tình hình sản xuất giống cá rô đầu vuông ở hậu giang - Pdf 10

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Hiện nay, trong việc đầu tư nuôi trồng thủy sản thì vấn đề mà các hộ dân quan
tâm hàng đầu là lựa chọn đối tượng nuôi sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường,
mang lại giá trị kinh tế. Ngoài các loài cá đã nuôi nhiều năm, thì Cá rô đầu vuông
mới được phát hiện trong các năm gần đây. Theo tài liệu của Chi cục Quản lý chất
lượng Nông Lâm sản và Thuỷ sản tỉnh Hậu Giang, cá rô đầu vuông được ông
Nguyễn Văn Khải, thuộc ấp 5, xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thuỷ phát hiện đầu
tiên năm 2008 với số lượng khoảng 70 con lẫn trong ao nuôi cá rô đồng. Việc nuôi
cá rô đầu vuông mang lại lợi nhuận cao do cá rất mau lớn. Trung bình thời gian nuôi
4 tháng đầu có thể đạt trọng lượng 6 con/kg (http://www.khuyennongvn.gov.vn
ngày 24/08/2011). Song do lợi nhuận quá lớn mà cá rô đầu vuông mang lại mà
nhiều hộ dân đổ xô nuôi một cách ồ ạt, dẫn đến tình trạng không có đầu ra bởi vì thị
trường tiêu thụ cá rô đầu vuông chủ yếu là tiêu thụ nội địa
(http://www.phunghiep.vn ngày 07/03/2011).
Thị trường sản xuất giống vốn nhộn nhịp ban đầu nay đã lắng xuống. Hiện tại,
nhiều hộ nuôi bán cả cá giống bố mẹ cho thương lái để đưa ra chợ bán cá thịt. Cá rô
đầu vuông giống bố mẹ (loại 600g/con trở lên) trước đây có giá từ 500.000 đồng – 1
triệu đồng/con, nay giá cao nhất – bán cho người làm giống, cũng chỉ khoảng
100.000 đồng/con, nhưng lại khó bán (http://sgtt.vn ngày 25/08/2012). Hay việc một
số hộ sản xuất giống ở Hậu Giang đã chuyển sang hoạt động cầm chừng hoặc
chuyển sang tìm đối tượng mới. Điều đó cho thấy nguy cơ có thể dẫn đến nghề sản
xuất giống cá rô đầu vuông bị mai một, làm giống cá trên bị lai tạp hoặc làm mất
giống. Nên cần xây dựng phương án bảo tồn, lưu giữ cá rô đồng đầu vuông tại tỉnh
Hậu Giang, bên cạnh đó cũng cần xây dựng một quy trình sản xuất giống có chất
lượng cao. Góp phần nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững nghề sản xuất giống
cá rô đầu vuông của tỉnh Hậu Giang nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói
chung, đồng thời bảo vệ được nguồn vật liệu di truyền quý cho các chương trình
chọn giống cá rô đầu vuông lâu dài. Để góp phần thực hiện được mục tiêu trên thì
đề tài “Khảo sát kỹ thuật sản xuất giống cá rô đồng đầu vuông ở Hậu Giang” được

Cá Rô đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792) là loài cá sống trong môi trường
nước ngọt ở vùng nhiệt đới. Cá hiện diện trong các thủy vực như ao đìa, đầm lầy,
mương vườn và ruộng lúa ở Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam (Trương Thủ
Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
Cá rô đầu vuông hiện nay chưa được xác định hệ thống phân loại rõ ràng.
Nghiên cứu ban đầu của Trần Kiều Lan Phương (2011) về mối quan hệ họ hàng của
cá rô đầu vuông và cá rô đồng thường dựa trên trình tự đoạn gen Cytochrome-b cho
thấy cá rô thường và cá rô đầu vuông ở cùng thứ hạng phân loại với khoảng cách di
truyền là 0,02387 và mức độ tương đồng khá cao là 94%.
3
2.1.2 Đặc điểm hình thái
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) cá rô đồng có thân
hình bầu dục, dẹp bên, cứng chắc. Đầu lớn, mõm ngắn. Miệng hơi trên, rộng vừa,
rạch miệng xiên kéo dài đến đường thẳng đứng kẻ qua giữa mắt.
Theo Trần Kiều Lan Phương (2011) cá rô đồng đầu vuông có thân dài, dẹp
bên, cứng chắc và thân hình hơi cong, còn cá rô đồng thường thì thân mình bầu dục.
Cá rô đồng đầu vuông có phần đầu to và vuông, mõm ngắn và nhọn còn cá rô đồng
thường thì mõm ngắn và hơi bầu.
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng
Cá rô đồng có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm, sau 6 tháng nuôi cá đạt
trọng lượng từ 60 – 100 g/con. Trong điều kiện nhân tạo, cá rô đồng sống được
trong bể xi măng, ao ương có diện tích nhỏ, ngoài ra nếu cá ở nơi mát và bề mặt cơ
thể được giữ ấm, cá có thể sống được ngoài không khí trong nhiều giờ nhờ có cơ
quan hô hấp phụ trên mang sử dụng khí trời, đây là ưu thế trong việc vân chuyển và
nuôi với mật độ cao trong ao (http://kcmdanang.org.vn ngày 03/07/2012).
Cá rô đầu vuông có ưu điểm lớn nhanh, hệ số tiêu thụ thức ăn thấp, theo kinh
nghiệm của các hộ nuôi thì chỉ tốn 1,4 kg thức ăn cho 1 kg cá, trong khi đó nuôi cá
rô đồng bình thường tốn đến 2 kg thức ăn. Nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm sẽ
mang lại lợi nhuận rất cao do đặc điểm cá rất mau lớn. Trung bình thời gian nuôi 4
tháng đầu có thể đạt trọng lượng 6 con/kg. Nếu nuôi kéo dài 7 tháng, trọng lượng cá

khối lượng thân hằng ngày và cho ăn 2 lần/ngày thì sau 50 – 60 ngày cá thành thục
sinh dục và tham gia sinh sản tốt. Cá sau khi đẻ có thể nuôi tái phát dục tiếp trong
lồng với thời gian khoảng 25 – 30 ngày. Các loại kích dục tố là não thùy, HCG và
LHRHa đều có thể sử dụng để kích thích sinh sản nhân tạo cá rô đồng với các mức
nồng độ như Não thùy: 8 mg/kg; HCG: 3000 UI/kg và LHRHa: 50 µg/kg.
Theo Lê Hoàng Quý (2011) trong việc thực nghiệm kích thích sinh sản cá rô đầu
vuông thì liều lượng kích dục tố thích hợp là: Liều lượng LHRHa + DOM (120µg +
5mg DOM) sử dụng cho sinh sản cá rô đầu vuông tốt nhất cho tỷ lệ đẻ 100%, sức
sinh sản 161.200 trứng/kg, tỷ lệ thụ tinh 94%, tỷ lệ nở 97.4%. Liều lượng kích thích
tố não thùy 7 mg sử dụng tốt nhất cho tỷ lệ đẻ 100%, sức sinh sản 280.879 trứng/kg,
tỷ lệ thụ tinh 94%, tỷ lệ nở 91.1%. Liều lượng kích thích tố HCG sử dụng tốt nhất là
4000 UI/kg cá cái cho tỷ lệ đẻ 100%, sức sinh sản 376487 trứng/kg, tỷ lệ thụ tinh
cao 86%, tỷ lệ nở 96%.
5
2.3 Tổng quan về tỉnh Hậu Giang
Vị trí địa lý: Diện tích tự nhiên là 160.058,69 ha, chiếm khoảng 4% diện tích
vùng ĐBSCL và chiếm khoảng 0,4% tổng diện tích tự nhiên nước Việt Nam. Tỉnh
Hậu Giang có một hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài
khoảng 2.300km. Mật độ sông rạch khá lớn 1,5 km/km, vùng ven sông Hậu thuộc
huyện Châu Thành lên đến 2 km/km. Do điều kiện địa lý của vùng, chế độ thuỷ văn
của tỉnh Hậu Giang vừa chịu ảnh hưởng của chế độ nguồn nước sông Hậu, vừa chịu
ảnh hưởng chế độ triều biển Đông, biển Tây và chế độ mưa nội tỉnh. Nhiệt độ trung
bình là 27
0
C không có sự trên lệch quá lớn qua các năm. Tháng có nhiệt độ cao nhất
(35
0
C) là tháng 4 và thấp nhất vào tháng 12 (20,3
0
C).

Thủy và Phụng Hiệp. Theo Chi cục Thủy sản Hậu Giang, thời gian qua, tình hình
sản xuất cá rô trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn, sản lượng nuôi tồn đọng nhiều.
Nguyên nhân do thời điểm trước khi cá rô đầu vuông xuất hiện, diện tích nuôi và
sản lượng tương đối ổn định. Theo Sở NN & PTNT Hậu Giang thì nhiều nông dân
đã chuyển sang nuôi cá rô đầu vuông với diện tích lớn, do có quá nhiều người đổ xô
nuôi, trong khi chưa tìm được đầu ra ổn định làm cho cá rô đầu vuông thời gian qua
bị rớt giá. Khi giá cá giảm bất ngờ, đa phần người dân bán cá phải chịu cảnh thua lỗ,
thậm chí có hộ lỗ đến hàng chục triệu đồng/vụ nuôi
(http://www.baohaugiang.com.vn ngày 12/09/2011).
7
PHẦN 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian thực hiện: 08/2012 đến 12/2012.
Địa điểm nghiên cứu: Tại các hộ sản xuất giống cá rô đầu vuông thuộc các
huyện Vị Thủy, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Châu Thành tỉnh Hậu Giang.
Đối tượng nghiên cứu: Thu thập thông tin từ các cơ quan ban ngành có liên
quan đến thủy sản ở địa phương; điều tra, phỏng vấn các hộ sản xuất giống cá rô
đầu vuông
Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu: Phiếu phỏng vấn được thiết kế sẵn.
Hình 2 Địa bàn thực hiện nghiên cứu
8
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Số liệu thứ cấp: Các số liệu thứ cấp được thu thập từ Sở NN & PTNN tỉnh Hậu
Giang và các trạm khuyến nông – khuyến ngư của các huyện Châu Thành, Phụng
Hiệp, Long Mỹ và Vị Thủy. Tổng hợp được từ các báo cáo của các cơ quan ban
ngành ở địa bàn nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, tình hình của ngành
nuôi trồng thủy sản. Các nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện và trên các báo,
tạp chí thủy sản, các website,…

tra chuẩn bị sẵn.
Số liệu sẽ được kiểm tra, mã hóa trước khi xử lý. Sau khi mã hóa xong được
kiểm tra lại và tính toán các chỉ tiêu cần thiết trước khi tiến hành xử lý thống kê.
Các phương pháp phân tích:
Thống kê mô tả: cung cấp cỡ mẫu, giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất, giá trị
lớn nhất, độ lệch chuẩn,
Phương pháp xử lí số liệu: sử dụng phần mềm Excel 2003 để sử lý số liệu và
Word 2003 để viết bài.
10
PHẦN 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thông tin về hộ nuôi
4.1.1 Thông tin chung
Kinh nghiệm sản xuất là yếu tố có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc
sản xuất của người nuôi. Theo kết quả khảo sát lực lượng tham gia sản xuất
giống cá rô đầu vuông ở Hậu Giang đa số đều đã từng có kinh nghiệm sản xuất
cá rô đồng trước đây. Trong tổng số 30 hộ thì đã có 19 hộ là đã từng có kinh
nghiệm SXG cá rô đồng trung bình là 6,6±5,0 năm. Như vậy, các hộ đều đã có
kinh nghiệm khá lâu trong việc nuôi cá rô đồng đây là điều kiện tạo nền tảng
tốt cho việc phát triển đối tượng mới là cá rô đầu vuông.
Bên cạnh đó, các hộ dân có số năm kinh nghiệm trong việc sản xuất
giống cá rô đầu vuông trung bình là 2,6±0,8 năm, dao động trong khoảng từ 1 -
4 năm. Như vậy, các hộ sản xuất giống đã có khá nhiều kinh nghiệm trong việc
sản xuất đối tượng mới. Trong đó số kinh nghiệm 2 năm chiếm cao nhất là
43,3%, 1 năm chiếm thấp nhất là 3,3%. Số năm kinh nghiệm của các hộ dân đã
cho thấy cá rô đầu vuông là đối tượng cũng còn khá mới, nhưng khi được phát
hiện tới nay các hộ cũng đã chuyển dần sang sản xuất đối tượng này.
Hình 3 Tỷ lệ số năm kinh nghiệm sản xuất cá rô đầu vuông của nông hộ
11
4.1.2 Nguồn thông tin kỹ thuật

Kinh nghiệm SXG cá rô đầu vuông (năm) 30 2,6±0,8
Tổng số lao động (người) 30 2,6±1,9
Lao động gia đình (người) 30 2,3±1,3
Diện tích sản xuất (ha) 30 0,5±1,0
12
4.2 Nguồn gốc đàn cá bố mẹ
4.2.1 Số lượng đàn cá bố mẹ hiện nay
Lượng cá bố mẹ phục vụ cho việc SXG tại các nông hộ hiện nay còn lưu trữ
trung bình là 413,6±612,2kg. Các cơ sản xuất lớn có lượng cá bố mẹ hiện nay lên
đến 2 tấn. Điều này cho thấy trữ lượng đàn cá bố mẹ còn lưu giữ tại các hộ còn khá
lớn. Có thể phục vụ cho nhu cầu con giống khi cần thiết với lượng lớn.
4.2.2 Nguồn gốc và cách quản lí đàn cá bố mẹ hiện nay
Nguồn cá bố mẹ hiện nay của các hộ SXG đã khảo sát đa số được mua về từ
các hộ Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Hùng Anh, Trương Phú Quốc, Đinh Ngọc
Ẩn (xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy). Trong đó, hộ ông Nguyễn Văn
Khải là người phát hiện đầu tiên cá rô đầu vuông lẫn trong cá rô đồng, đã giữ
lại để nhân giống. Nhờ vậy, mà cá rô đầu vuông được phát hiện và sản xuất
đại trà như hiện nay.
Đàn cá bố mẹ mua về lúc ban đầu có 3 hộ (10,3%) ở giai đoạn trứng; 6 hộ
(20,7%) mua về ở giai đoạn cá giống; 8 hộ (27,6%) mua về ở giai đoạn cá thịt với
kích cỡ 7,1±2,6 con/kg; 12 hộ (41,4%) mua về ở giai đoạn cá bố mẹ đang sẵn sàng
cho đẻ với kích cỡ 3,3±1,2 con/kg.
Hình 4 Tỷ lệ giai đoạn cá bố mẹ mua từ ban đầu
Với tỉ lệ đực:cái của đàn cá bố mẹ ban đầu là 1:2 chiếm 15,8% và tỉ lệ 1:1 là
84,2%.
13
Thời gian nuôi tái phát của đàn cá bố mẹ hiện nay trung bình là 60,8±30,0
ngày dao động từ 30 - 150 ngày sau khi đẻ lần 1 thì có thể tiếp tục cho sinh
sản lần 2. Trong đó, có 16 hộ (chiếm 53,3%) cho nuôi riêng giữa cá cho sinh
sản và chưa sinh sản, có 14 hộ (46,7%) thả cá chung trở lại với cá chưa cho

mẹ từ hộ khác để tránh trường hợp cận huyết có nguy cơ dẫn đến suy giảm chất
14
lượng đàn cá bố mẹ. Và 88,9% hộ còn lại tuyển mới cá bố mẹ từ chính ao nuôi thịt
của nông trại. Giúp giảm chi phí, dễ dàng lựa chọn cá bố mẹ có chất lượng, nguồn
gốc rõ ràng nhưng nguy cơ bị trùng huyết cũng cao hơn khi tuyển từ chính ao nuôi
thịt. Lượng cá bố mẹ được tuyển từ ao nuôi thịt trung bình vào khoảng
182,8±201,4kg. Đủ đảm bảo số lượng đàn cá bố mẹ phục vụ sản xuất giống tại nông
hộ trong thời gian dài. Cá bố mẹ sau khi tuyển đa số các hộ (66,4%) sẽ được thả
nuôi chung với đàn cá bố mẹ cũ, số hộ còn lại (33,4%) thả nuôi riêng với đàn cá bố
mẹ ban đầu.
Có 9 hộ (31,3%) bổ sung đàn cá bố mẹ do tỉ lệ đẻ của đàn cá ban đầu giảm, cá
mang trứng chậm hoặc không lên trứng dễ gây tăng chi phí chăm sóc; 11 hộ
(37,9%) bổ sung vì sức sinh sản của đàn cá bố mẹ bị suy giảm; 4 hộ (13,8%) bổ
sung vì thấy chất lượng trứng và tinh của cá bố mẹ đã giảm; 5 hộ (17,2%) do chất
lượng ấu trùng và cá con giảm.
Sức sinh sản của đàn cá bố mẹ hiện nay theo các hộ vào khoảng
315.625,0±207.423,6 trứng/kg cá cái. Cho thấy, sức sinh sản của cá rô đầu vuông
khá cao.
Theo nhận xét của các hộ sản xuất thì có 23,3% số hộ cho rằng sức sinh sản
của cá bố mẹ lần sau cao hơn lần trước, 46,7% thấy sức sinh sản giảm sau mỗi lần
cho cá bố mẹ sinh sản; 20,0% số hộ thì thấy sức sản vẫn không thay đổi nhiều giữa
các lần cho cá bố mẹ sinh sản, các hộ còn lại thì không biết là có sự thay đổi hay
không.
Bảng 3 Cách bổ sung và quản lý đàn cá bố mẹ hiện nay
Chỉ tiêu Số mẫu Tỉ lệ (%)
Bổ sung đàn cá bố mẹ 29
Mua từ hộ khác 4 13,8
Tuyển từ ao nuôi thịt 25 86,2
Nguyên nhân bổ sung 29
Tỉ lệ đẻ đàn cá ban đầu giảm 9 31,3

Trong quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ cũng hay gặp 1 số bệnh thường gặp như
xuất huyết, đường ruột, đen thân, nấm nhớt hay phồng đuôi,
Trong quá trình nuôi vỗ có xảy ra hao hụt trong lúc nuôi vỗ lần đầu. Trong
đó có 52,2% số hộ cho rằng hao hụt chủ yếu do bệnh tỉ lệ hao hụt là
23,9±22,7%. Còn số hộ còn lại hao hụt ít chỉ khoảng 11,5% là do chết rải rác
không rõ nguyên nhân.
Hao hụt do nuôi vỗ tái phát chủ yếu là do sử dụng kích thích tố với tỉ lệ hao
hụt có thể lên đến 20,5%.
Bảng 4 Một số thông tin về nuôi vỗ cá bố mẹ
Chỉ tiêu Số mẫu Trung bình±ĐLC
Diện tích ao/giai muôi vỗ (m
2
) 30 220,9±453,9
Độ sâu ao (m) 30 1,2±0,4
Mật độ nuôi (con/m
2
) 20 33,1±29,9
Số lần thay nước (lần/tháng) 17 8,4±10,6
16
4.5 Kỹ thuật sinh sản nhân tạo
Cá rô đầu vuông bố mẹ có thể cho sinh sản tốt quanh năm. Một số hộ cho
biết vào tháng 9 - 11 âm lịch thì cá có biểu hiện chậm lên trứng, tỉ lệ sinh sản
giảm. Do lúc này thời tiết bắt đầu lạnh, hạn chế cho cá sinh sản vào các tháng
này.
Tuổi cá bố mẹ cho sinh sản thường là 9,7 tháng ở giai đoạn này cá đã đạt
được kích cỡ mong muốn và có tỉ lệ mang trứng tốt. Tốt nhất là nên chọn cá
bố mẹ trên 10 tháng và không nên chọn cá dưới 8 tháng do chưa đủ kích cỡ
mà độ thành thục chưa cao.
Khoảng 2/3 số hộ chỉ giữ cho cá đẻ trong 1 năm. Vì sau đó chất lượng giống
và sức sinh sản có vẻ như giảm, ảnh hưởng đến chất lượng con giống và làm

18
Phần 5
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
5.1 Kết luận
Qua khảo sát cho thấy các hộ nuôi tìm hiểu được từ các lớp tập huấn ngắn
hạn chiếm đa số với 43,3% sau đó là các hộ tự tìm tòi học hỏi từ các hộ xung
quanh với 26,6% rồi đến số hộ học hỏi từ các trại SXG đã có kinh nghiệm
chiếm 20,0%.
Diện tích sản xuất của các hộ cũng dao động rất lớn trung bình từ 0,5±0,1ha.
Đàn cá bố mẹ mua về lúc ban đầu có 3 hộ (10,3%) ở giai đoạn trứng; 6 hộ
(20,7%) mua về ở giai đoạn cá giống; 8 hộ (27,6%) mua về ở giai đoạn cá
thịt với kích cỡ 7,1±2,6 con/kg; 12 hộ (41,4%) mua về ở giai đoạn cá bố mẹ
đang sẵn sàng cho đẻ với kích cỡ 3,3±1,2 con/kg.
Trong việc bổ sung đàn cá bố mẹ thì có 13,8% trong tổng số hộ là mua cá bố
mẹ từ hộ khác để tránh trường hợp cận huyết có nguy cơ dẫn đến suy giảm
chất lượng đàn cá bố mẹ. Và 88,9% hộ còn lại tuyển mới cá bố mẹ từ chính
ao nuôi thịt của nông trại.
Ao/giai nuôi vỗ cá bố mẹ có kích thước từ 3 - 2000m
2
trung bình 220,9m
2
với
độ sâu 1,2±0,4m. Đa số các số cho sên vét ao 1 lần/năm. Hóa chất cải tạo thường là
vôi với liều lượng từ 20 - 100 kg/1000m
2
, muối với liều lượng từ 10 - 100
kg/1000m
2
, bên cạnh đó còn sử dụng thêm chlorine và men vi sinh khi cải tạo.
Mật độ thả nuôi cá bố mẹ trung bình là 33,1 con/m

học.
11.Trương Thủ Khoa & Trần Thị Thu Hương, 1993. Định loại cá nước ngọt
ĐBSCL Việt Nam. Khoa Thủy Sản - Trường Đại Học Cần Thơ.
12.Sổ tay niên giám thống kê tỉnh Hậu Giang, 2010.
13.http://www.fishbase.org ngày 28/08/2012.
14.http://www.phunghiep.vn, 07/03/2011. Cá rô đầu vuông nổi lo về giá.
15.http://sgtt.vn, 25/08/2012. Hậu Giang: rớt giá, cá rô đầu vuông giống ra chợ.
16.http://kcmdanang.org.vn, 03/07/2012. Kỹ thuật nuôi cá rô đồng.
17.http://thuysan.net, 11/07/2011. Kinh nghiệm nuôi cá rô đầu vuông.
21
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bảng phỏng vấn khảo sát kỹ thuật sản xuất giống cá rô đầu vuông
(Anabas sp.) ở Hậu Giang
I. THÔNG TIN TỔNG QUÁT
1.1.Tên nông hộ/trại: ………………………………………………………
1.2.Địa chỉ:…………………………………………………………………
1.3.Điện thoại bàn ………………….
ĐTDĐ………………………………………
1.4.Số năm kinh nghiệm SXG cá rô đồng………cá rô ĐV…………………
1.5.Kỹ thuật sản xuất giống cá rô học được từ (1 họăc nhiều chọn lựa)
1. Học lúc học Đại học
2. Tập huấn ngắn hạn
3. Học từ trại khác
4. Tự tìm tòi
5. Có kinh nghiệm sản xuất giống các lòai cá khác (lòai gì?)
6. Khác………………………………………………
1.6.Trình độ học vấn của người trực tiếp quản lý SXG: …………
1.7.Tổng số lao động trực tiếp SXG:………người, Trong đó số lao động gia
đình:………người
1.8.Tổng diện tích nuôi thủy sản a) của gia đình: …….m

2.3.Cá ban đầu được mua về ở giai đọan:
1. Cá giống …………….…con/kg Số kg …………………
2. Trứng thụ tinh…………………………………………………………
3. Cá thịt ….………con/kg Số kg ……………
4. Cá bố mẹ sẵn sàng cho đẻ ….………… con/kg Số kg ………
2.4.Tỉ lệ đực/cái của đàn cá ban đầu……………….
2.5.Số lần sinh sản đàn cá bố mẹ ban đầu
1. cá đẻ qua 1 lần … … % tổng đàn cá ban đầu
2. cá đẻ qua 2-3 lần …… % tổng trọng lượng đàn
3. cá đẻ qua ≥ 4 lần …… .% tổng trọng lượng đàn
2.6.Nuôi tái phát cá sau khi đẻ
1. Nuôi giai/ao (khoanh) riêng để cho đẻ tiếp Thời gian giữa 2 lần sinh
sản … ngày
2. Thả trở lại ao/giai với cá rô chưa sinh sản
3. Cá đẻ xong, giữ thời gian và bán
a. Bán thịt b. Bán cho người khác làm cá bố mẹ
2.7.Bán cá bố mẹ (mà trại có ban đầu) cho những hộ, nơi nào?
a. Tên:……… …Tỉnh ……………Huyện…………… Xã…………
b. Tên:……… …Tỉnh ……………Huyện…………… Xã…………
c. Tên:……………Tỉnh ……………Huyện…………… Xã………
d. Tên:……………Tỉnh ……………Huyện…………… Xã………
2.8.Kế họach phát triển đàn cá hiện tại
a. sẽ nuôi dưỡng để cho đẻ bán cá giống…………
b. nuôi dưỡng để cho đẻ phục vụ nuôi cá thịt trong gia đình
c. để bán cá bố mẹ (nếu chọn hỏi tiếp câu 2.9, nếu không chọn câu
này bỏ qua câu 2.9)
d. tiếp tục bổ sung (hay thay mới) đàn cá bố mẹ
23
2.9.Nếu bán, lý do:
a. Sản xuất không có lãi/lời

2
f. Tổng số ao …………… Giai ………………….
g. Độ sâu ao/giai nuôi:……………………m Giai ………………….
h. Số lần sên vét ao:………………………….lần/năm
i. Hóa chất cải tạo ao…………… Liều lượng:…………………….
…………………… Liều lượng:……………………
j. Mật độ nuôi:…………… con/m
2
, Kích cỡ…………………
24
k. Tỷ lệ đực/cái nuôi:………………………………
l. 1. Thức ăn loại 1(loại, đạm):……… ……. Lượng cho ăn:………%
khối lượng cá
2. Thức ăn loại 2(loại, đạm):……… ……. Lượng cho ăn:………%
khối lượng cá
3. Thức ăn tự chế (thành phần)………………………… . . . . . . . .
m. Thay nước:…………………lần/tháng, ……………% thể tích/lần
n. Thuốc/hóa chất thường dùng:
1. Loại 1:…………. Liều lượng:……… Chu kỳ…
2. Loại 2:………… Liều lượng:……… Chu kỳ…
3. Loại 3:………… Liều lượng:……… Chu kỳ…
o. Cách kiểm tra sự thành thục của cá bố/mẹ:………………………….
p. Bệnh xuất hiện trong quá trình nuôi vỗ
1. Loại bệnh xuất hiện nhiều nhất…………………….
2. Loại bệnh xuất hiện nhiều thứ 2…………………….
3. Loại bệnh xuất hiện nhiều thứ 3…………………….
q. Tỉ lệ hao hụt trong quá trình nuôi vỗ lần đầu (từ bắt đầu nuôi vỗ đến
khi cho sinh sản)
1. Do bệnh …………… Tỉ lệ …………(%/tổng số cá nuôi vỗ)
2. Chết rải rác không rõ nguyên nhân Tỉ lệ …(%/tổng số cá nuôi vỗ)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status