, quy cách, chủng loại hàng hoá. Kho hàng hoá của Doanh nghiệp thường
được đặt ở gần nơi sản xuất của Doanh nghiệp. Nếu Kho đặt ở xa nơi sản xuất thì Doanh
nghiệp phải tổ chức tốt việc giao nhận hàng hoá, đảm bảo kịp thời, nhanh chóng, đặc biệt
phải chú ý đến phương tiện vận tải, bốc xếp, thực hiện tiết kiệm chi phí khâu lưu thông.
3.4. Lựa chọn các hình thức tiêu thụ sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng nhiều hình thức,
hay nhiều kênh khác nhau, theo đó sản phẩm vận động từ các Doanh nghiệp sản xuất đến
tận tay người tiêu dùng cuối cùng.
Kênh tiêu thụ có thể được phân loại theo số cấp của kênh. Ví dụ: Kênh cấp không,
thông qua các phương tiện truyền tin tới đối tượng người nhận tin là các khách hàng tương
lai. Những thông tin về sản phẩm trong quảng cáo phải nhằm mục đích bán được hàng có
nghĩa là trước hết phải nhằm khuyến khích việc mua hàng của khách hàng tiềm năng để
dẫn họ đến quyết định mua. Có rất nhiều phương tiện quảng cáo khác nhau như: quảng
cáo bằng pano, ap phich, qua báo chí, phát thanh, truyền hình,…
Hoạt động xúc tiến bán hàng là toàn bộ các hoạt động nhằm tìm kiếm và thúc đẩy cơ
hội bán hàng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Xúc tiến bán hàng có tác động trực tiếp
tới việc tăng doanh số bằng những lợi ích vật chất bổ sung cho người mua. Những kỹ thuật
xúc tiến thường được sử dụng trong kinh doanh như: Chào hàng, khuyến mại, khuyến
khích mua thử, được dùng thử, giảm giá,…
8
Như vậy, quảng cáo và xúc tiến bán hàng là hoạt động có ý nghĩa quan trọng vì nó tác
động vào tâm lý khách hàng tạo sự thu thút chú ý của khách hàng tới sản phẩm. Nó giúp
Doanh nghiệp xây dựng được hình ảnh của mình trong tâm trí người tiêu dùng cũng như
hình ảnh của mình trên thị trường. Nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh thị
trường và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trên thương trường nhờ đó quá trình tiêu
thụ sản phẩm của Doanh nghiệp được đẩy mạnh cả về số lượng và thời gian. Không
những thế, hoạt động quảng cáo và xúc tiến bán còn giúp cho Doanh nghiệp có điều kiện
mở rộng quan hệ với khách hàng, giúp cho cung và cầu gặp nhau góp phần thay đổi cơ cấu
tiêu dùng, hướng dẫn thị hiếu khách hàng.
3.6. Tổ chức hoạt động bán hàng.
Bán hàng là một trong những khâu cuối cùng của hoạt động kinh doanh. Đó là một quá
trình trong đó người bán phải tìm hiểu nhu cầu, kỳ vọng và đáp ứng mong muốn của
người mua nhằm đem lại quyền lợi lâu dài cho cả hai bên mua và bán.
Khách hàng chính là người nuôi sống doanh nghiệp, chính vì vậy mà Bán hàng là một
nghiệp vụ rất quan trọng trong quá trình tiêu thụ. Việc nắm bắt được nhu cầu của khách là
một quá trình. Thông thường, diễn biễn tâm lý của khách thường trải qua 4giai đoạn: Sự
chú ý – quan tâm hứng thú nguyện vọng mua quyết định mua. Vì vậy sự tác động của
người bán tới người mua cũng phải theo trình tự quy luật đó. Người bán hàng phải luôn
Qi: Khối lượng sản phẩm, hàng hoá i được tiêu thụ trong kỳ
Pi: Đơn giá sản phẩm, hàng hoá i được tiêu thụ trong kỳ
- Lợi nhuận tiêu thụ.
P = ∑DT – ∑CP
Trong đó:
P: Tổng lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ
∑DT: Tổng doanh thu tiêu thụ trong kỳ
∑CP: Tổng chi phí tiêu thụ trong kỳ
- Mức lợi nhuận trên doanh số bán, chi phí, vốn kinh doanh:
P1 = (P / DS) * 100%
P2 = (P / CP) * 100%
P3 = (P / VKD) * 100%
Trong đó:
P1: Mức lợi nhuận trên doanh số bán trong kỳ
P2: Mức lợi nhuận trên chi phí trong kỳ
P3: Mức lợi nhuận trên vốn kinh doanh trong kỳ
DS: Doanh số bán thực hiện trong kỳ
CP: Chi phí kinh doanh trong kỳ.
Ngoài ra, còn 1số chỉ tiêu để đánh giá kết quả tiêu thụ của Doanh nghiệp đó là:
- Khách hàng tiêu thụ chủ yếu: 20 – 80 là tỷ lệ vàng về khách hàng mà các Doanh nghiệp
mong muốn. Đó là số lượng khách hàng chủ yếu chiếm 20% trong tổng số khách hàng
nhưng tiêu dùng khối lượng sản phẩm lớn 80% lượng hàng. Giữ chân và phát triển các
khách hàng lớn là nhiệm vụ thường xuyên và liên tục có ảnh hưởng lớn tới kết quả tiêu thụ
của Doanh nghiệp.
- Khối lượng và danh mục sản phẩm: Chỉ tiêu này cho thấy cầu thị trường hướng vào
Doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp và khách quan về hoạt động tiêu thụ sản
10
phẩm. Chỉ tiêu này tăng cho thấy khả năng đáp ứng sản phẩm theo nhu cầu thị trường của
Doanh nghiệp là khá tốt. Chỉ tiêu này còn cho thấy xu hướng vận động của các sản phẩm
* Yếu tố chính trị, luật pháp. Đây là yếu tố tạo ra khuôn khổ pháp lý của môi trường kinh
doanh để Doanh nghiệp hoạt động. Môi trường kinh doanh có ổn định lành mạnh thì các
thành phần kinh tế mới thiết lập được quan hệ bình đẳng, có sự cạnh tranh công bằng.
Chính những khuôn khổ pháp lý buộc các Doanh nghịêp phải nâng cao trách nhiệm của
11
mình với người tiêu dùng và với các bạn hàng. Các chỉ tiêu thuộc yếu tố chính trị, luật
pháp có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp như: sự ổn định
về chính trị và đường lối ngoại giao, sự hoàn thiện của hệ thống luật pháp và hiệu lực thi
hành chúng trong nền kinh tế, sự cân bằng trong các chính sách của chính phủ,…Muốn
thành công trong kinh doanh các Doanh nghiệp phải nắm bắt, nghiên cứu dự báo được
những thay đổi hay biến động trong tình hình chính trị, luật pháp nước nhà.
* Yếu tố kỹ thuật công nghệ. Đây là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp tới kết
quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Trong thời buổi khoa học công nghệ phát
triển từng ngày từng giờ mỗi công nghệ mới phát sinh sẽ thay thế các công nghệ ra đời
trước đó không nhiều thì ít. Kỹ thuật công nghệ phát triển cho phép các Doanh nghiệp đẩy
mạnh năng suất, cải tiến sản phẩm và luôn cho phép ra đời những sản phẩm phù hợp nhất
với nhu cầu thị trường. Nó làm thay đổi cả phương thức kinh doanh của Doanh nghiệp, ảnh
hưởng tới khả năng cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp trên thị trường.
Những Doanh nghiệp sở hữu nền công nghệ cao luôn tạo được vị thế và chỗ đứng cho
mình trên thị trường.
* Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng. Các yếu tố tự nhiên và cơ sở hạn tầng liên quan
đến chi phí sản xuất kinh doanh và các thức sử dụng các nguồn lực tự nhiên trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Các điều kiện tự nhiên như: Khí hậu, thời
tiết, mức độ ô nhiễm môi trường, …Các yếu tố cơ sở hạ tầng bao gồm giao thông, bến bãi,
hệ thống thông tin liên lạc,… Tất cả đều có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh và tiêu thụ
của Doanh nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi cộng với cơ sở hạ tầng hiện đại sẽ giúp
Doanh nghiệp tiết kiệm chi phí kinh doanh bỏ ra. Ngược lại sẽ làm cho Doanh nghiệp phải
gia tăng chi phí để bảo vệ môi trường, khắc phục những thiếu hụt của cơ sở hạ tầng sẽ làm
giảm lợi nhuận của Doanh nghiệp.
là những người kinh doanh, cũng theo đuổi mục tiêu lợi nhuận. Doanh nghiệp phải tạo
dựng được mối quan hệ với nhiều nhà cung ứng để đáp ứng đầu vào cho Doanh nghiệp
một cách tốt nhất.
* Đối thủ cạnh tranh: Được hiểu là những người cung ứng các mặt hàng tương tự hoặc có
thể thay thế sản phẩm của Doanh nghiệp trên thị trường. Đối thủ cạnh tranh là nhân tố quan
trọng mà Doanh nghiệp cần phải tìm hiểu khi ra nhập thị trường. Thương trường cạnh
tranh khốc liệt, muốn tiêu thụ được sản phẩm Doanh nghiệp không chỉ sản xuất ra cái mà
thị trường cần mà còn phải nghiên cứu xem đối thủ cạnh tranh của mình là ai? Họ mạnh
hay yếu hơn chúng ta? …Để từ đó có các chiến lược tiêu thụ sản phẩm phù hợp. Nếu đối
thủ cạnh tranh mạnh hơn sẽ tạo ra nguy cơ thu hẹp thị trường, mất lợi nhuận cho Doanh
nghiệp. Ngược lại nếu đối thủ cạnh tranh yếu hơn, Doanh nghiệp sẽ có cơ hội mở rộng thị
trường, nâng cao thương hiệu và uy tín trước người tiêu dùng.
Có hai loại đối thủ cạnh tranh chính mà Doanh nghiệp cần quan tâm đó là :
-Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Đây là đối thủ trực tiếp cạnh tranh với Doanh nghiệp, họ
cũng đã xây dựng và có uy tín với người tiêu dùng.
-Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Đây là những Doanh nghiệp chuẩn bị ra nhập thị trường.
* Các trung gian thương mại: Bao gồm các cá nhân, tổ chức giúp Doanh nghiệp trong
khâu lưu thông, phân phối hàng hoá tới tay người tiêu dùng. Đó là những người tham gia
vào vào môi giới, vận chuyển, tuyên truyền, tạo dựng thương hiệu cho Doanh nghiệp, dịch
vụ,… và làm đại lý bán hàng cho Doanh nghiệp. Những hoạt động này của trung gian
13
thương mại dựa trên nguyên tắc “đôi bên cùng có lợi”, họ giúp Doanh nghiệp mở rộng thị
trường, phát triển kênh bán hàng, phân phối lưu chuyển hàng hoá tới người tiêu dùng một
cách hiệu quả nhất, qua đó nhận hoa hồng hay tiền công theo hợp đồng. Ngày nay với sự
phát triển của nền kinh tế, các trung gian thương mại ngày càng khẳng định được vai trò
vủa mình. Sự chuyên nghiệp được thể hiện rất rõ qua những khâu trong quá trình lưu
thông, phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Một Doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn, ách tắc
trong các khâu lưu chuyển hàng hoá nếu không có các trung gian thương mại.
5.2 Nhân tố bên trong Doanh nghiệp.
làm. Sẽ không có hiệu quả nếu thiếu bàn tay con người trong mọi lĩnh vực nhất là kinh
doanh. Vì vậy mà phát triển nguồn nhân lực là một việc làm cần thiế không thể thiếu đối
với Doanh nghiệp.
5.2.4. Cơ chế quản lý.
Mỗi một Doanh nghiệp thì đều có những cơ chế quản lý khác nhau. Nó thể hiện năng lực
quản lý và điều hành của người lãnh đạo. Cơ chế quản lý tốt, nhân viên lao động trong
Doanh nghiệp sẽ làm việc hết sức mình. Hoạt động giữa các khâu sẽ được phối hợp một
cách nhịp nhàng và chặt chẽ, hàng hoá hay sản phẩm đưa ra thị trường sẽ kịp thời và đúng
lúc. Có được một cơ chế quản lý phù hợp là một bài toán khó đối với các Doanh nghiệp
hiện nay. Một số cơ chế quản lý có thể kể đến trong Doanh nghiệp như : Cơ chế quản lý
chất lượng sản phẩm, quản lý nguồn cung ứng,…
5.2.5. Các nhân tố khác.
Ngoài những nhân tố nêu trên còn có một số nhân tố thuộc về bản thân Doanh nghiệp mà
ảnh hưởng tới kết quả tiêu thụ sản phẩm như: Nền nếp văn hoá của Doanh nghiệp, hệ
thống công nghệ thông tin của Doanh nghiệp,…
II. Khái Quát Chung Về Thị Trường May Mặc Việt Nam
1. Đặc điểm về thị trường May mặc nói chung.
- Có thể nói sản phẩm May mặc là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu, không một người tiêu
dùng nào là không cần đến nó. Điều này làm cho thị trường các sản phẩm may mặc luôn
sôi động với các hoạt động mua và bán. Cầu về sản phẩm may mặc cũng ít biến đổi, tuy
nhiên mẫu mã và kiểu dáng sản phẩm thì thường xuyên thay đổi, nó phụ thuộc vào xu
hướng thời trang cũng như điều kiện thời tiết của các khu vực.
- Trong nền kinh tế thị trường các ngành công nghiệp đều có liên quan chặt chẽ tới
nhau, ngành công nghiệp Dệt may nói chung và sản phẩm may mặc nói riêng cũng vậy, sự
phát triển của nó kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ khác như
vận tải, Marketing,…Trong Thương mại sản phẩm dệt may nói chung và sản phẩm may
mặc nói riêng là một trong những hàng hoá đầu tiên tham gia vào mậu dịch quốc tế và là
một trong những yếu tố quan trọng cần thiết để tăng cường tính cạnh tranh và đảm bảo
giao thương của sản phẩm trên thị trường. Chính vì vậy mà Tổ chức thương mại thế giới
luôn có chế độ bảo hộ mậu dịch có những chính sách đối với hoạt động xuất khẩu hàng
định có lúc dư thừa, có lúc lại khan hiếm nên bài toán về nhân công đối với nhiều Doanh
nghiệp là một bài toán khó.
- Trước kia quan điểm của người Việt ta là “ăn chắc mặc bền”, tiến tới là “ăn no mặc
ấm” sản phẩm làm ra chỉ cần đáp ứng tốt nhu cầu về chất lượng, còn về mẫu mã kiểu dáng
không được người tiêu dùng xem trọng. Nhưng ngày nay, khi chuyển đổi cơ cấu sang nền
kinh tế thị trường, kinh tế phát triển đời sống của người dân được cải thiện, thu nhập được
nâng cao thì nhu cầu ăn mặc cũng thay đổi chuyển sang xu hướng “ăn ngon mặc đẹp”. Sản
phẩm không chỉ đáp ứng yêu cầu về chất lượng mà về mẫu mã kiểu dáng cũng phải đáp
ứng được thì sản phẩm làm ra mới tiêu thụ được.
- Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nên nguồn nguyên liệu cho công nghiệp may mặc
cũng trở lên dồi dào, phần lớn các Doanh nghiệp Việt Nam có đầu vào là ở trong nước,
cộng với giá nhân công thấp hơn các quốc gia khác nên các sản phẩm may mặc ở ta có giá
bình quân là thấp.
16
- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự phân hoá giai cấp của người tiêu dùng cũng
khá rõ nét. Điều này làm cho nhu cầu về may mặc cũng có nhiều phân khúc thị trường để
phục vụ người tiêu dùng từ cấp thấp đến cấp cao. Đây cũng là một đặc trưng của ngành
công nghiệp may mặc.
* Những thuận lợi khi ra nhập WTO đối với ngành may mặc Việt Nam.
Vào ngày 17/11/2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức Thương
mại thế giới WTO. Là thành viên chính thức Việt Nam sẽ được hưởng những lợi ích từ
môi trường đầu tư. Đó là sự đầu tư về tài chính, công nghệ từ các Doanh nghiệp Nước
ngoài. Qua đó các Doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ học hỏi được kinh nghiệm quản lý,
điều hành từ các Doanh nghiệp đó.
Không còn bị hạn chế bởi Quota các Doanh nghiệp xuất khẩu Dệt may nói chung và sản
phẩm may mặc nói riêng sẽ có cơ hội xuất hàng ra tất cả các nước trên thế giới. Và các
Doanh nghiệp sẽ được hưởng môi trường thương mại tự do theo đúng nghĩa của nó về
giá cả, chất lượng sản phẩm và thời gian giao hàng…
Tại một số thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam thuế nhập khẩu sẽ đưa xuống mức
1. Quá trình hình thành và phát triển.
1.1 Giới thiệu chung về Hanosimex.
Tên tiếng Việt : Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội.
Tên giao dịch quốc tế : HANOI TEXTILE AND GARMENT JOINT
STOCK CORPORATION
Viết tắt là : HANOSIMEX
Trụ sở chính : Số 1 Mai Động Quận Hoàng Mai Hà Nội
Điện thoại : 043.8621023
Fax : (84-4)3862334
Cơ quan quản lý cấp trên : Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam
Tổng giám đốc : Nguyễn Khánh Sơn
Địa chỉ Website : http:www.hanosimex.com.vn
Địa chỉ email : [email protected]
Mã số thuế : 0100100826
Vốn điều lệ : Tính đến cuối năm 2008 là 205 tỷ vn đồng.
Số lượng phát hành : 20.500.000 cổ phần.
Giấy đăng ký kinh doanh số : 0103022023 do Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cấp
ngày 22/01/2008.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển.
Hiện nay Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội, hoạt động dưới hình thức công ty
mẹ_công ty con. Là thành viên trực thuộc của Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam
( VINATEX ) nhưng hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng , có vốn và
tài sản riêng, được mở tài khoản tại các Ngân hàng hay Kho Nhà nước, chịu trách nhiệm
đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính khác bằng toàn bộ tài sản của công ty mẹ. Được
18
thành lập từ những ngày đầu đất nước được giải phóng, Công ty đã có một bề dày lịch sử
cùng những điểm mốc đáng nhớ.
* 7/4/1978 : Ký kết hợp đồng giữa TECHNO_IMPORT Việt Nam và Hãng
UNIONMATEX ( CHLB Đức )
11/01/2007 của Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp.
19
* 10/2007 : TCT tiến hành cổ phần , đến 1/2008 đổi tên thành Tổng Công Ty Cổ
Phần Dệt May Hà Nội. Trong đó vốn nhà nước chiếm 57.74% vốn điều lệ, còn lại là vốn
cổ đông.
1.3. Các công ty thành viên của Tổng Công Ty và năng lực sản xuất.
1.3.1 Nhà Máy Sợi.
Diện tích nhà xưởng : 54860 m2.
Năng lực sản xuất : Sợi đơn là 12000MT/năm, sợi xe là 1500MT/năm
Máy móc thiết bị : nhập từ các hãng nổi tiếng như : Rieter, Toyoda, Vouk,
Marzoli…
Nguyền nguyên liệu : Bông Việt Nam và Bông nhập từ Mỹ, Tây Phi,…
Xơ PSF nhập từ Đài Loan, Hàn Quốc.
Mặt hàng chính : Sợi đơn, Sợi xe các loại, Sợi Slub, Sợi Texture.
1.3.2 Công Ty Cổ Phần May Đông Mỹ .
Diện tích nhà xưởng : 2500m2.
Năng lực sản xuất : 1.500.000 sản phẩm/năm.
Máy móc thiết bị : 10 chuyền may, 300máy may Juki, Yamato, Brother, Kansai;
1máy thêu Tajima và 40 máy thiết bị phụ trợ khác.
Nguồn nguyên liệu : do công ty tự sản xuất và nhập khẩu.\
Mặt hàng chính : Áo Poloshirt, Tshirt, Hineck, quần áo thể thao, quần áo ngủ …cho
người lớn và trẻ em.
1.3.3 Công Ty Cổ Phần Dệt Hà Đông.
Diện tích nhà xưởng : 5800m2
Năng lực sản xuất : 1500MT/năm.
Máy móc thiết bị : 24máy dệt kiếm Vamatex, 32máy dệt ATM, 16đầu Jacquard,
12máy nhuộm, 4đầu Jacquard Staubli.
Nguồn nguyên liệu : Do công ty tự sản xuất , hoá chất thuốc nhuộm nhập từ Đức,
Nhật
Diện tích nhà xưởng : 2448m2.
Năng lực sản xuất : 1500000 sản phẩm/năm.
Máy móc thiết bị : 13 chuyền may, 400máy may, 33máy thiết bị phụ trợ, hệ thống
thiết kế mẫu, giác sơ đồ Accumar
Nguồn nguyên liệu : Do công ty tự sản xuất và nhập khẩu.
Mặt hàng chính : Quần Jean, áo Denim, quần Khali, Váy cho người lớn và trẻ em.
1.3.7 Trung Tâm Cơ Khí - Tự Động Hoá.
Sản xuất , chế tạo phụ tùng thiết bị dệt may; Lắp đặt sửa chữa thiết bị Điện-Cơ-Nhiệt.
Sản xuất – kinh doanh ống giấy.
Sửa chữa, lắp ráp thiết bị điện từ - tự động hoá.
Ngoài ra còn các công ty mà Hanosimex chiếm phần lớn số vốn là :
Công Ty Cổ Phần Dệt May Hoàng Thị Loan
Công Ty Cổ Phần Thương Mại Hải Phòng _ Hanosimex
Siêu Thị VINATEX Hà Đông.
Có thể nói Tổng Công Ty Cổ Phần Dệt May Hà Nội là một công ty đầu ngành của miền
Bắc cũng như của toàn quốc. Sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển quy mô của
21
Hanosimex ngày càng được mở rộng, năng lực sản xuất ngày càng tăng. Ngoài nhiệm vụ
chủ yếu là cung cấp hàng tiêu dùng, may mặc trong nước, giải quyết việc làm cho hàng
nghìn lao động, công ty còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, giúp tăng kim ngạch xuất
khẩu, góp phần phát triển nền Kinh Tế đất nước.
2. Chức năng nhiệm vụ của Hanosimex.
2.1. Chức năng của Hanosimex
- Sản xuất , kinh doanh, xuất nhập khẩu các loại sản phẩm dệt may, nguyên phụ liệu,
thiết bị ,phụ tùng thuộc ngành dệt may.
- Kinh doanh, xuất nhập khẩu nguyên liệu bông, xơ, phụ liệu , hoá chất, thuốc nhuộm,
thiết bị máy móc ngành dệt may, vật liệu điện, điện tử, nhựa, cao su, các mặt hàng tiêu
dùng.
- Kinh doanh kho vận, cho thuê văn phòng, nhà xưởng, đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ
3. Kết cấu bộ máy của Hanosimex
3.1 Hệ Thống Tổ Chức Của Tổng Công Ty.
Tiền thân của Hanosimex là một công ty nhà nước, nên hệ thống tổ chức được tổ chức
theo mô hình tập trung thống nhất. Sau khi cổ phần hoá, bộ máy tổ chức của Hanosimex
cũng không có nhiều thay đổi. Là một Doanh Nghiệp trực tiếp sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm trên thị trường, Hanosimex luôn phải đối mặt với những biến đổi hàng ngày trên thị
trường. Chính vì vậy bộ máy quản lý của Công Ty được tổ chức theo hình thức trực tuyến
chức năng. Theo cơ cấu này, các bộ phận chức năng không ra mệnh lệnh trực tiếp cho các
đơn vị sản xuất mà chỉ chuẩn bị các quyết định , định hướng, kiến nghị hoặc giải pháp để
tham mưu cho Cơ quan Tổng giám đốc.
Đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng quản trị, tiếp theo là Cơ quan Tổng giám đốc và Trưởng
ban kiểm soát.
- Ở Hanosimex thì ông: Nguyễn Khánh Sơn là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng
giám đốc. Là người đại diện cho Hanosimex, thay mặt cho TCT giải quyết tất cả các vấn
đề liên quan đến quyền lợi của Hanosimex, đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm đối
với tất cả các hoạt động của Hanosimex. Tổng giám đốc không trực tiếp ra các quyết định
mà thông qua các phó Tổng giám đốc và các phòng ban chức năng.
- Dưới Tổng giám đốc là 6 phó Tổng giám đốc, được phân chia theo từng lĩnh vực cụ thể.
Các Phó Tổng giám đốc là người trực tiếp có trách nhiệm kiểm tra, xem xét , ký kết các
hợp đồng thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách. Đồng thời họ cũng có trách nhiệm giúp Tổng
giám đốc điều hành Tổng Công Ty, là người chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về
những việc mình thực hiện.
- Trưởng ban kiểm soát: Ban kiểm soát là cơ quan ngang hàng với Cơ quan Tổng giám
đốc. Được Hội đồng quản trị bầu ra để kiểm tra, theo dõi giám sát các hoạt động của
Hanosimex
Bộ máy giúp việc cho Ban lãnh đạo của Hanosimex bao gồm các phòng ban chức năng,
đây là các cơ quan trực tiếp triển khai các quyết định của TGĐ xuống cơ sở. Có trách
nhiệm trực tiếp tham mưu tư vấn cho TGĐ về mọi mặt trong hoạt động điều hành sản xuất
kinh doanh của TCT, giúp chp TGĐ ra quyết định một cách chính xác và kịp thời. Đồng
thời trong TCT, các phòng ban này cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trao đổi để