Chính sách ngoại giao Việt Nam- Trung Quốc năm 1979 - Pdf 10

[1]

Tiểu luận
Chính sách ngoại giao Việt Nam- Trung
Quốc năm 1979
MỤC LỤC
TÓM TẮT 3
[2]

LỜI MỞ ĐẦU 4
1. Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến Việt Nam – Trung Quốc 1979 5
2. Chính sách của Trung Quốc và Việt Nam trong cuộc chiến. 10
3. Hệ quả của cuộc chiến. 14
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Bảng chấm điểm các thành viên 19
[4]

LỜI MỞ ĐẦU
Với bất cứ một cuộc chiến tranh nào thì nguyên nhân dẫn đến chiến tranh đều
là vấn đề gây bàn cãi nhiều nhất. Thường thì nguyên nhân dẫn đến chiến tranh bao
gồm một loạt các nguyên nhân khác nhau nhưng tổng hợp lại thì cũng chỉ có một
nguyên nhân chủ yếu là va chạm về mặt lợi ích. Lợi ích ở đây bao gồm lợi ích của hai
bên trực tiếp tham chiến là Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, do giới hạn độ dài
của bài viết nên chung tôi tập trung xung quanh các câu hỏi liên quan đến lợi ích của
hai bên Việt Nam và Trung Quốc. Va chạm về mặt lợi ích khiến cho cuộc chiến tranh
Việt Nam – Trung Quốc xảy ra như thế nào? Yếu tố lợi ích tác động đến việc Trung
Quốc tấn công rồi tự rút quân và phản ứng của Việt Nam ra sao với cuộc chiến này.?
Cuối cùng là hệ quả của cuộc chiến trong cuộc chiến này như thế nào?

nhanh năm 1975. Lợi ích của Trung Quốc là Việt Nam đủ mạnh để đánh lâu dài với

1
Vũ Khoan, “An ninh, phát triển và ảnh hưởng trong hoạt động đối ngoại”, tạp chí Nghiên cứu quốc tế tháng
12/1993.

[6]

Pháp, Mĩ nhằm lôi kéo Việt Nam vào cuộc tranh giảnh ảnh hưởng với Liên Xô,
nhưng không thống nhất để trở thành một thách thức với Trung Quốc. Sau khi kí kết
hiệp định Paris, TQ không thể sử dụng vấn đề Việt Nam phục vụ cho chiến lược của
mình, và vấn đề Việt Nam cũng không còn có ý nghĩa gì đối với lợi ích chiến lược của
Trung Quốc. Lợi ích của hai nước không còn trùng hợp như trước, hơn nữa lại còn
hoàn toàn đối lập nhau trong thái độ đối với Liên Xô nên chính sách của Trung Quốc
đối với Việt Nam nhanh chóng thay đổi: từ hữu nghị, ủng hộ sang kiềm chế cả làm
suy yếu ảnh hưởng của Việt Nam
2
Đặc biệt khi Việt Nam kí hiệp ước Hợp tác hữu
nghị đặc biệt, toàn diện với Lào năm 1977 và đưa quân vào Campuchia năm 1978 thì
tham vọng bá quyền của rung Quốc trong khu vực Đông Nam Á bị ảnh hưởng lớn.
Trung Quốc muốn sử dụng Khmer Đỏ như một con bài để đưa ảnh hưởng của họ vào
khu vực Đông Nam Á. Khi Việt Nam lật đổ chế độ do Trung Quốc xây dựng nên,
Trung Quốc lo ngại rằng Việt Nam cũng muốn trở thành một bá quyền trong khu vực,
cạnh tranh trực tiếp với Trung Quốc.
Như vậy, vì lơi ích ảnh hưởng , Trung Quốc đã tiến hành một cuộc chiến tranh
với Việt Nam. Đúng như lời tuyên bố của Đặng Tiểu Bình khi tiến hành cuộc chiến
này là nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học”, “đánh cho người ta xem”. Bài học mà
Trung Quốc muốn dạy cho Việt Nam là bài học về bá quyền: Việt Nam muốn bá
quyền ở Đông Nam Á thì phải tính đến vai trò của Trung Quốc. Cuộc chiến tranh đó
về thực tế không phải giúp Trung Quốc xâm lược Việt Nam, mở rộng bá quyền một

cận ngay bên cạnh, đồng thời còn giúp Liên Xô mở rộng ảnh hưởng xuống khu vực
Đông Nam Á sau khi Mĩ rút đi. Cả 2 yếu tố này đều đe dọa một cách nghiêm trọng
đến mục đích tập hợp lực lượng nhằm bá quyền trong phạm vi khối XHCN nói riêng
và trên toàn thế giới nói chung của Trung Quốc.
Xét về mặt lợi ích ảnh hưởng thì còn có một nguyên nhân khác mặc dù không
va chạm trực tiếp lợi ích của Việt Nam nhưng lại khiến cho Trung Quốc tiến hành
cuộc tranh này. Đó là cùng một lúc Trung Quốc muốn tác động đến 2 đối tượng trong
cuộc đấu tranh giành bá quyền của họ là Liên Xô và Mỹ. Lãnh đạo Trung Quốc có câu
“đánh cho người ta xem”. “Người ta” ở đây là Liên Xô, Mỹ và các nước phương Tây
và ASEAN. Cuộc chiến sẽ là dịp để Trung Quốc thử phản ứng của Liên Xô và Mĩ
trước cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam. Trung Quốc muốn thách thức khả
năng lãnh đạo khối XHCN của Liên Xô bằng cách xem khả năng trợ giúp quân sự của
Liên Xô cho một nước XHCN đồng minh đến đâu khi liên minh quân sự của họ với

3
King C. Chen, China’s border war with Vietnam, 1979, trang 24
4
Nayan Chanda, Brother Enemy. The War after the War, Harcourt Brace Jovanovich,1986 trang 134

[8]

Việt Nam mới chính thức được thành lập. Bên cạnh đó, cuộc chiến này cũng là một
thông điệp mà Trung Quốc muốn gửi đến Mĩ khi họ vừa mới bình thường hóa cách đó
hơn nửa tháng (1/1/1979). Thông điệp mà Trung Quốc muốn gửi đến người Mĩ là:
Tranh thủ sự tín nhiệm của Mỹ và các nước đế quốc đối với Trung Quốc, cầu mong
các nước đế quốc liên minh chặt chẽ hơn nữa với Trung Quốc, giúp Trung Quốc nhiều
hơn để thực hiện kế hoạch bốn hiện đại hóa hòng nhanh chóng ngoi lên địa vị cường
quốc siêu đẳng, chống lại Việt Nam, Liên Xô, các trào lưu cách mạng thế giới (đánh
giá của Chính phủ trước Quốc hội tháng 5 năm 1979). Chỉ một cuộc chiến thôi mà
Trung Quốc nhắm đến cùng một lúc 3 đối tượng trong cuộc đấu tranh giành ảnh

vào tình thế “lưỡng đầu thọ địch” khi xảy ra chiến tranh với Việt Nam hoặc Liên Xô.
6

Lợi ích an ninh bị đe dọa khiến cho Trung Quốc tiến hành cuộc chiến này và gọi đó là
cuộc “phản công tự vệ”. Mặc dù Trung Quốc tấn công Việt Nam một cách chủ động
nhưng họ vẫn sử dụng thuật ngữ này vì trong tính toán của họ, việc tấn công Việt Nam
sẽ giúp họ giảm bớt được một mối đe dọa an ninh ngay bên cạnh .

Mặt thứ ba là lợi ích về mặt phát triển. Năm 1979 là năm bắt đầu quá trình cải
cách nền kinh tế của Trung Quốc sau khi Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 3
Khóa 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 12/1978 quyết định chuyển trọng tâm
công tác sang xây dựng hiện đại hóa đất nước Trung Quốc. Vào năm 1979, cuộc cải
cách đó mới chỉ bắt đầu diễn ra và nền kinh tế Trung Quốc vẫn đang ở trong tình trạng
cực kì khó khăn. Thêm nữa, trong nội bộ Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng còn nhiều
ý kiến chưa đồng tình với cuộc cải cách này. Những người đứng đầu Đảng Cộng Sản
Trung Quốc mà đứng đầu là Đặng Tiểu Bình cần có một cú hích để thống nhất ý kiến
trong toàn Đảng, toàn dân vào cuộc cải cách do Đặng Tiểu Bình khởi xướng.
Có thể khẳng định, yếu tố lợi ích của Trung Quốc là nguyên nhân chính gây ra
cuộc chiến tranh này. Tuy nhiên, xét về mặt chiến lược, việc thực hiện chính sách đối
ngoại có phần sai lầm của Việt Nam cũng là một trong những nguyên nhân gây nên
cuộc chiến với người Trung Quốc. Chính những nhà lãnh đạo của Việt Nam cũng thừa
nhận sai lầm của mình trong nghị quyết 13 của Bộ chính trị năm 1988. Nghị quyết có
ghi: Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta sau khi giải phóng miền nam, cả nước
thống nhất, đi lên CNXH là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây

5
Bruce Elleman, Sino-Soviet Relations and the February 1979 Sino-Vietnamese Conflict
6
François Joyaux, La Tentation impériale - Politique extérieure de la Chine depuis 1949, 1994, trang 240
[10]


7
Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-2004), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2003,

[11]

Trung Quốc rút ngay sau khi Quân đoàn 2 được triển khai ở biên giới phía Bắc đã cho
thấy: họ không cần phải tiêu diệt chủ lực của Việt Nam mà mục đích chính là dàn
mỏng lực lượng của Việt Nam. Thêm nữa, mặc dù quân Trung Quốc rút về nhưng mối
đe dọa từ họ vẫn là không nhỏ, Việt Nam vẫn phải cảnh giác với nguy cơ an ninh từ
phía Bắc. Bên cạnh đó, nền kinh tế, xã hội của Việt Nam cũng rơi vào tình trạng sa sút
do phải phục vụ thêm một cuộc chiến. Tất cả các yếu tố nêu trên khiến cho việc Việt
Nam muốn vươn lên bá quyền trở thành bất khả thi cả về yếu tố quân sự lẫn kinh tế.
Về mục tiêu thử sức mạnh của Liên Xô, Trung Quốc cũng đã thành công khi
cho thế giới thấy rằng, Liên Xô kí Hiệp ước tương trợ quân sự với Việt Nam nhưng lại
không giúp đỡ được đồng minh của mình. Lúc đó, những động thái của Liên Xô trước
việc Trung Quốc tấn công Việt Nam là rất yếu ớt. Liên Xô không mở một cuộc tấn
công vào phía Bắc Trung Quốc như nội dung Hiệp định. Liên Xô chỉ kịp điều một số
máy bay vận tải quân sự để Việt Nam chuyển quân từ Campuchia về phía Bắc, cung
cấp vũ khí cho quân đội Việt Nam nhưng phần lớn lại đến sau khi Trung Quốc đã rút
quân. Qua đó, Trung Quốc đã hạ thấp được hình ảnh tốt đẹp của Liên Xô như là người
“anh cả của khối XHCN”, “sẵn sàng giúp đỡ các nước XHCN anh em” và tất nhiên, tự
nâng cao vị thế của Trung Quốc khi hình ảnh của Liên Xô bị lu mờ.
Cuộc chiến 3 tuần này cũng đủ để Trung Quốc gửi lời thông điệp đến người Mĩ
, các nước phương Tây, phục vụ công cuộc hiện đại hóa và thiết lập quan hệ chiến
lược của Trung Quốc nhằm đối trọng với Liên Xô. Thời gian cũng đủ dài để thị uy về
sức mạnh của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á khi mà trước cuộc chiến này,
Đặng Tiểu Bình đã có chuyến công du các nước Đông Nam Á và bóng gió về một
chiến chống Việt Nam. Thực chất đây là chiêu “rung cây dọa khỉ” của Trung Quốc
nhằm phô trương ảnh hưởng của họ ở khu vực này.

chiến mới nổ ra.
Về mặt lãnh đạo, mặc dù tình hình đã hết sức căng thẳng trước đó nhưng
dường như giới lãnh đạo vẫn chưa biết được Trung Quốc sẽ tấn công như thế nào. Thủ
tướng và tổng tham mưu trưởng của Việt Nam vẫn ở Campuchia khi quân Trung
Quốc ồ ạt vượt qua biên giới Trung-Việt. Khó có thể hi vọng vào một sự chỉ đạo kịp
thời trong một tình huống như vậy. Ngay cả sau này, khi nhận thấy sự cần thiết phải
[13]

điều động quân đội từ Campuchia về, phía Liên Xô cũng gặp rất nhiều khó khăn để có
thể bắt liên lạc và xin chỉ thị từ các đồng chí của Việt Nam.
8

Lực lượng quân đội của Việt Nam đối phó với Trung Quốc cũng khá mỏng, lúc
đó chỉ có các lực lượng dân quân, du kích và các chủ lực của quân khu I và II làm
nhiệm vụ phòng ngự. Những phản ứng tiếp theo của Việt Nam với cuộc chiến của
Trung Quốc khá chậm chạp. Ngoài việc điều động quân từ Campuchia về thì đến tận
ngày 5/3/1979, đúng ngày Trung Quốc rút về thì Việt Nam mới ban bố lệnh Tổng
động viên trong toàn quốc. Trong thời gian Trung Quốc tấn công, Việt Nam mới
thành lập vội vàng một số đơn vị quân đội như Quân đoàn 5 trực thuộc quân khu 1,
Quân khu Thủ Đô vào các ngày 3 và 5 tháng 3/1979.
9
Hay tận ngày 3/3/1979, Bộ
chính trị mới ra nghị quyết 16 về “cuộc kháng chiến chống bọn phản động Trung
Quốc xâm lược”
10

Sự chậm trễ của Việt Nam đến từ 2 nguyên nhân: (1) Yếu tố ý thức hệ trong tư
duy của các nhà lãnh đạo Việt Nam còn sâu sắc. Có thể nhân thấy rõ lợi ích của Trung
Quốc khi tiến hành cuộc chiến tranh này nhưng lúc đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam
dường như chưa nắm được kế hoạch thực sự của người Trung Quốc. Có lẽ còn một số

mối quan hệ với Trung Quốc. Đó là việc Liên Xô tránh đối đầu quân sự trực tiếp với
Trung Quốc, điều rất có thể khiến cho khu vực biên giới giữa họ và Trung Quốc căng
thẳng trong khi họ vẫn phải đối đầu với phương Tây ở phía Tây (Liên Xô muốn tránh
khả năng “lưỡng đầu thọ địch” như Trung Quốc). Đặt trong hoàn cảnh chiến tranh
lạnh đang trong giai đoạn hòa dịu và việc Trung Quốc đang xích dần về phương tây
thì việc Liên Xô tránh đối đầu với Trung Quốc là điểu dễ hiểu. Trong khi đó, các nhà
lãnh đạo Việt Nam còn thụ động, trông chờ vào Liên Xô trong khi quên mất rằng, “tự
cứu lấy mình” là biện pháp đầu tiên khi ứng phó với bất kì một cuộc chiến tranh trong
đời sống quốc tế hiện đại.
3. Hệ quả của cuộc chiến.
Sau khi đã đạt được lợi ích của mình, ảnh hưởng của cuộc chiến với Trung
Quốc là khá tích cực. Mặc dù có thể là một thất bại về mặt quân sự nhưng như lời của
Đặng Tiểu Bình thì Trung Quốc chỉ cần đạt được 70% mục tiêu của mình, 30% còn
lại mặc để dành cho việc hiện đại hóa quân đội. Theo như số liệu trong bài “ Nhìn
nhận lại cuộc chiến năm 1979” của Trương Tiểu Minh thì tác giả có viết: “ Ban đầu
Bắc Kinh thừa nhận là có khoảng 20.000 quân Trung Quốc đã bị tiêu diệt hoặc làm bị
thương trong cuộc xung đột biên giới với Việt Nam. Gần đây những tài liệu mới có
của Trung Quốc cho rằng phía Trung Quốc có 6900 lính bị chết và 15000 bị thương,
tổng số thương vong là 21000 trong tổng số lực lượng tham gia tấn công là hơn
300.000.”
13
Phia Việt nam, Tạp chí Quân đội nhân dân tháng 4 năm 1979 ước lượng
tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người. Thực ra, có rất nhiều tài liệu
trong và ngoài nước đưa ra những con số thương vong của Trung Quốc trong trận
chiến nhưng khó có thể thống kê một cách chính xác và đầy đủ. Song dù thế nào đi

12
New York Times, 22/2/1979, trang A1 và A6
13
Trương Tiểu Minh , “ Nhìn nhận lại cuộc chiến năm 1979”-

chiến khiến cho nhiều cơ sở kinh tế quan trọng của Việt Nam ở các tỉnh biên giới bị

14
“Trung Quốc - Tình hình cơ bản” – Tạp chí Thông tin lý luận
[16]

phá hủy. Mặt khác, cuộc chiến khiến cho Việt Nam buộc phải chuyển từ mục tiêu phát
triển, khôi phục nền kinh tế sau hai cuộc chiến sang mục tiêu an ninh, đề phòng một
cuộc tấn công lần thứ 2 của Trung Quốc. Do đó, Việt Nam buộc phải tăng chi phí cho
quốc phòng khiến cho quốc phòng trở thành một gánh nặng của nền kinh tế. Những
khó khăn của Việt Nam sau chiến tranh có thể được tổng quát tại Kết luận của Hội
nghị Bộ Chính trị (ngày 4-5-1979) về nhiệm vụ kinh tế hai năm 1979-1980 : (1) Đất
nước trải qua hai cuộc chiến tranh Có thiệt hại nhất định, một số thiệt hại có tác
động đến toàn cuộc nền kinh tế quốc dân (như mỏ apatít bị địch phá hoại ). Ta có yêu
cầu mới: khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục vùng bị địch đánh phá. (2) Địch
chưa từ bỏ âm mưu xâm lược Việt Nam, vẫn chuẩn bị chiến tranh chống ta; dùng bọn
tay sai phá ta từ bên trong về chính trị, kinh tế (phá huỷ, bỏ việc, âm mưu bạo loạn,
phao tin ) (3) Ta phải tăng chi về quốc phòng. Tăng viện trợ cho Lào và Campuchia;
đây cũng là công việc của chính chúng ta, vì cách mạng ba nước gắn bó với nhau. (4)
Nguồn ngoại tệ, vật tư nhập từ thị trường tư bản chủ nghĩa bị thu hẹp.
15

Những khó khăn đó, cùng với những sai lầm có tính nghiêm trọng và hệ thống trong
phương thức lãnh đạo và quản lí của Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa Việt Nam vào
một thời kì khủng hoảng nghiêm trọng kéo dài mà chỉ đến đầu thập kỉ 90 thế kỉ 20
mới kết thúc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
King C. Chen, China’s border war with Vietnam, 1979
Nayan Chanda, Brother Enemy. The War after the War, Harcourt Brace
Jovanovich,1986
Trần Văn Đào - Phan Doãn Nam, Giáo trình lịch sử quan hệ quốc tế 1945 -1995
Bruce Elleman, Sino-Soviet Relations and the February 1979 Sino-Vietnamese
Conflict
François Joyaux, La Tentation impériale - Politique extérieure de la Chine depuis
1949, 1994,
Trương Tiểu Minh, “ Nhìn nhận lại cuộc chiến năm 1979”
TASS, 19/2/1979
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 40
New York Times, 22/2/1979
“Trung Quốc - Tình hình cơ bản” – Tạp chí Thông tin lý luận [19]
Bảng chấm điểm các thành viên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status