A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Từ lâu, thủy sản là loại thực phẩm phổ biến được ưa chuộng ở nhiều quốc gia, nhất là các
quốc gia có biển hoặc có các thủy vực nội địa lớn. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, gia
tăng dân cư, nhu cầu về thủy sản ngày càng lớn để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng đa dạng từ
cao cấp đến bình dân. Ngoài ra, mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm của thủy sản cao hơn
các loại thực phẩm khác, trong khi dịch bệnh ở gia súc, gia cầm có chiều hướng gia tăng
và càng làm cho nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên thế giới tăng mạnh. Tăng trưởng tiêu dùng
thủy sản không những diễn ra mạnh mẽ ở các nước phát triển, mà còn ở các nước đang
phát triển. Cùng với xu thế tiêu thụ này thì việc trao đổi xuất nhập khẩu thủy sản giữa các
quốc gia được đẩy mạnh và Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó.
Nghiên cứu sự tăng trưởng xuất khẩu cá tra- basa Việt Nam ra thị trường thế giới nói
chung và trên các thị trường chủ lực nói riêng vẫn còn có những yếu tố bất ổn đe doạ đến
tốc độ tăng trưởng khó đạt được mục tiêu.
Với mong muốn đề xuất những giải pháp thích hợp cho việc phát triển xuất khẩu thủy sản
nói chung cũng như xuất khẩu cá tra –cá basa nói riêng nhóm chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu là: “Sản phẩm thủy sản xuất khẩu của nước ta và những vấn đề xoay
quanh thị trường xuất khẩu cá tra, cá basa của nước ta hiện nay”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu lý luận:
- Nhận dạng rõ các thị trường xuất khẩu tiềm năng trên thế giới.
- Nghiên cứu kinh nghiệm mở rộng và xâm nhập thị trường trên thế giới từ vấn đề thực
tiễn và rút ra các bài học cho Việt Nam.
Mục tiêu thực tiễn:
- Đánh giá thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam qua các thị trường. Nghiên cứu nhiều
nhân tố tác động đến khả năng duy trì và mở rộng thị trường xuất thủy sản nói chung và
cá tra cá basa nói riêng.
- Đề xuất những giải pháp để giữ vững và gia tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản trên các
thị trường hiện nay.
KTNTTS 1
3. Phương pháp nghiên cứu
Cá các loại khác 64.010.841 5,4
Cua ghẹ và giáp xác khác 53.266.942 4,5
KTNTTS 2
Mực và bạch tuộc 9.797.877 0,8
Nhuyễn thể hai mảnh vỏ 6.964.446 0,6
Tổng cộng 1.192.209.524 100,0
EU: Chiếm 18,5% giá trị XK thủy sản của Việt Nam. NK thủy sản từ Việt Nam liên tục
giảm qua các tháng, cả năm đạt khoảng 1,135 tỷ USD, giảm 15% so với năm 2011. Trong
đó, tôm giảm mạnh nhất (-24,5%) đạt 311 triệu USD, cá tra giảm 19% đạt 426 triệu USD,
mực, bạch tuộc giảm 19% đạt 100 triệu USD. Riêng cá ngừ Việt Nam XK sang thị trường
EU vẫn tăng trưởng tốt (+43%) với khoảng 114 triệu USD.
Cơ cấu sản phẩm thủy sản VN XK sang EU năm 2012
Sản phẩm GT (USD) Tỷ lệ GT (%)
Cá tra 425.836.279 37,5
Tôm 311.737.002 27,5
Cá ngừ 113.831.307 10,0
Cá các loại khác 108.726.837 9,6
Mực và bạch tuộc 99.607.140 8,8
Nhuyễn thể hai mảnh vỏ 52.552.670 4,6
Cua ghẹ và giáp xác khác 23.023.906 2,0
Tổng cộng 1.135.315.141 100,0
Nhật Bản: Năm 2012, NK thủy sản từ Việt Nam đạt gần 1,10 tỷ USD, tăng 9,3% so
với năm 2011. Là thị trường NK tôm lớn nhất của Việt Nam, nhưng năm 2012 đã dựng
KTNTTS 3
lên rào cản Ethoxyquin đối với tôm NK từ Việt Nam, khiến cho kết quả XK sụt giảm
vào cuối năm. XK tôm sang Nhật cả năm đạt 618 triệu USD, tăng 1,7% so với năm 2011
do kết quả nửa đầu năm luôn tăng trên 20%. Ngoài ra, XK các mặt hàng chính khác như
mực, bạch tuộc, cá ngừ và chả cá surimi vẫn duy trì tăng trưởng khả quan (13 - 33%).
Cơ cấu sản phẩm thủy sản VN XK sang Nhật Bản năm 2012
Sản phẩm GT (USD) Tỷ lệ GT (%)
Trung Quốc: Là thị trường đứng thứ 5, chiếm 6,7% tỷ trọng, đạt tăng trưởng khả
quan trên 26%, trị giá 419 triệu USD, nhưng tiềm ẩn mối lo ngại cho Việt Nam, vì Trung
Quốc đồng thời là đối thủ cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường XK thủy sản, nhất là
mặt hàng tôm. Trung Quốc đứng thứ 4 về NK tôm từ VN với 255 triệu USD, tăng 14%,
chưa kể đến việc thương lái Trung Quốc thu gom tôm nguyên liệu qua đường tiểu ngạch,
kể cả tôm có bơm chích tạp chất, gây xáo trộn thị trường tôm nguyên liệu trong nước,
ảnh hưởng đến chất lượng tôm của Việt Nam.
Cơ cấu sản phẩm thủy sản VN XK sang Trung Quốc năm 2012
Sản Phẩm GT (USD) Tỷ lệ GT (%)
Tôm 255.431.528 60,9
Cá tra 72.966.792 17,4
Cá các loại khác 45.172.402 10,8
KTNTTS 5
Mực và bạch tuộc 24.381.568 5,8
Cá ngừ 13.728.754 3,3
Cua ghẹ và giáp xác khác 5.887.836 1,4
Nhuyễn thể hai mảnh vỏ 1.607.921 0,4
Tổng cộng 419.176.799 100,0Năm 2013, tình hình xuất khẩu thủy sản nước ta cũng có khởi sắc, giá trị xuất khẩu
vào thị trường EU đạt 87 triệu USD, tăng 18,06 %. Còn thị trường Mỹ là trên 82 triệu
USD, tăng 17,02%.
STT Tỷ lệ GT (USD) Tỷ lệ GT(%)
1 EU 87.914.015 18,06
2 Mỹ 82.857.473 17,02
3 Nhật Bản 73.746.387 15,15
các doanh nghiệp tham gia chế biến, xuất khẩu cá basa, cá tra sang thị trường Mỹ phải
thực hiện việc ghi tên thương mại cho hai loại cá này tên tất cả các bao bì carton, hộp
giấy và các tới PE đống gói nhỏ từ 1 kg trở xuống.
Cụthể, cá tra có thể dùng một trong các tên sau: Basa catfish, MeKong catfish, Pangas
catfish; cá basa dùng các tên sau: basa Bocourti,basa bocourti. Trên nhãn tất cả các loại
bao bì sản phẩm cá tra, cá basa xuất khẩu phải ghi ‘’sản phẩm của Việt Nam’’ (product of
Vietnam), hoặc ‘’sản xuất tại Việt Nam’’ ( Made in Vietnam).
2. Thực trạng xuất khẩu cá Tra cá Basa.
Năm 2011:
KTNTTS 7
Nguồn: www.vasep.com.vn
Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng với sự quan tâm của Chính phủ, Bộ NN-PTNT,
các bộ ngành liên quan, các tỉnh thành ĐBSCL và sự nỗ lực của người nuôi, các doanh
nghiệp… sản xuất và xuất khẩu cá tra năm 2011 đạt kết quả ấn tượng: Sản lượng cá thu
hoạch gần 1,2 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 1,8 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm
2010. Cá tra Việt Nam đã có mặt ở 135 thị trường trên thế giới, trong đó xuất khẩu sang
EU chiếm 29,1%; Hoa Kỳ chiếm 18,4% Tỷ trọng cá tra xuất khẩu năm 2011 đạt 29,5%
trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản; duy trì vị trí số 2 sau mặt hàng tôm.
Năm 2012:Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam, năm 2012, xuất khẩu
cá tra đạt 1,74 tỷ USD, giảm 3,4% so với năm 2011 và thấp hơn so với mục tiêu 1,8 tỷ
USD do những khó khăn về nguồn vốn cho sản xuất, xuất khẩu, thị trường tiêu thụ trầm
lắng, nguồn cung nguyên liệu không ổn định và giá trung bình xuất khẩu thấp.
THỊ TRƯỜNG
Giá trị xuất
khẩu
Tỷ lệ GT
(%)
So với cùng kỳ 2011 (%)
KTNTTS 8
EU 425,836 24,4 -19,1
EU 34,160 37,206 22,8 +17,4
Tây Ban Nha 6,821 9,028 5,5 +49,1
Đức 5,468 5,954 3,6 +35,7
Hà Lan 4,807 5,096 3,1 -8,1
Ba Lan 2,119 2,372 1,5 -15,8
Mỹ 22,982 26,671 16,3 +31,3
Brazil 11,133 13,270 8,1 +86,7
Mexico 11,212 13,008 8,0 +2,0
ASEAN 9,222 11,307 6,9 +82,2
KTNTTS 9
Singapore 3,043 3,631 2,2 +72,5
Thái Lan 1,617 2,762 1,7 +112,6
Malaysia 2,457 2,370 1,5 +117,8
TQ và HK 7,063 7,363 4,5 +108,2
Hồng Kông 3,454 3,361 2,1 +15,6
Colombia 5,318 6,352 3,9 -0,8
Arập Xêut 4,674 4,641 2,8 +119,9
Các TT khác 41,988 43,450 26,6 +67,6
Tổng cộng 147,753 163,267 100 +40,7
GT: Giá trị (triệu USD)
Thể hiện tháng 1/2013 EU là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 37,205,895 (USD)
chiếm 22.79% tỷ lệ giá trị ,sau đó thị trường Mỹ với 26,670,504 (USD) chiếm 16.34%
GT, ASEAN với 11,306,956(USD.
3. Những vấn đề xoay quanh thị trường xuát khẩu cá Tra cá Basa
a. Khó khăn của doanh nghiệp xuất khẩu.
− Khó khăn về nguyên liệu : vì không tổ chức được liên kết nghành , nhiều doanh nghiệp
lớn đã tự đứng ra tổ chức chuỗi sản xuất của mình bằng việc mở rộng đầu tư đến những
khâu đầu tiên của chuỗi sản xuất :sản xuất giống , sản xuất thức ăn và nuôi cá. Nhưng
hầu hết các doanh nghiệp kiểu này cũng chỉ đáp ứng được vài chục phần trăm nhu cầu
được cấp vì nhiều hoạt động phải hủy bỏ vào giờ chót do doanh nghiệp không tham gia.
Chưa xây dựng được thương hiệu chung của ngành để hợp lực, gia tăng sức cạnh tranh.
− Bán phá giá: Vụ việc này đã xảy ra trên nhiều thị trường. Đối với thị trường Mỹ, đây là
vấn đề mà trong 8 năm liên tiếp có 8 lần cá tra, cá basa nội địa đứng trước việc bị Mỹ áp
thuế chống phá giá, trong đó Việt Nam đều là bị đơn. Thuế chống bán phá giá lần thứ 8
được thực hiện từ năm 2011, mức thuế tạm thời đối với các doanh nghiệp có khối lượng
chiếm đa số trong tổng lượng cá tra, cá basa xuất khẩu vào Mỹ, được lựa chọn làm bị đơn
bắt buộc tham gia quá trình điều tra đều là 0 đôla/kg. mức thuế tạm thời cho các bị đơn tự
nguyện cũng là 0 đôla/kg, còn thuế toàn quốc là 2,11 đôla/kg. Trong 8 năm qua thì
Bangladesh được chọn là quốc gia thứ ba để tính toán biên độ phá giá áp dụng cá tra, cá
basa Việt Nam. Hiện nay thì bộ thương mại Mỹ đang tiến hành xem xét việc có thay thế
KTNTTS 11
bên thứ 3 là Philippin hoặc là Indonexia thay cho Bangladesh để làm căn cứ tính thuế
chống bán phá giá. Nếu phía Mỹ lựa chọn thay thế bên thứ 3 để làm căn cứ thì sẽ rất bất
lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu của nước ta. Dự kiến, vào ngày 14/3 tới Bộ Thương
mại Mỹ sẽ có phán quyết về việc lựa chọn nước thứ ba làm căn cứ tính thuế chống bán
phá giá cá tra, cá basa Việt Nam.
Đối với thị trường Nga, vào năm 2008 xuất khẩu cá tra vào Nga phát triển mạnh, các
công ty Việt Nam đua nhau chào bán giá thấp, kéo theo chất lượng giảm sút khiến chính
phủ Nga ra lệnh cấm nhập khẩu cá tra Việt Nam một thời gian. Nhận định của ông Jean-
Charles Diener của nhà phân phối va nhập khẩu cá tra Việt Nam tại châu Âu, chiến lược
bán hàng kiểu phá giá của các doanh nghiệp Việt Nam đã làm cho hình ảnh sản phẩm này
ngày càng đi xuống, nhà nhập khẩu không thích vì họ phải cạnh tranh, rất khó kiếm lời
khi luôn có người bán rẻ hơn và cho rằng lẽ ra cá tra Việt Nam được bán giá cao hơn từ
30-50% so với giá hiện tại nếu các nhà xuất khẩu trong nước có chiến lược tốt. Cá tra, cá
basa của Việt Nam chỉ được xuất khẩu vào thị trường Nga từ tháng 6-2009 nhưng khối
lượng tăng lên nhanh chóng, đây là một tín hiệu tốt. Trong năm 2009 kim ngạch xuất
khẩu đạt 70 triệu đô là Mỹ, cũng trong năm đó, giá xuất khẩu cá tra, cá basa vào các thị
trường khác giảm từ 10 đến 15%, trong khi giá cá bán tại Nga cao hơn 5 đến 7 % so với
năm 2008. Theo thứ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, để tránh cảnh cá
− Nguyên nhân chủ quan:
o Có nhiều Thị trường qúa rộng lớn, hệ thống pháp luật của nhiều nước qúa
phức tạp. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam mới tiếp cận với một số thị
trường này cho nên sự hiểu biết về thị trường, cách làm ăn của người nước
ngoài , kinh nghiệm tiếp cận về nó chưa nhiều…
o Có một số Thị trường quá xa với thị trường Việt Nam, do đó chi phí vận tải và bảo
hiểm chuyên chở xuất khẩu lớn, điều này làm cho chi phí kinh doanh hàng hoá từ Việt
Nam đưa sang thị trường các nước tăng lên. Hơn nữa, thời gian vận chuyển dài làm
KTNTTS 13
cho hàng thuỷ sản bị giảm chất lượng, tỷ lệ hao hụt tăng, đây cũng là một nguyên tố
khách quan làm giảm tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường
các nước so với hàng hoá từ các nước Châu Mỹ la tinh.
o Tính cạnh tranh trên thị trường một số nước rất cao. Nhiều nước trên thế giới có lợi
thế tương tự ta đều coi thị trường Mỹ, thị trường EU và một số thị trường khác là thị
trường chiến lược trong hoạt động xuất khẩu cuả mình, cho nên Chính phủ và các nhà
doanh nghiệp của các nước này đều quan tâm đề xuất các giải pháp hỗ trợ thâm nhập,
dành thị phần trên thị trường thủy sản thế giới .
o Ta bước vào thị trường Mỹ chậm hơn so với các đối tác, khi mà thị trường đã ổn định
về người mua, mối bán, thói quen, sở thích sản phẩm thì đây cũng được coi là thách
đố đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ
o Mỹ và các nước EU thường gắn chính trị với nhập khẩu thuỷ sản với các biện pháp
như cấm vận, đưa vấn đề chống phá giá vào chính sách nhập khẩu thuỷ sản, các rào
cản thương mại khác như quy định về vệ sinh thực phẩm…
− Nguyên nhân khách quan:
o Những sản phẩm cá basa của ta đưa vào thị trường thủy sản chủ yếu là hàng sơ chế
xuất khẩu dưới dạng thô, chưa qua chế biến, hiệu quả thấp và giá cả thấp, bấp bênh,
trị giá xuất khẩu không ổn định.
o Tính cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu thuỷ sản của ta còn thấp trên cả hai khía cạnh:
giá cả và chất lượng.
o Trình độ công nghệ và kỹ thuật sản xuất bảo quản và chế biến còn nhiều hạn chế, tuy
ngũ ngư dân trên các con tàu đánh bắt xa bờ chưa được đào tạo và huấn luyện để có
thể tiến ra khai thác có hiệu quả các ngư trường xa bờ. Đội ngũ cán bộ, giảng viên, các
nhà khoa học ở các viện nghiên cứu, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp
cũng chưa được đổi mới tương xứng…
5. Cơ hội và thách thức
− Cơ hội:
1. Nhiều loại thủy sản chế biến thuế giảm theo hiệp định.
2. Thủy sản là loại thực phẩm ngày càng ưa chuộng, ngày nay có xu hướng người dân
chuyển sang dùng thủy sản thay thế dần cho thịt.
KTNTTS 15
3. Những bước tiến tích cực trong quan hệ ngoại giao và thương mại song phương đa
phương giữa ta và các nước khác.
4. Năng lực nhập khẩu giữa các nước càng ngày càng lớn.
− Thách thức:
1. Cạnh tranh gay gắt với các nước như Canada, Thái Lan ,Trung Quốc.
2. Một số thị trường ngày càng thắt chặt kiểm soát chất lượng về thủy sản, an toàn vệ sinh
thực phẩm, các biện pháp phòng vệ thương mại.
3. Sự cản trở từ thị trường Mỹ đối với mặt hàng xuất khẩu có lợi thế của Việt Nam là cá tra
và cá basa.
4. Thiếu hụt ngày càng gay gắt nguồn nhân lực được đào tạo.
5. Hạ mức giới hạn phát hiện dư lượng kháng sinh còn 0,03 ppb.
6. Hiệu quả đầu tư ngày càng thấp.
III. Dự báo thị trường
1. Nhận diện thị trường trong những năm tới: kinh tế thế giới tiếp tục có khó khăn nhưng
ngành thủy sản nói chung và ngành cá tra, cá basa nói riêng cũng sẽ có cơ hội phát triển
vì có sức mạnh cạnh tranh trong ngành thực phẩm, hình ảnh các sản phẩm thủy sản của
Việt Nam cũng được cải thiện, như việc tổ chức WWF công nhận cá tra, cá basa là loại
thủy sản nuôi trồng bền vững, khuyến khích người tiêu dùng thế giới sử dụng. Tuy nhiên
cũng sẽ có một biến động như thị trường Mỹ sẽ có xu hướng giảm do Cục quản lý dược
phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) siết chặt kiểm tra hàng lương thực thực phẩm nhập vào.
pháp thích hợp từ việc tận dụng những cơ hội, những thuận lơi đang có, đồng thời hạn
chế tối đa các đe dọa nhằm xây dựng hình ảnh cho việc xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị
trường các nước với số lượng lớn nhất, chất lượng tốt nhất.
2. Kiến nghị
- Nhà nước cần quy hoạch xây dựng vùng nuôi cá tra, cá basa nguyên liệu theo hướng tập
trung để dễ kiểm soát. Khuyến khích các công ty đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ chế
biến và đa dạng hóa các sản phẩm. Đổi mới các phương thức quản lý ngành và doanh
nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư kinh doanh. Tăng cường công tác lãnh đạo và phát
triển nguồn lực và ổn định cuộc sống cho người lao động. Đẩy mạnh hoạt động nghiên
cứu, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ và bảo vệ môi trường. Thành lập các
hiệp hôi, ngành chế biến thủy sản, liên kết các tỉnh nằm trong vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long để tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất.
- Chính phủ cần áp dụng các biện pháp khác nhau nhằm khuyến khích và giúp đỡ các
doanh nghiệp khi bị nước ngoài kiện.
- Nghiên cứu tạo ra giống mới có chất lượng cao…
KTNTTS 17
Bảng viết tắt
GT : Giá trị
XK : Xuất khẩu
NK : Nhập khẩu
VN : Việt Nam
Bộ NN-PTNT : Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn
ĐBSCL : Đồng bằng Sông Cửu Long
VASEP : tập hợp những doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
WWF :Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên
FDA : Cục quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ
Vasep : Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
ASC: Hội đồng quản lý nuôi trồng thủy sản
TÀI LIỆU THAM KHẢO