2012
Châu Văn Mạnh
http://www.facebook.com/manhduy4588
[email protected]
TÌNH HÌNH CÁC DOANH
NGHIỆP THỦY SẢN VIỆT NAM
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 2
BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN
NAY CỦA VIỆT NAM
1. Kinh tế Việt Nam
Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 60 trong các nền kinh tế thành viên của Quỹ Tiền tệ
Quốc tế xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2009 và đứng thứ 133
xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người. Đây là nền kinh tế
hỗn hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đảng Cộng sản
Việt Nam chủ trương xây dựng ở Việt Nam một hệ thống kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ
chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân
hàng Phát triển Châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương,
ASEAN. Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước
ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Việt Nam cũng đã ký với Nhật Bản một
hiệp định đối tác kinh tế song phương. Theo dự báo trong một báo cáo tháng 12-2005
của Goldman-Sachs thì vào năm 2025, nền kinh tế Việt Nam có thể trở thành nền kinh
tế lớn thứ 17 trong số những nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến kinh tế thế giới với
GDP danh nghĩa đạt 436 tỉ USD và GDP bình quân đầu người là 4.357 USD.
[4]
Theo
dự báo của PricewaterhouseCoopers năm 2008, cho đến năm 2050, nền kinh tế Việt
cao là việc ký hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và hiệp định đối tác
kinh tế song phương với Nhật Bản.
3. Kinh tế đối ngoại - hội nhập kinh tế
Năm 2008, Việt Nam xuất khẩu được khoảng 64.8 tỷ dollar Mỹ, trong đó khoảng
32,1% giá trị xuất khẩu là hàng công nghiệp nặng và khoáng sản, 45.2% là hàng công
nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, 23,5% là hàng nông, lâm, thủy sản. Trong khi đó
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 4
cùng năm, giá trị nhập khẩu ước đạt 60,8 tỷ dollar, trong đó ước khoảng 30,2% giá trị
nhập khẩu là máy móc, thiết bị, dụng cụ các loại, 63,7% là nguyên, vật liệu, chỉ có
6,1% là hàng tiêu dùng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp ngày càng tích cực vào tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam. Tuy nhiên, giá trị đầu tư thực tế và giá trị giải ngân thấp hơn nhiều so với
giá trị đăng ký. Tính theo giá trị lũy kế từ năm 1988 đến hết năm 2007, công nghiệp
và xây dựng là lĩnh vực thu hút được nhiều FDI nhất – 67% số dự án và 60% tổng giá
trị FDI đăng ký. Sau đó đến khu vực dịch vụ - 22,3% về số dự án và 34,3% về giá trị.
Trong 82 quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, các nước đầu tư nhiều nhất tính
theo giá trị FDI đăng ký lần lượt là Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Nhật Bản. Việt
Nam bắt đầu chủ trương hội nhập kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
(1996), chủ trương này càng được đẩy mạnh. Hội nhập kinh tế của Việt Nam diễn ra
càng ngày càng nhanh và càng sâu. Từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã
tiến tới hợp tác kinh tế toàn diện, từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh
tế đa phương. Cho đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước
và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song
phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp
định tránh đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc. Đỉnh cao về hợp
tác kinh tế song phương là việc ký hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản, còn
2009
92,84
1040
5,3%
Các chỉ số về GDP theo sức mua
Năm
GDP theo
sức mua
(tỷ USD)
GDP sức mua
theo đầu người
(USD
2007
230,8
2700
2008
245,1
2800
2009
258,1
2900
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Năm
FDI đăng ký
(tỷ USD)
FDI giải ngân
(tỷ USD)
2007
8
(CIA).
Tỷ trọng trong GDP (2009):
Nông nghiệp: 20,7%
Công nghiệp: 42,3%
Dịch vụ: 39,1%
Lực lượng lao động:
Có 43,87 triệu lao động (2009 ước) (xếp thứ 13 toàn cầu)
Tỷ lệ thất nghiệp:
Đạt 2,9% (2009 ước) (xếp thứ 23 toàn cầu)
Dân số dưới mức nghèo
Đạt 10% (2010). Mức nghèo của Việt Nam giảm từ hơn 58% năm 1993 xuống
còn khoảng 10% trong năm 2010
Hộ gia đình có thu nhập hoặc tiêu dùng bằng cách chia sẻ phần trăm:
Thấp nhất 10%: 3,1%
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 6
Cao nhất 10%: 29,8% (2006)
Đầu tư (tổng cố định)
Đạt 42,5% của GDP (2009 ước) (xếp thứ 4 toàn cầu)
Ngân sách:
Thu: 24,27 tỷ USD
Chi: 28,85 tỷ USD (2008 ước)
Tỷ lệ lạm phát (giá tiêu dùng)
Đạt 6,9% (2009 ước) (xếp thứ 164 toàn cầu)
Xuất khẩu:
Đạt 56,55 tỷ USD (2009 ước) (xếp thứ 40 toàn cầu)
Nhập khẩu:
Đạt 68,80 tỷ USD (2009 ước) (xếp thứ 36 toàn cầu)
Bảng 1: Sản lƣợng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản giai đoạn
2007 – 6
th
/2010
ĐVT: Sản lượng (nghìn tấn);Kim ngạch (triệu USD)
Chỉ tiêu
Năm
Chênh lệch(%)
2007
2008
2009
6t/2010
2008/ 2007
2009/2008
6
th
-2010 /
6
th
-2009
Sản
lƣợng
1.164
1.239
1.219
597,9
19,3
(1,6)
17,1
Kim
thế giới, Việt Nam được coi là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng thủy sản
nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn1998-2008 đạt 18%/năm.
Năm 2009, hàng thủy sản nước ta đạt kim ngạch xuất khẩu 4,25 tỷ USD, giảm
5,7% so với năm 2008. Có ba nguyên nhân cho sự sụt giảm trong xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam năm 2009 đó là do dư âm của khủng hoảng tài chính đã tác động đến
các nước nhập khẩu chính mặt hàng này của Việt Nam dẫn đến khối lượng nhập khẩu
giảm. Thứ hai, do sự cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp, làm giá
xuống thấp tổn hại đến uy tín và thương hiệu của sản phẩm cá tra củaViệt Nam.
Trong 6 tháng đầu năm 2010, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt giá trị
2,047 tỷ USD tăng 17% so với cùng kỳ năm 2009. Trong những tháng đầu năm 2010,
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có khá nhiều thuận lợi khi tỷ giá đồng USD/VND
tăng mạnh cộng với sự hồi phục của hầu hết các thị trường xuất khẩu chính và các
hiệp định thương mại với các nước cũng đem lại nhiều thuận lợi và cơ hội cho các nhà
xuất khẩu Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam cũng phải
đối mặt với không ít khó khăn khi thiếu nguồn cung nguyên liệu cho cả hai mặt hàng
xuất khẩu chính là tôm và cá tra, basa, lượng cung ít hơn nhiều so với nhu cầu của các
doanh nghiệp chế biến dẫn đến giá bán cao đặc biệt đối với tôm nguyên liệu. Bên cạnh
đó là những khó khăn từ quy định IUU của EU về truy xuất nguồn gốc xuất xứ cũng
như việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá cá tra đối với Việt Nam với mức thuế trên
100% cộng với rất nhiều thị trường khác cũng đưa ra hàng loạt các hàng rào kỹ thuật
khác đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải nghiêm ngặt hơn trong việc đảm bảo
chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và các doanh nghiệp phải có sự hợp tác hơn
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 9
tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh làm ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả
xuất khẩu chung của toàn ngành.
2. Tình hình xuất khẩu theo mặt hàng
Bảng 2: Sản lƣợng các mặt hàng thủy sản xuất khẩu giai đoạn
304
73,1
(5,6)
14,3
Loại khác
631,5
403
402
61,9
(36,2)
(0,2)
-
Nguồn: Hải quan Việt Nam_Tổng cục thống kê
Bảng 3: Kim ngạch các mặt hàng thủy sản xuất khẩu giai đoạn
2007 – 6
th
/2010
ĐVT: Triệu USD
Mặt hàng
Năm
Chênh lệch (%)
2007
2008
2009
6t/2010
2008/2007
2009/2008
6t/2010/6t/2009
Tôm
1.500
Năm 2008
Năm 2009
6t/2010
Tôm
39,9
36,1
39,8
35,1
Cá tra & basa
-
32,4
31,9
31,9
Loại khác
-
31,5
28,3
33
Nguồn: Hải quan Việt Nam
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 10
a. Về mặt hàng tôm đông lạnh:
Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu thuỷ sản cho thấy không có sự biến động nhiều
giữa các nhóm sản phẩm, nhìn chung tôm vẫn là nhóm sản phẩm chủ lực chiếm gần
40% kim ngạch xuất khẩu thủy sản qua các năm. Trong năm 2007, xuất khẩu được
160,5 nghìn tấn tôm đông lạnh thu về kim ngạch hơn 1,5 tỷ USD. Đứng đầu là thị
trường Nhật Bản tiếp theo là Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Canada, Đài Loan, Ôxtrâylia, Asean,
Hồng Kông,… Năm 2008, Việt Nam xuất khẩu được 192 nghìn tấn tôm đông lạnh
tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Sản lượng cá đông lạnh xuất khẩu tăng vọt là do
giá và lượng tiêu thụ các sản phẩm thủy sản có giá trị cao như tôm và cá ngừ đều giảm
mạnh, chuyển hướng nhiều sang các sản phẩm có giá trị thấp như bạch tuộc, mực ống
và cá thịt trắng, giúp cho lượng xuất khẩu các loại sản phẩm này vẫn giữ được đà tăng
trưởng. Và đặc biệt sản phẩm cá tra và cá ba sa đã được người tiêu dùng không chỉ tại
Mỹ ưa chuộng mà ngày càng thể hiện rõ ưu thế tại thị trường các nước trong khối EU.
Năm 2009, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tiếp tục gặp phải nhiều vụ kiện bán phá
giá và một số sự cố về chất lượng tại thị trường Italia và Ai Cập, hình ảnh con cá tra
của Việt Nam bị giới truyền thông của một số nước Châu Âu bôi bẩn cung gây một số
khó khăn nhất định cho việc tiêu thụ mặt hàng này tại một số nước Châu Âu. Sản
lượng xuất khẩu cá tra & basa giảm xuống chỉ còn 608 nghìn tấn đạt kim ngạch 1,357
tỷ USD, giảm 5,6% về lượng và 7,55 về giá trị, chiếm 31,9% tổng giá trị xuất khẩu
thủy sản của cả nước. Ngoài hai sản phẩm chính là tôm và cá đông lạnh xuất khẩu thì
Việt Nam còn xuất khẩu nhiều mặt hàng thủy sản khác như cá biển, cá ngừ, nhuyễn
thể, thủy sản khô, các sản phẩm giá trị gia tăng từ tôm và cá tra & basa.
Bên cạnh những thuận lợi do diễn biến tỷ giá đem lại thì trong 6 tháng đầu năm
2010, các thị trường xuất khẩu cũng có những chuyển biến tích cực cho xuất khẩu cá
tra của Việt Nam. Tại thị trường Mỹ mặc dù bị áp thuế chống bán phá giá nhưng tốc
độ xuất khẩu cá tra vào thị trường này vẫn tăng mạnh và duy trì ở mức cao. Trong
6
th
/2010 xuất khẩu cá tra vào Mỹ đạt giá trị 65,5 triệu USD tăng 10 % so với cùng kỳ
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 12
năm 2009. Bên cạnh đó xuất khẩu mặt hàng này vào Nga cũng rất khả quan khi Nga
xóa bỏ lệnh cấm nhập khẩu đối với cá tra của Việt Nam và xuất khẩu sang thị trường
này đang hồi phục rất nhanh. Trên thị trường thế giới, cá tra Việt Nam vẫn có thế
mạnh gần như độc quyền. Tuy nhiên sản phẩm cá tra xuất khẩu vẫn chủ yếu là phi lê
6t/2010
so với
6t/2009
EU
923.965
1.149.207
1.050.453
515.000
24,4
(8,6)
8,5
Nhật Bản
753.593
830.154
760.725
373.000
10,2
(8,4)
18,7
Mỹ
728.523
738.888
711.149
339.000
1,44
(3,8)
13
Khác
1.363.622
1.791.867
25,5
24,7
25,5
Nhật Bản
20
18,4
17,9
18,5
Mỹ
19,4
16,4
16,73
16,8
Khác
36,05
39,7
40,67
39,2
Tổng
100
100
100
100
Ba khối thị trường xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam là EU, Mỹ, Nhật
Bản chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản hàng năm của Việt Nam. Trong
đó dẫn đầu là thị trường EU. Các thị trường quan trọng khác như Tây Ban Nha, Đức,
Hà Lan, Ý, Nga, Australia, Canada, Đài Loan, Hồng Kông… Ngoài ra, hàng thủy sản
Việt Nam cũng đang bắt đầu thâm nhập vào thị trường mới phát triển như: Đông Âu,
Trung Đông, châu Mỹ La Tinh.
do thiếu nguyên liệu. Nên trong thời gian tới nếu nhà nước và các cơ quan ban ngành
không có những biện pháp hỗ trợ kịp thời cho người nuôi khôi phục sản xuất thì rất có
thể sẽ dẫn đến việc thiếu nguyên liệu trầm trọng
II.CÁC GIẢI PHÁP CẦN CHO CÁC DOANH
NGHIỆP THỦY SẢN
1. Giải pháp về sản xuất nguyên liệu
Tình hình sản xuất nguyên liệu
Chuyện thiếu nguyên liệu của các nhà máy chế biến thủy sản đã xảy ra từ nhiều
năm qua. Khi thủy sản được xuất khẩu, nhiều nhà máy chế biến thủy sản ra đời,
nguyên liệu trong nước nhanh chóng không đáp ứng kịp nhu cầu chế biến.
Theo Sở NN-PTNT tỉnh Cà Mau, do khan hiếm tôm nguyên liệu nên 26 nhà máy
chế biến thủy sản chỉ hoạt động khoảng 50% công suất, thậm chí có lúc công nhân
tạm nghỉ. Tình trạng phát triển nóng khiến sản lượng cá dư thừa, nhà máy ép giá. Dù
Việt Nam gần như độc quyền về xuất khẩu cá tra, nhưng do các doanh nghiệp (DN)
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 15
xuất khẩu, đặc biệt những DN thương mại, muốn giành khách hàng đã giảm giá bán,
nhà nhập khẩu được dịp ép giá.
Giá thức ăn tăng cao, người nuôi đứng trước nguy cơ thua lỗ. Giá cá tra, tôm
nguyên liệu giảm do khủng hoảng kinh tế; người nuôi bỏ hầm, treo ao vì thiếu vốn.
Gần đây, tuy xuất khẩu cá tra có chiều hướng phục hồi nhưng tình hình thả nuôi
trong dân vẫn trầm lắng. Đến thời điểm này, diện tích thả nuôi cá tra mới chỉ đạt
khoảng 1.000 ha mặt nước, thấp hơn 30% diện tích so với cùng kỳ năm trước.
Chi phí thức ăn trong nuôi trồng thuỷ sản chiếm một phần rất lớn trong tổng mức
vốn đầu tư của người nuôi. Việc tăng hay giảm giá thành thức ăn thủy sản sẽ có tác
động trực tiếp đến kết quả từng vụ nuôi.
“Bao giờ chủ động nguồn thức ăn?” Đây là câu hỏi đồng thời cũng chính là sự
mong mỏi của người nuôi thuỷ sản Việt Nam. Một trong những yếu tố giúp ngành
này thành công cần sự vào cuộc của Nhà nước gắn kết các bên, không nên để mỗi bên
mạnh ai nấy làm như hiện nay. Các DN chế biến cần nhanh chóng tăng cường hơn
nữa công tác xúc tiến thương mại, chủ động tìm kiếm thị trường để sản phẩm thủy sản
nhích gần hơn với yêu cầu thị trường trong khu vực và thế giới
-Bên cạnh đó nhà nước cần giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu. Tại hội thảo chiến
lược phát triển thủy sản đến năm 2015 và hướng đến 2020, ông Nguyễn Hồng Cẩn,
nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản (khi chưa nhập vào Bộ NN-PTNT) cho rằng, đến lúc
phải ngồi lại và phân tích những được và mất khi áp dụng mức thuế nhập khẩu nguyên
liệu thủy sản cao như hiện nay và về lâu dài sẽ ảnh hưởng thế nào đến chiến lược phát
triển của ngành thủy sản.
-Để giữ nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu 8%-10%/năm, cần xem việc nhập khẩu
nguyên liệu để chế biến xuất khẩu là một chủ trương nhất quán. Theo các DN chế
biến, Nhà nước cần tạo cơ hội, giúp DN nhập khẩu nguyên liệu để trở thành một trung
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 17
tâm tái chế và sản xuất sản phẩm thủy sản có giá trị gia tăng cao hàng đầu trong khu
vực. Do vậy, Chính phủ cần xem xét điều chỉnh, giảm thuế nhập khẩu thủy sản xuống
0% như nhiều nước trong khu vực. Các cơ quan chức năng tạo điều kiện thuận lợi cho
việc nhập khẩu nguyên liệu thủy sản, đơn giản hóa thủ tục hành chính, ưu tiên thông
quan đối với các lô hàng thủy sản đông lạnh…
Giải pháp cho thức ăn thủy sản: để có thể chủ động nguồn nguyên liệu cho chế
biến thức ăn thuỷ sản, ngoài việc các doanh nghiệp tự đầu tư dây chuyền sản xuất, thì
nhà nước cũng cần đầu tư nguồn vốn cho nông dân để tăng cường hệ thống kho bãi,
phơi, sấy, bảo quản để bảo đảm chất lượng nông sản, cung cấp nguồn nguyên liệu sản
xuất thức ăn chăn nuôi. Việc quy hoạch lại vùng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn
nuôi, trong đó có thức ăn thủy sản cũng cần được tiến hành trên cơ sở tính toán nhu
cầu thực tế… Có như vậy mới góp phần bình ổn thức ăn chăn nuôi, dẫn đến một số
loại nông sản sản xuất trong nước phải bán với giá quá rẻ. Do đó giá thành thức ăn
trễ từ phía các cơ quan nhà nước trong thủ tục đăng ký các giao dịch mà pháp luật đòi
hỏi đã là cản trở không nhỏ đối với doanh nghiệp. Cản trở này vừa làm doanh nghiệp
tăng thêm chi phí, vừa làm cho doanh nghiệp có thể mất cơ hội kinh doanh. Tuy
nhiên, điểm đáng lưu ý nhất là việc tiếp cận đất đai của doanh nghiệp. Đây là lĩnh vực
chứa đựng nhiều bất cập nhất về thủ tục hành chính, tạo ra nhiều chi phí lớn và tốn
kém cho doanh nghiệp. Theo kết quả khảo sát do Viện Khoa học Pháp lý Bộ Tư pháp
thực hiện mới đây thì có 65% doanh nghiệp được phỏng vấn cho rằng thủ tục hành
chính trong lĩnh vực đất đai là bức xúc nhất. Tương tự, có 73,9% doanh nghiệp cho
rằng cần cải tiến thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, tiếp đó là lĩnh vực cấp phép
xây dựng (43,3%) và thuế (39,5%)
Theo qui định của Luật đất đai 2003, doanh nghiệp không được cấp đất mà chỉ
được thuê đất. Thời hạn thuê đất phụ thuộc vào thời hạn của dự án đầu tư. Thuê đất
được thực hiện trên cơ sở hợp đồng thuê, tức là trên cơ sở bình đẳng giữa doanh
nghiệp thuê đất và Nhà nước, người cho thuê đất. Tuy nhiên, trên thực tế, quan hệ về
đất đai giữa Nhà nước và doanh nghiệp không thực sự bình đẳng. Nhà nước đặt ra quá
nhiều thủ tục hành chính và trên thực tế hợp đồng thuê đất không thể phát huy được
tác dụng của nó. Doanh nghiệp khi muốn được đất phải tự (hoặc thuê) đo đạc, xác
định địa giới, thoả thuận địa điểm, lập thiết kế chi tiết, lập dự án đầu tư, đền bù giải
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 19
phóng mặt bằng xong mới được thuê đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Nhiều doanh nghiệp hiện đang trên bờ vực phá sản do những thủ tục như vậy.
Traseco Visal là một ví dụ điển hình. Hành trình với thủ tục hành chính trong 7 năm,
với chi phí hàng tỷ đồng cho các hoạt động khác nhau để có được đất triển khải dự án.
Cho đến nay, công ty này vẫn chưa triển khai dự án đầu tư xây dựng cảng đó được vì
các cấp có thẩm quyền chưa phê duyệt.
3. Chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm
Vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả nước nói chung và của TP nói riêng đang
Nâng cấp chất lượng nguyên liệu thủy sản và giảm giá đầu vào bằng cách trang
bị hệ thống bảo quản ngay trên tàu, xây dựng hệ thống chợ cá tại các cảng cá của các
tỉnh trọng điểm, các trung tâm công nghiệp chế biến và tiêu thụ. Đặc biệt quan tâm tới
việc nuôi trồng thủy sản tạo nguồn nguyên liệu chính cho chế biến vì những sản phẩm
nuôi trồng thường cho chất lượng tốt và số lượng đồng đều hơn sản phẩm đánh bắt,
việc bảo quản trước khi chế biến cũng thuận tiện hơn và giảm bớt rủi ro do vi sinh vật
gây nên.
Tăng cường đổi mới trang thiết bị, hiện đại hoá công nghệ chế biến và bảo
quản thủy sản để đảm bảo chất lượng thủy sản xuất khẩu sang Nhật Bản. Chọn lựa để
nhập khẩu những công nghệ đánh bắt, nuôi trồng và chế biến tiên tiến của Nhật Bản
phù hợp với điều kiện thực tế về nguồn nhân lực và điều kiện tài nguyên thủy sản Việt
Nam.
Nguồn nhân lực cần được đào tạo phù hợp với trình độ công nghệ, nắm vững
và sử dụng tốt máy móc thiết bị hiện đại, có kiến thức và hiểu biết về an toàn vệ sinh
thực phẩm từ khâu sản xuất, thu mua, vận chuyển cho đến bảo quản và chế biến.
Quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản xuất khẩu
Quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau:
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 21
Một là, nuôi trồng thuỷ sản theo hướng phát triển bền vững, gắn với bảo vệ môi
trường sinh thái.
Hai là, nuôi trồng thuỷ sản phải từng bước được hiện đại hoá, phát triển theo phương
pháp nuôi công nghiệp là chính, kết hợp với các phương pháp nuôi khác phù hợp với
điều kiện của từng vùng.
Ba là, hướng mạnh vào phát triển nuôi thuỷ sản nước lợ và nuôi biển, đồng thời phát
triển nuôi nước ngọt.
Bốn là, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nuôi tôm xuất khẩu, đồng thời chú trọng nuôi
trổng thuỷ sản khác phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
trong tương lai.
Các doanh nghiệp cần liên kết, phối hợp nhiều hơn với người nuôi trồng thủy sản để
chủ động nguồn nguyên liệu thủy sản phục vụ chế biến xuất khẩu.
Tiếp đến các doanh nghiệp thủy sản cần tăng cường học tập về pháp luật, thông lệ
mua bán, nét văn hóa của thị trường thâm nhập , các doanh nghiệp cần cùng nhau
hợp tác trên tinh thần cộng đồng để tạo nên sức mạnh tự bảo vệ và tăng sức cạnh
tranh; coi trọng chữ tín, giữ gìn thanh danh để thực hiện chiến lược phát triển lâu dài.
Bởi vì thời gian qua, còn không ít doanh nhân thiếu trung thực trong kinh doanh, thiếu
ý thức đoàn kết đấu tranh với các tệ nạn trong ngành như tệ ngâm, bơm tạp chất vào
nguyên liệu thủy sản
Doanh nghiệp muốn phát triển cần nghiên cứu và nắm vững yêu cầu từng thị trường.
Thí dụ như những gì mà thị trường EU đã chấp nhận đối với hàng thủy sản Việt Nam,
thì đương nhiên WTO cũng chấp nhận, nhất là các quy định về an toàn vệ sinh chất
lượng thủy sản, các mức giới hạn cho phép cũng như quy trình thực hiện; cơ quan
kiểm duyệt về chất lượng thủy sản Việt Nam và điều kiện sản xuất của các doanh
nghiệp. Thủy sản Việt Nam đang xuất khẩu sang các thị trường có điều kiện hơn mình
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 23
về công nghệ, mức sống. Các nhà máy chế biến của Việt Nam đã đáp ứng được yêu
cầu của đối tác.
Để nâng cao sức cạnh tranh thị trường của hàng thủy sản nước ta, Bộ Thủy Sản cần
tập trung làm tốt công tác quy hoạch phát triển; tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu
sản xuất theo hướng đẩy mạnh nuôi, trồng thủy sản làm nguồn chính cung cấp nguyên
liệu sạch cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa; đẩy mạnh cải tiến nghề nghiệp,
công nghệ khai thác và bảo quản sau đánh bắt, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm
phục vụ xuất khẩu. Ngành chủ trương nuôi thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa là
một hướng đi quan trọng nhằm giảm dần khai thác vùng biển gần bờ và chủ động
nguồn nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Theo đó, một số vùng sản xuất hàng hóa theo
Không ngừng tăng phần đóng góp của ngành thuỷ sản vào công cuộc phát triển
kinh tế xã hội đất nước bằng việc tằng cường xuất khẩu, gia tăng thu nhập
ngoại tệ và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Đưa ngành thuỷ sản trở thành một ngành kinh tế được công nghiệp hoá và hiện
đại hoá có luận cứ khoa học chắc chắn cho phát triển thuỷ sản và áp dụng công
nghệ sản xuất hiện đại tiên tiến và thích hợp, nhằm không những tạo ra hiệu
quả kinh tế cao, phát triển những lợi thế so sánh mà còn góp phần đẩy mạnh
quá trình công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước.
Xây dựng một ngành thuỷ sản được quản lý tốt nhằm đạt được sự phát triển ổn
định, bền vững cho hiện nay và trong tương lai. Nguồn lợi hải sản tự nhiên của
Việt nam đã bị khai thác quá mức đối với vùng ven biển và gần bờ, phần gia
tăng sản lượng khai thác chỉ có thể trông cậy vào việc khai thác xa bờ, nhưng
sự khai thác này cũng chỉ có giới hạn do tính hiệu quả không cao. Do vậy
phương án được lựa chọn là chỉ giữ sản lượng khai thác của nước ta ổn định ở
mức 1.200.000 ÷ 1.400.000 tấn, với việc giảm sản lượng khai thác vùng ven
biển và gần bờ đồng thời tăng dần sản lượng khai thác ở các vùng biển xa bờ
để bù đắp số sản lượng bị suy giảm do hạn chế dần việc khai thác gần bờ. Nuôi
trồng thuỷ sản sẽ trở thành ngành sản xuất nguyên liệu chủ yếu và sản lượng
của ngành nuôi trồng phải vươn lên chiếm khoảng 60% tổng sản lượng thuỷ hải
sản trong tương lai.
Quản Trị Doanh Nghiệp Thủy Sản
Châu Văn Mạnh - DH09CT Trang 25 *Phát triển ngành thuỷ sản hướng về xuất khẩu cần tiến hành các hoạt động sau:
Đánh bắt thuỷ sản: để phát triển lâu dài và ổn định nguồn nguyên liệu đánh bắt,
Việt nam cần tăng cường đầu tư vào điều tra có hệ thống các nguồn lợi thuỷ
sản, xây dựng bản đồ phân bố biến động các đàn cá trên các ngư trùng, phát
triển các đội tàu công suất lớn, trnag thiết bị và đào tạo kx thuật đánh bắt cá đại