ĐỀ CƯƠNG MÔN KHOA HỌC TRÁI ĐẤT VÀ SỰ SỐNG
I. Khái quát về hệ Mặt trời và Trái đất; Hình dạng, kích thước của Trái đất;
II. Chuyển động của quanh trục của Trái đất và chuyển động của Trái đất
quanh Mặt trời và các hệ quả của chúng?
III. Khái quát chung về các quyển của Trái đất (khái quát về thạch quyển, khí
quyển, thủy quyển, thổ quyển, sinh quyển và mối quan hệ giữa các quyển);
IV. Hoạt động phong hóa (định nghĩa, các nhân tố ảnh hưởng, các kiểu phong
hóa và vỏ phong hóa);
V.Vai trò của đá gốc (thành phần: độ hạt, hóa học, sinh học đối với đá trầm
tích và biến chất; thành phần hóa học đối với các đá magma) đối với quá trình
hình thành vỏ phong hóa;
VI. Khái quát về biển và đại dương, vai trò của biển và đại dương đối với con
người.
- Sự phân bố của biển và đại dương;
- Điều kiện hải văn (sóng, dòng hải lưu, thủy triều);
- Vai trò của biển và đại dương đối với con người;
- Yếu tố bất lợi: Bão, thay đổi mực nước biển
VII. Khái niệm về thổ quyển, các yếu tố hình thành đất;
- Khái niệm thổ quyển;
- Các nhân tố hình thành đất: Đá mẹ, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật,
con người và thời gian;
VIII. Khái quát về sinh quyển và vai trò của sinh quyển đối với con người
- Định nghĩa sinh quyển;
- Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phân bố sinh vật trên Trái đất
- Thành phần, cấu trúc;
- Vai trò của sinh quyển đối với con người
IX. Vai trò của Trái đất với cuộc sống con người và tác động của con người tới
Trái đất;
Vai trò của Trái đất với cuộc sống con người
- Trái đất là không ian sinh sống của con người;
- Trái đất cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên
lượng khổng lồ, phần lớn phát xạ vào không gian dưới dạng bức xạ điện từ, với
cực đại trong dải quang phổ từ 400 tới 700 nm mà chúng ta gọi là ánh sáng khả
kiến. Cả thái dương hệ đều chịu lực hấp dẫn của mặt trời.
Nguồn gốc: Các hành tinh và các thiên thể được hình thành từ sự suy sụp của một
đám mây phân tử khổng lồ cách đây gần 4,6 tỷ năm.
- Cùng với ánh sáng, Mặt Trời phát ra một dòng liên tục các hạt tích điện (plasma)
gọi là gió Mặt Trời. Dòng hạt này trải rộng ra bên ngoài với vận tốc gần 1,5 triệu
kilômét trên giờ, tạo ra vùng khí quyển loãng (Nhật quyển) thấm vào toàn bộ Hệ
Mặt Trời đến khoảng cách ít nhất 100 AU( AU là đơn vị thiên văn, là khoảng cách
trung bình từ Trái đất đến mặt trời, 1 AU = 160 triệu km).
- Các hành tinh xoay quanh Mặt Trời với những quỹ đạo gần tròn (Elip), dường
như trên cùng mặt phẳng với xích đạo của nó. Các hành tinh có hướng xoay trùng
với hướng tự xoay của Mặt Trời quanh trục của nó.
2. Khái quát về Trái Đất:
- Định nghĩa: Trái Đất là hành tinh thứ ba tính từ Mặt Trời, đồng thời cũng là
hành tinh lớn nhất trong các hành tinh đất đá của hệ Mặt Trời xét về bán kính, khối
lượng và mật độ vật chất. Trái Đất còn được biết tên với các tên "thế giới", "hành
tinh xanh" hay "Địa Cầu", là nhà của hàng triệu loài sinh vật,trong đó có con người
và cho đến nay đây là nơi duy nhất trong vũ trụ được biết đến là có sự sống.
+ Trái Đất có một vệ tinh tự nhiên là Mặt Trăng, nó là vệ tinh tự nhiên lớn nhất
trong số các vệ tinh của các hành tinh đá trong hệ Mặt Trời, mặt trăng gây hiện
tượng thủy triều trên biển.
- Nguồn gốc: Hành tinh này được hình thành cách đây 4,55 tỷ năm và sự sống
xuất hiện trên bề mặt của nó khoảng 1 tỷ năm trước. Kể từ đó, sinh quyển của Trái
Đất đã có thay đổi đáng kể bầu khí quyển và các điều kiện vô cơ khác, tạo điều
kiện thuận lợi cho sự phổ biến của các vi sinh vật ưa khí cũng như sự hình thành
của tầng ôzôn-lớp bảo vệ quan trọng, cùng với từ trường của Trái Đất, đã ngăn
chặn các bức xạ có hại và chở che cho sự sống.
- Hình dạng: Về tổng thể, Trái đất có hình cầu với gần ¾ bề mặt là biển và đại
dương, hơn ¼ là lục địa. Trái đất có hình cầu hơi dẹt ở hai cực Bán kính ở xích
các điểm này ngày và đêm đều dài 12 tiếng đồng hồ cho mọi nơi trên Trái Đất.
- Các mặt phẳng sông song với xích đạo, cắt với bề mặt Trái Đất thành những vòng
tròn song song với xích đạo, được gọi là các vĩ tuyến. Có 5 vĩ tuyến đặc biệt là
Vòng bắc cực- Hạ chí Tuyến- Xích đạo- Đông chí tuyến- Vòng Nam cực.
- Kinh tuyến là một nửa vòng tròn trên bề mặt Trái Đất, nối liền hai Địa cực, có
độ dài khoảng 20.000 km, chỉ hướng bắc-nam và cắt thẳng góc với đường xích
đạo. Mặt phẳng của kinh tuyến 0° (chạy qua đài quan sát thiên văn tại Greenwich
thuộc Luân Đôn) và kinh tuyến 180°, chia Trái Đất ra làm hai bán cầu – Bán cầu
đông và Bán cầu tây. Nếu giờ tại kinh tuyến gốc trong ngày là giữa trưa 12h, thì tại
Hà Nội là 19h tối, bên kia của địa cầu là thành phố New York là 7h sáng.
a. Hậu quả chu kì ngày đêm nhờ trái đất quay quanh trục của nó:
- Do trái đất quay xung quanh mặt trời và trái đất lại quay quanh trục của nó với
góc nghiêng so với mặt phẳng xích đạo là 23 độ 27 phút, do vậy luôn có nửa bán
cầu trái đất được mặt trời chiếu sáng là ban ngày và một nửa được mặt trời chiếu
sáng là ban đêm. Tuy nhiên do trục quay ngiêng và không đổi phương khi chuyển
động quay quanh mặt trời nên độ dài ngày đêm lại khác nhau theo mùa.
b. Hậu quả làm lệch hướng chuyển động
- Do hiện tượng tự quay quanh trục của Trái Đất nên tất cả các vật thể chuyển động
trên bề mặt Trái Đất theo hướng kinh tuyến đều chịu sự lệch hướng, Lực làm các
vật thể chuyển động lệch hướng về bên phải hay bên trái đó được gọi là lực
Côriôlit. Ví dụ như, một vật chuyển động từ xích đạo lên cực bắc sẽ bị lệnh sang
phải theo hướng từ tây sang đông…Do vậy, Lực Côriôlít làm lệch hướng chuyển
động của gió trên Trái đất.
2. Chuyển động quay của trái đất quang mặt trời:
Hướng chuyển động: Tây sang Đông, Quỹ đạo chuyển động: Theo hình Elip, quá
trình chuyển động trục Trái Đất luôn nghiêng một góc 66033’’ so với quỹ đạo
chuyển động. Thời gian chuyển động hết một vòng: 365 ngày 6 giờ. Do vậy,thông
thường cứ một năm lại có 365 ngày, 4 năm liên tiếp sẽ có một năm nhuận, có 366
ngày (tức là tháng 2 có 29 ngày, các năm thông thường tháng 2 có 28 ngày).
a. Hệ quả chuyển động biểu kiến hàng năm của mặt trời:
tạo đá và vỏ phong hóa do phá hủy đá.
- Đặc trưng phân biệt của thạch quyển không phải là thành phần của nó mà là các
thuộc tính về sự trôi dạt của nó. Dưới ảnh hưởng của các ứng suất dài hạn và
cường độ thấp gây ra các chuyển động kiến tạo địa tầng, thạch quyển phản ứng về
cơ bản như là lớp vỏ cứng, trong khi quyển astheno (quyển mềm) có tác động như
là một lớp chất lỏng có độ nhớt nhẹ. Cả lớp vỏ và tầng trên của lớp phủ trôi trên
quyển mềm có "độ dẻo" cao hơn.
- Độ dày của thạch quyển dao động từ khoảng 1,6 km ở các sống lưng giữa đại
dương tới khoảng 130 km gần lớp vỏ đại dương cổ. Độ dày của mảng thạch quyển
lục địa là khoảng 150 km.
2. Thổ quyển: Lớp ngoài cùng của thạch quyển bị biến đổi tự nhiên dưới tác
động tổng hợp của nước, không khí, sinh vật.
* Đặc điểm hình thái của đất:
- Phẫu diện đất là mặt cắt thẳng đứng từ bề mặt đất xuống tầng đá mẹ. Các loại
đất khác nhau có độ dày và đặc trưng phẫu diện khác nhau. Phẫu diện đất là hình
thái biểu hiện bên ngoài phản ánh quá trình hình thành, phát triển và tính chất của
đất. Gồm có lớp đất mặt/ hay tầng mặt trên cùng (để canh tác), đến lớp đất bên
dưới, lớp mẫu chất và cuối là lớp đá mẹ.
- Thành phần của đất: Chất rắn: Vô cơ (khoáng sét), hữu cơ (mùn). Chất lỏng :
nước hoặc dung dịch đất. Khí: CO2 , O2, N2…
- Sa cấu đất: thành phần cơ giới đất ( hay chính là các thành phần các vật thể rắn
vô cơ), sa cấu đất đề cập đến các tỷ lệ khác nhau của ba loại hạt: cát, thịt và sét
trong một loại đất nào đó. Thành phần hạt sẽ xác định kích thước và số lượng các
lỗ hổng giữa các hạt, mà sẽ là nơi được nước hoặc không khí chiếm giữ.
+ Các hạt được phân định dựa theo đường kính (D) hạt như sau: Cát: 0.2 mm > D
> 0.02mm, Thịt: 0.02mm > D > 0.002mm, Sét: 0.002 mm > D.
- Cơ cấu đất (cấu trúc đất) đề cập đến sự sắp xếp hoặc tập hợp các loại đất khác
nhau. Các hạt đất này được dính kết nhau nhờ các keo sét và hữu cơ, tạo thành các
tập hợp đất có cơ cấu lớn, nhỏ khác nhau. Đất có thể có các dạngcow cấu chính
biến đổi thường xuyên, vạn vật sinh sôi nảy nở.
- Độ thấm của nước trong đất phụ thuộc vào kích thước hạt đất có tạo được nhiều
lỗ trống cho nước thấm qua không.
- Các đới nước dưới đất , giao động của thủy cấp và sự di chuyển nước dưới đất.
- Hố tử thần và sự xâm nhập mặn, sự thu hẹp của nước ngầm do con người
khai thác quá mức.
- Hiện tượng sóng, hải lưu, thủy triều và El Nino và La nila.
4. Khí quyển: Khí quyển là một lớp khí bao bọc xung quanh bề mặt Trái Đất, và
nó được giữ lại bởi tác dụng của trọng lực. Khí quyển có thể được giữ trong thời
gian dài hơn nếu trọng lực lớn và nhiệt độ khí quyển thấp. Bầu khí quyển đóng vai
trò rất quan trọng trong việc bảo đảm sự sống trên Trái Đất.
- Thành phần:
- Cấu tao:
Bầu khí quyển được chia ra làm rất nhiều tầng. Mỗi tầng lại có những đặc
điểm rất khác nhau và đều có vai trò quan trọng đối với sự sống trên trái đất.
a. Tầng đối lưu
Chiếm 70% khối lượng khí quyền.
Độ cao: tùy thuộc vào vị trí địa lí, vĩ độ. Ví dụ như ở hai cực là 8km, còn ở
xích đạo là 18km.
Thành phần chính: N2, O2, CO2, hơi nước.
Càng lên cao, nhiệt độ càng giảm. Cứ lên thêm 100m nhiệt độ lại giảm 0,6
độ. Ở vị trí cao nhất, nhiệt độ xấp xỉ -56 độ C.
Có sự di chuyển liên tục của các khối khí đối lưu. Điều này khiến cho thành
phần khí của tầng đối lưu khá là ổn định, đồng thời tạo ra nhiều hiện tượng
thời tiết khác nhau.
=> Quyết định khí hậu trái đất.
Đỉnh tầng đối lưu
Nhiệt độ rất thấp (-56 độ).
Nhiệt độ tăng theo độ cao.
Ảnh hưởng của bức xạ mặt trời khiến các phân tử bị tách ra thành nhiều loại
ion khác nhau. Vì vậy nên tầng này có tên là tầng điện li.
Các sóng vô tuyến đến tầng này sẽ bị phản xạ trở lại bởi các ion. Điều này
được ứng dụng trong việc thu bắt sóng vô tuyến.
e. Tầng ngoài
500-1000 đến 10.000 km.
Là vùng quá độ giữa khí quyển trái đất với khoảng không vũ trụ.
Không khí rất loãng và nhiệt độ rất cao.
Chú ý: (i): Hiệu ứng nhà kính (CO2).
(ii): sự hình thành khí áp và gió
(iii) Bão và áp thấp
5. Sinh quyển:
- Định nghĩa: là nơi có các điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sống phát
triển. Sinh quyển thường được hiểu gắn liền với Trái Đất. Sinh quyển của
Trái Đất bao gồm các loài động vật, thực vật, vi khuẩn, nấm, từ sinh vật
đơn bào nguyên thủy đến đa bào tiến hóa cao.
- Các khái niệm:
+ Hệ sinh thái là một hệ thống mở hoàn chỉnh, bao gồm tập hợp các quần
xã sinh vật và khu vực sống của sinh vật còn được gọi là sinh cảnh.
+ Quần thể: Quần thể (tiếng Anh: population) là một tập hợp các cá thể
thuộc cùng một loài hay dưới loài sinh sống trong một sinh cảnh nhất định.
Chúng cách ly tương đối với các cá thể thuộc quần thể khác cùng loài. Đối
với những loài sinh sản hữu tính thì quần thể loài đó phải có khả năng sinh
sản ra con cái, còn với những loài sinh sản vô tính thì không cần khả năng
đó.
+ Loài là một nhóm các cá thể sinh vật có những đặc điểm sinh học tương
đối giống nhau và có khả năng giao phối với nhau và sinh sản ra thế hệ
tương lai.
+ Sinh vật đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành đất
+ Sinh quyển ảnh hưởng đến thủy quyển
IV. Hoạt động phong hóa (định nghĩa, các nhân tố ảnh hưởng, các kiểu phong
hóa và vỏ phong hóa);
1. Định nghĩa: Phong hóa là quá trình phá hủy đá, đất và các khoáng vật chứa
trong đó khi tiếp xúc trực tiếp với môi trường không khí.
- Phong hóa được chia thành hai loại chính: Phong hóa vật lý ( do thay đổi nhiệt
độ, hoạt động đông giá, do tác động của động vật, thực vật, tróc vỏ hóa mòn) và
Phong hóa hóa học ( do hoạt động của nước, không khí, các phản ứng hòa tan,
hidrat, Oxi hóa, thủy hợp…).
- Khoáng vật: khoáng vật là vật thể tự nhiên, vô cơ, rắn, đồng nhất, có thành phần
hoá học xác định nhưng không cố định, có cấu trúc bên trong riêng biệt được thể
hiện qua hình thù và các tính chất vật lý đặc trưng.
- Nguyên tử/ion → hợp chất → khoáng vật→ đá.
2. Nhân tố ảnh hưởng: Khí hậu và nhiệt độ, thạch học , tỷ lệ diện tích bề mặt tiếp
xúc và thời gian.
3. Các Kiểu phong hóa
a. Phong hóa vật lý: Phong hoá vật lý là sự vỡ vụn của các loại đá thành các hạt
cơ giới có kích thước khác nhau nhưng chưa có sự thay đổi về thành phần khoáng
vật, thành phần hoá học của các đá ban đầu.
- Nguyên nhân gây nên việc phá vỡ khoáng vật và đá là do sự thay đổi của nhiệt
độ, áp suất và sự tác động của các hoạt động địa chất ngoại lực như nước chảy, gió
thổi xảy ra trên bề mặt vỏ Trái Ðất.
- Sự thay đổi nhiệt độ làm cho các khoáng vật có trong đá bị giãn nở không đều
dẫn đến kết quả đá bị vỡ ra. Các khoáng vật khác nhau có hệ số giãn nở rất khác
nhau. Một loại đá được cấu tạo bởi nhiều khoáng vật khác nhau, do đó nhiệt độ
thay đổi các khoáng vật co giãn không giống nhau làm đá bị vỡ vụn. Như vậy
thành phần khoáng vật của đá càng nhiều thì đá càng dễ bị vỡ vụn. Những đá cấu
Ví dụ: CaSO4 >CaSO4.2H2O
Anhyđri Thạch cao
Fe2O3 >Fe2O3.nH2O
Hêmatít Limonit
+ Quá trình hoà tan: Là quá trình các khoáng vật và đá bị hoà tan trong nước.
Hầu như tất cả các khoáng vật và bị hoà tan trong nước, nhưng mạnh nhất là đá các
khoáng vật của lớp cácbônát và lớp muối mỏ.
Ví dụ: CaCO3 (đá vôi) bị hoà tan như sau:
CaCO3 + H2O + CO2 > Ca(HCO3)2
Các khoáng vật và đá bị hoà tan tạo thành các dung dịch thật.
+ Quá trình sét hoá: Các khoáng vật silicat, nhôm silicat do tác động của H2O,
CO2 sẽ bị biến đổi tạo thành các khoáng sét (keo sét). Các chất kiềm và kiềm thổ
trong khoáng vật bị H+ chiếm chỗ trong mạng lưới tinh thể được tách ra dưới dạng
hoà tan. Như vậy thực chất của quá trình sét hoá là các quá trình hoà tan, hyđrát
hoá chuyển các khoáng vật silicát, nhôm silicat thành các khoáng vật thứ sinh, các
muối và oxýt.
Ví dụ: K2Al2Si6O16 + H2O + CO2 > H2Al2Si2O8.2H2O + K2CO3+
SiO2.nH2O
Fenspatkal(orthoclaz) Kaolini Ôpan
c. Phong hoá sinh học:Hoạt động của sinh vật bậc thấp, bậc cao cũng tham gia
phá huỷ các khoáng vật và đá. Rễ cây xuyên vào các khe nứt hút nước và các chất
khoáng, theo thời gian, rễ to dần phá vỡ đá. Mặt khác rễ cây tiết H2O và CO2 tạo
H2CO3 để hoà tan đá và khoáng vật. Khi chết xác sinh vật bị phân huỷ sinh ra các
axit hữu cơ góp phần hoà phong hoá sinh học là phong hoá vật lý và hoá học do sự
tác động của sinh vật lên khoáng vật và đá. Cũng trong quá trình này mẫu chất
được tích luỹ chất hữu cơ do xác sinh vật để lại sau khi chết, làm cho mẫu chất
xuất hiện những thuộc tính mới được gọi chung là độ phì và mẫu chất biến đổi
thành đất. Nhà khoa học nổi tiếng người Nga Vecnatxki cho rằng: "Hoạt động hoá
học của vỏ Trái Ðất, gần 99% có liên quan tới quá trình sinh hoá học".
- Con người cũng tác động mạnh mẽ quá trình phong hóa, như hoạt động khai thác
+ Vỏ phong hoá trầm tích
Sản phẩm phong hoá di chuyển theo dòng nước chảy hay cuốn theo gió thổi,
được tích luỹ lại khi gặp các điều kiện thuận lợi tạo thành vỏ phong hoá trầm tích.
Vỏ phong hoá trầm tích có các loại sau:
- Vỏ phong hoá trầm tích Sialit: chủ yếu là sét, các keo sét, ngoài ra còn có
limon cát. Khoáng vật nguyên sinh có thạch anh, Fenspat.
- Vỏ phong hoá cacbonat - Sialit: Thành phần giống vỏ phong hoá trầm tích
Sialit nhưng có chứa một lượng CaCO3 nhất định.
- Vỏ phong hoá Clorua, Sunphát, Cacbonát - Sialit: Thành phần giống 2 loại
vỏ phong hoá trầm tích Sialít, Cacbonat - Sialít và có chứa thêm các muối Clorua
Sunphát của các chất kiềm và kiềm đất.
Theo viện sĩ Pôlưnốp có 3 loại mẫu chất là tàn tích (êluvi), sườn tích
(đêluvi) và phù sa (aluvia). Tàn tích là sản phẩm phong hoá tích đọng tại chỗ ngay
trên đá gốc, thường bị rửa trôi và xói mòn mạnh. Sườn tích là sản phẩm phong hoá
bị cuốn trôi từ trên đỉnh đồi, đỉnh núi xuống tích tụ ở sườn hay chân đồi, núi. Do
vậy sườn tích còn gọi là sản phẩm dốc tụ. Phù sa là sản phẩm tích đọng từ các sản
phẩm được cuốn trôi do dòng nước chảy, thành phần phù sa phức tạp và khác xa so
với đá gốc.
+ Vỏ phong hoá ở Việt Nam
Theo V.M.Fritland, Việt Nam có các loại vỏ phong hoá sau:
- Vỏ phong hoá Feralit: Phổ biến ở vùng trung du và núi thấp, các khoáng
vật thứ sinh chủ yếu là Kaolinit, gipxit, gơtit. Trên vỏ phong hoá này hình thành
nên nhóm đất Feralit - đất đỏ vàng ở nước ta.
- Vỏ phong hoá alit: gặp ở vùng núi cao từ 1700m trở lên, điển hình nhất là
ở độ cao > 2000m. Khí hậu ẩm ướt, sắt bị rửa trôi mạnh nhưng nhôm được tích luỹ
do không bị rửa trôi như sắt.
- Vỏ phong hoá Macgalit - Feralit: Gặp ở Phủ Quỳ Nghệ An trên đá bọt
bazan
- Vỏ phong hoá trầm tích Sialit: Gặp ở các vùng đồng bằng tạo bởi quá trình
lắng đọng phù sa của hệ thống sông ngòi nước ta. Thành phần là các loại keo sét,
phá huỷ biến đổi
Ðá → mẫu chất → Ðất
1. Đặc điểm đá trầm tích trong quá trình phong hóa: (…)
VI.1. Sự phân bố biển và đại dương:
- Đại dương là một vùng lớn chứa nước mặn tạo thành thành phần cơ bản của thủy
quyển. Khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất (khoảng 361 triệu kilômét vuông)
được các đại dương che phủ, một khối nước liên tục theo tập quán được chia thành
một vài đại dương chủ chốt và một số các biển nhỏ.
- Độ mặn trung bình của đại dương là khoảng 35 phần ngàn (ppt) (3,5%) và gần
như mọi loại nước biển có độ mặn dao động trong khoảng từ 30 (ở vùng cận cực)
tới 38 ppt (vùng nhiệt đới/cận nhiệt đới).
- Nhiệt độ nước bề mặt ở ngoài khơi là 29 °C (84 °F) ở vùng ven xích đạo xuống
đến 0 °C (32 °F) ở các vùng địa cực.
- Có 5 đại dương trên thế giới, trong đó Thái Bình Dương là lớn nhất và sâu nhất,
thứ hai về diện tích và độ sâu là Đại Tây Dương, tiếp theo là Ấn Độ Dương, Nam
Đại Dương còn nhỏ và nông nhất là Bắc Băng Dương. Ngoài ra, Các khu vực nhỏ
hơn của đại dương được gọi là các biển, vịnh hay một số các tên gọi khác. Cũng
tồn tại một số khối nước mặn nhỏ hơn trong đất liền và không nối với Đại dương
thế giới, như biển Aral, Great Salt Lake (Hồ Muối Lớn) – mặc dù chúng có thể coi
như là các 'biển', nhưng thực ra chúng là các hồ nước mặn.
- Mực nước càng sâu, nhiệt độ càng giảm và áp lực nước càng tăng.
2. Điều kiện hải văn (sóng, dòng hải lưu, thủy triều)
a. Sóng:
- Sóng biển là các sóng bề mặt xuất hiện tại tầng trên cùng của biển hay đại dương.
Chúng thường được tạo ra do tác dụng của gió, nhưng đôi khi cũng do các hoạt
động địa chấn, và có thể lan truyền hàng nghìn kilômét. Độ cao của sóng có thể
chỉ nhỏ cỡ chục xentimét nhưng cũng có thể lớn tới cỡ sóng thần. Các phân tử
nước biển tham gia vào chuyển động sóng chỉ xoay vòng tại chỗ và có ít chuyển
động tịnh tiến theo hướng lan truyền của sóng; tuy rằng một lượng năng lượng lớn
có thể được lan truyền theo sóng.
quay quanh trục của nó, cũng như là Mặt Trăng không hoàn toàn quay quanh Trái
Đất, mà là: Hệ Quả Đất-Mặt Trăng quay xung quanh điểm trọng tâm của hệ này.
Do khối lượng của Trái Đất lớn hơn của Mặt Trăng rất nhiều nên trọng tâm của hệ
Trái Đất-Mặt Trăng nằm trong lòng Trái Đất, trên đường nối tâm của chúng. Tóm
lại: Trái Đất vừa quay, vừa lắc.
- Thủy triều đạt cực đại khi mà cả Mặt Trăng và Mặt Trời cùng nằm về một phía
so với Trái Đất, và mức triều phía đối diện lúc đó sẽ xuống điểm cực tiểu.
3. Vai trò của biển và đại dương đối với con người:
- Đại dương là kho dự trữ vĩ đại của những khoáng sản có ích, tài nguyên sinh
học, năng lượng cũng như những nguyên liệu dùng trong công nghiệp hóa học và
dược phẩm, có thể cung cấp những chất thay thế những tài nguyên ngày càng bị
cạn kiệt trên đất liền.
- Dầu mỏ và khí đốt: có trong lòng đại dương. Vào những năm 1940-1950, dự
đoán trữ lượng dầu mỏ và khí đốt là 55 tỉ tấn (quy ra dầu mỏ), đến năm 1960, con
số này đã lên tới 207 tỉ, tới năm 1971 là 300 tỉ và đến 1975 là 400 tỉ.
Ngoài ra còn có những khoáng sản quý giá như ilmênit (oxyt tự nhiên của sắt và
titan), rutil (oxyt titan), cassitêrit (oxyt thiếc), oxyt sắt từ magnétit, platin, kim
cương… với trữ lượng không thua trên đất liền và than với trữ lượng dự báo nhiều
hơn trên đất liền 900 lần.
- Sóng biển, năng lượng thủy triều, sự chênh lệch nhiệt, các dòng hải lưu đều
chứa một dự trữ năng lượng to lớn. Hiện nay, nhiều nước đã tích cực khai thác các
nguồn dự trữ có trong nước biển như muối, sulfat, natri, kali, brôm, Mg, iod…
- Biển là nơi cung cấp nguồn hải sản khổng lồ như rong, tảo, cá, tôm và nhiều đặc
sản quý như đồi mồi, ngọc trai, san hô, yến sào cung cấp 43% sinh giới. Trong
nước biển có muối và nhiều khoáng chất dạng muối. Biển cung cấp cát và nhiều
hóa chất trong cát. Dầu mỏ và khí đốt khai thác được ở biển rất nhiều. Biển cung
cấp năng lượng gió, thủy triều. Biển là con đường giao thông vận tải có ý nghĩa to
lớn. Khối lượng vận tải qua biển lớn hơn bất kỳ phương tiện nào khác trên không
và trên lục địa.
gió và hơi nước mạnh lên sẽ hình thành bão nhiệt đới. Nên ấp thấp là cấp độ trước
của bão nhiệt đới, có cùng quá trinh hình thành.
- Sự khác biệt giữa áp thấp nhiệt đới và bão nhiệt đới được phân biệt theo cấp gió.
- Theo sự phân chia cấp gió từ 0 tới 12:Khi gió xoáy mạnh từ cấp 6-7 được gọi là
áp thấp nhiệt đới.
* Tác hại: Mang theo gió lớn, lốc xoáy gây đổ,xập nhà cửa, cây cối và các công
trình con người xây dựng,với lượng mưa lớn gây lũ lụt tại đồng bằng, lũ quét,
lũ ống tại địa phương miền núi và trung du, tại vùng ven biển gây nước biển
và song biển dâng cao gây vỡ đê, sạt lở đất… Nói tóm lại biển và áp thấp nhiệt
đới gậy thiệt hại to lớn về người và của, cộng với tác động xấu với môi trường
và tự nhiên.
b. Nước biển dâng: Mực nước biển đang dâng với tốc độ trung bình là 1,8
mm/năm trong thế kỷ qua, và gần đây, trong kỷ nguyên sử dụng vệ tinh đo độ cao
để xác định mực nước biển, từ năm 1993 đến 2000, mực nước biển đã dâng vào