Lời mở đầu
Sự toàn cầu hoá và hội nhập hoá đã mở ra cho các doanh nghiệp Việt Nam
những cơ hội và thách thức. Trong hơn 15 năm đổi mới Đảng và Nhà nớc đã chủ tr-
ơng chuyển đổi cơ chế quản lý, từ cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trờng.
Mỗi doanh nghiệp trở thành đơn vị kinh tế hoạch toán độc lập. Cơ chế thị trờng buộc
các doanh nghiệp phải tự lo liệu mọi hoạt động sản xuất kinh doanh t việc đầu t vốn,
tổ chức sản xuất kinh doanh đến tiêu thụ sản phẩm. Do đó, để đứng vững trên thị tr-
ờng doanh nghiệp không thể không xét đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì thế,
quản trị doanh nghiệp trở nên cần thiết và quan trọng, trong đó quản trị tài chính
doanh nghiệp là nội dung chủ yếu.
Hoạt động phân tích tài chính trong quản trị doanh nghiệp có ý nghĩa lớn
trong việc giúp doanh nghiệp đánh giá đợc thực trạng tài chính cảu doanh nghiệp, từ
đó đa ra những quyết định tài chính phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
tài chính. Hơn nữa, phân tích tài chính còn giúp cho cơ quan quản lý nhà nớc trong
việc kiểm tra giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp các
nhà ngân hàng, nhà đầu t và các đối tợng khác có liên quan sử dụng trong việc đa ra
các quyết định tài chính nh cho vay, đầu t một cách hiệu quả.
Trong thời gian thực tập tại Công ty may Đức Giang, qua tìm hiểu, em thấy
công tác phân tích tài chính của công ty cha đợc coi trọng, gây khó khăn cho hoạt
động quản lý doanh nghiệp cũng nh kiểm tra giám sát doanh nghiệp, làm giảm hiệu
qủa hoạt động tài chính. Để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính cũng nh nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự điều chỉnh kết hợp đồng thời giải quyết nhiều vấn
đề tồn tại, tuy nhiên với tầm quan trọng của nội dung phân tích tài chính thì hoàn
thiện công tác phân tích tài chính, tiến hành phân tích tài chính của doanh nghiệp sẽ
góp phần đắc lực cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính.
Với suy nghĩ trên, em lựa chọn đề tài Phân tích tài chính góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động tài chính tại công ty may Đức Giang làm chuyên đề tốt
nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hớng dẫn TS. Phan Thu Hà và các cô chú,
anh chị phòng Tài chính- Kế toán Công ty may Đức Giang đã giúp đỡ, hớng dẫn em
hoàn thành chuyên đề này.
bạn hàng. Tất cả các quan hệ tài chính đó hết sức phức tạp và chặt chẽ.
Xét về bản chất hoạt động tài chính doanh nghiệp bao gồm các dòng tài
chính và dự trữ tài chính. Sự chuyển hoá không ngừng giữa các dòng tài chính vào
các dự trữ tài chính và ngợc lại đợc thể hiện và phản ánh trong các báo cáo tài chính
doanh nghiệp . Mối liên hệ giữa dòng tài chính và dự trữ tài chính đợc thể hiện và
phản ánh trong mối liên hệ giữa 3 báo cáo tài chính : Bảng cân đối kế toán-
Báo cáo kết quả kinh doanh- Báo cáo lu chuyển tiền tệ
Năm hoạt động trên đây cha phải là tất cả vấn đề của hoạt động tài chính
nhng đó là những hoạt động quan trọng nhất. Và hiểu đợc điều đó thì ta mới hiểu đ-
ợc công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp là phân tích những gì, phân tích nh
thế nào, và phân tích nhằm mục đích gì .
2> Khái niệm, mục tiêu , và tầm quan trọng của phân tích tài chính.
Phân tích tài chính là một khâu trong hoạt động tài chính doanh nghiệp. Nó có
vị trí và vai trò riêng nhng nằm trong thể thống nhất và quan hệ chặt chẽ với các hoạt
động khác của doanh nghiệp. Hầu hết các thông tin về hoạt động tài chính đợc thể
hiện trên các báo cáo tài chính. Tuy nhiên đó chỉ là những thông tin mang tính khái
quát, ghi chép tình hình tài sản nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm. Để
hiểu đợc một cách cặn kẽ, chi tiết, bản chất và nội dung ý nghĩa của các con số, chỉ
tiêu trên các báo cáo tài chính và các thông tin khác không có cách nào khác là phải
tiến hành phân tích một cách khoa học và thuyết minh sự phân tích đó.
Phân tích tài chính : là tập hợp các khái niệm, phơng pháp và công cụ cho
phép thu thập và xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh
nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp
giúp ngời sử dụng thông tin đa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù
hợp.
Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm:
+> Cung cấp những chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết giúp kiểm tra,
phân tích một cách tổng hợp, toàn diện, có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh,
tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của doanh nghiệp.
+> Cung cấp những thông tin số liệu cần thiết để phân tích đánh giá
Nh vậy phân tích tài chính là hoạt đọng hết sức cần thiết trong quản trị
doanh nghiệp đặc biệt trong quản trị tài chính doanh nghiệp. Phân tích tài chính
doanh nghiệp và chủ yếu là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp và có ý
nghĩa với nhiều đối tợng trong nền kinh tế.
3 3> Trình tự và các bớc tiến hành phân tích tài chính doanh
nghiệp.
Trình tự và các bớc tiến hành phân tích tài chính không có tính bắt buộc đối
với mọi đối tợng. Tuy nhiên để phân tích tài chính một cách nhanh, chính xác, và
khoa học, nó thờng đợc tiến hành theo các bứơc sau:
3.1 Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và
thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp. Phục vụ cho quá trình dự
đoán tài chính. Nó bao gồm cả những thôn tin kế toán và thông tin quản lý khác về
số lợng và chất lợng. Trong các thông tin đó thông tin kế toán phản ánh tập trung
trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp là nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. Do
đó, phân tích tài chính doanh nghiệp thực chất là phân tích các báo cáo tài chính
doanh nghiệp.
3.2 Xử lý thông tin:
Giai đoạn tiếp theo của quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp là quá
trình xử lý thông tin đã thu thập đợc. Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông
tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác
định nguyên nhân của các kết quả đã đạt đợc phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết
định. Tuỳ ngời sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau mà
có các phơng pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phâm tích đã đặt ra.
3.3 Dự đoán và quyết định.
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần
thiết để ngời sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đa ra các quyết định tài chính.Có
thể nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đa ra các quyết định tài chính. Tuỳ từng
chủ thể mà quyết định tài chính là gì ? Đối với chủ doanh nghiệp phân tích nhằm đa
ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trởng,
+> So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng từng chỉ tiêu so với tổng
thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy đợc sự biến đổi cả về số lợng t-
ơng đối lẫn số lợng tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên
tiếp.
Trên đây là các nội dung cần làm trong phơng pháp so sánh, tuy nhiên
để áp dụng đợc phơng pháp này cần một số điều kiện: Đó là phải đảm bảo các điều
kiện có thể so sánh đợc của các chỉ tiêu tài chính( thống nhất về không gian, nội
dung, tính chất và đơn vị tính toán...)và theo mục đích phân tích mà chọn gốc so
sánh. Gốc so sánh này đợc chọn có thể là gốc về mặt thời gian, gốc về mặt không
gian, kỳ phân tích đợc chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể
chọn bằng số tuyệt đối , số tơng đối, số bình quân.
4.2 Phơng pháp phân tích tỷ lệ.
Phơng pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn các tỷ lệ của đại lợng tài chính
trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ lệ cố nhiên là sự biến đổi của các đại
lợng tài chính. Về nguyên tắc, phơng pháp này yêu cầu phải xác định đợc các ngỡng
các định mức, để nhận xét đánh gía tình hình tài chính doanh nghiệp , trên cơ sở đó
so sánh các tỷ lệ của các doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Theo phơng pháp này, thông thờng các tỷ lệ tài chính đợc phân thành
các nhóm tỷ lệ đặc trng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt
động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về: Khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ
về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ
lệ về khả năng sinh lời.
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm các chỉ tiêu nhỏ lẻ, từng bộ phận của hoạt
động tài chính doanh nghiệp trong mỗi trờng hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân
tích ngời phân tích lựa chọn chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích cuả
mình.
4.3> Phơng pháp phân tích Dupont.
Phơng pháp phân tích tài chính Dupont nhằm đánh gía tài tác động
tơng hỗ giữa các tỷ lệ tài chính. Phơng pháp này thiết lập ra các quan hệ hàn số giữa
các tỷ lệ tài chính để xem xét ảnh hởng cuả các yếu tố khác đến một chỉ tiêu tổng
tích các báo cáo tài chính, các báo cáo tài chính thờng đợc sử dụng để phân tích là:
Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lu chuyển tiền tệ.
Đối với cán bộ tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp, họ là những
ngời có chuyên môn, am hiểu nội dung kinh tế, các nguyên tắc lập các báo cáo tài
chính một cách sâu sắc.
5.2.1> Bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là một trong các báo cáo tài chính quan trọng
Nhất của doanh nghiệp dùng cho phân tích tài chính.
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính
của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định. Bảng cân đối kế toán có hai phần
bên tài sản và nguồn vốn. Nói khác đi nó đợc xác lập trên cơ sở những thứ doanh
nghiệp có(tài sản) và những thứ doanh nghiệp nợ ( nguồn vốn) theo nguyên tắc cân
đối tổng tài sản = tổng nguồn vốn.
Đây là một báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đối t-
ợng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp; là t liệu quan trọng
bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá đợc khả năng cân bằng tài chính, khả
năng thanh toán và cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
5.2.2> Báo cáo kết quả kinh doanh.
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài
Chính của một doanh nghiệp tại những thời kỳ nhất định. Đó là kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của một toàn doanh nghiệp, kết quả hoạt động theo từng loại
hoạt động kinh doanh( sản xuất kinh doanh, đầu t tài chính, hoạt động bất thờng)
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính có ý nghĩa không kém
phần quan trọng cung cấp các số liệu thông tin để kiểm tra, phân tích và đánh giá kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.
5.2.3> Báo cáo lu chuyển tiền tệ.
Báo cáo lu chuyển tiền tệ cho biết những thông tin về dòng tiền tệ lu
chuyển và các khoản coi nh tiền , đó là các khoản đầu t ngắn hạn, có tính lỏng cao.
Những thông tin trên báo cáo lu chuyển tiền tệ cùng các thông tin trên các báo cáo
tài chính khác sẽ giúp cho ngời sử dụng đánh giá khả năng tạo ra dòng tiền trong t-
hình tăng giảm vốn của doanh nghiệp theo nguyên tắc:
Sử dụng vốn là tăng tài sản, giảm nguồn vốn.
Nguồn vốn là giảm tài sản, tăng nguồn vốn.
Nguồn vốn và sử dụng vốn phải cân đối nhau.
Cuối cùng tiến hành sắp xếp các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn
theo trình tự nhất định tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu và phản ánh vào một bảng biểu
theo mẫu sau:
Đơn vị .
Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng
1 Sử dụng vốn
..............
Cộng sử dụng vốn
2 Nguồn vốn
..............
Cộng nguồn vốn
Ngoài việc phân tích diễn biến nguồn vốn, sử dụng vốn kinh doanh,
trên thực tế ngời ta cón sử dụng phơng pháp phân tích theo luồng tiền mặt. Phơng
pháp phân tích này dựa vào lồng tiền mặt đầu kỳ và cuối kỳ so sánh với nhau. Sau đó
xác định nguyên nhân tăng giảm tiền mặt cuối kỳ so vời đầu kỳ, bằng các chỉ tiêu
của bảng cân đối kế toán. Mỗi sự thay đổi cuối kỳ so với đầu kỳ trên bảng cân đối kế
toán dẫn tới sự thay đổi tiền mặt tơng ứng theo nguyên tắc:
+ Tăng tiền mặt là giảm tài sản và tăng nguồn vốn.
+ Giảm tiền mặt là tăng tài sản và giảm nguồn vốn.
+ Tổng cộng tăng (giảm) đến cuối kỳ đúng bằng sự thay đổi trên
dòng tiền mặt cuối kỳ so với đầu kỳ của bảng cân đối kế toán.
1.2> Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh
doanh.
Yếu tố quan trọng đầu tiên cho một doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh bình thờng là vốn. Và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gắn liền với tài
sản gồm TSLĐ và đầu t ngắn hạn, TSCĐ và đầu t dài hạn. Để hình thành nên hai loại
Nh vậy, VLĐ thờng xuyên là chỉ tiêu tổng hợp quan trọng đánh giá tình
hình tài chính của doanh nghiệp, chỉ tiêu này cho chúng ta biết hai điều:
+> Doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
không?
+> TSCĐ của doanh nghiệp có đợc tài trợ một cách vững chắc hay không?
Khi phân tích tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh,
ngời ta cũng có thể sử dụng chỉ tiêu nhu cầu VLĐ thờng xuyên. Nhu cầu VLĐ thờng
xuyên là lợng vốn ngắn hạn Doanh nghiệp cần để tài trợ cho một phần TSLĐ, đó là
hàng tồn kho và các khoản phải thu
Nhu cầu VLĐ thờng xuyên = Tồn kho và các khoản phải thu Nợ ngắn hạn
Có thể xảy ra các trờng hợp sau:
+> Nhu cầu VLĐ thờng xuyên >0, tức là hàng tồn kho và các khoản phải
thu > nợ ngắn hạn. Tại đây các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các
nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có đợc từ bên ngoài. Doanh nghiệp phải dùng
nguồn vốn dài hạn để tài trợ phần chênh lệch. Nếu Doanh nghiệp đang ở trong tình
trạng tài chính này thì nên nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho và giảm các khoản
phải thu ở khách hàng.
+> Nhu cầu VLĐ thờng xuyên < 0 có nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn từ
bên ngoài đã thừa để tài trợ các sử dụng vốn ngắn hạn cuả doanh nghiệp. Doanh
nghiệp không cần nhận vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh doanh. Nhìn vào các
chỉ tiêu trong Bảng cân đối kế toán ta thấy các mối liên hệ trên đợc hiểu là:
- Nếu tồn kho và các khoản phải thu > nợ ngắn hạn nghĩa là sử dụng
ngắn hạn > nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp huy động đợc suy ra nhu cầu VLĐ thờng
xuyên dơng. Để tài trợ cho phần chênh lệch này, doanh nghiệp cần đến VLĐ thờng
xuyên. Nếu VLĐ thờng xuyên > nhu cầu VLĐ thờng xuyên thì vốn bằng tiền dơng
và ngợc lại.
- Nếu tồn kho và các khoản phải thu < nợ ngắn hạn có
nghĩa là vốn lu động từ bên ngoài thừa trang trải các sử dụng ngắn hạn, nhu cầu
những tiêu thức nhất định của xí nghiệp và ngành. Hình thức bảng phân tích kết cấu
tài sản và nguồn vốn theo mẫu:
Chỉ tiêu Đầu năm Cuối kỳ Cuối ký so với đầu kỳ
Lợng Tỷ trọng Lợng Tỷ trọng Lợng Tỷ trọng
I tài sản
II nguồn vốn
Có thể nói với mẫu bảng thiết kế để phân tích kết cấu tài sản nguồn vốn ta thâý
rất khoa học và tiện ích, việc đọc và hiểu ý nghĩa các con số trong bảng là mục tiêu
của việc phân tích.
1.4> Phân tích khái quát các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng
trong báo cáo kết quả kinh doanh.
Khi phân tích tài chính doanh nghiệp, chúng ta không thể bỏ qua nội dung
này. Mục tiêu của nội dung phân tích này là xác định và phân tích mối liên hệ, đặc
điểm các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh, đồng thời so sánh chúng qua
một số niên độ kế toán liên tiếp và với số liệu trung bình ngành để đánh giá xu hớng
thay đổi từng chỉ tiêu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp so với các doanh
nghiệp khác.
Các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng đợc chuẩn hoá trong mẫu biểu
bảng phân tích kết quả kinh doanh:
Chỉ tiêu Năm N-1 Năm N Năm N/ năm N-1
1 Doanh thu thuần Lợng Tỷ trọng Lợng Tỷ trọng Lợng Tỷ trọng
2 Giá vốn hàng bán
3 Lãi gộp
4 Chi phí bán hàng
và quản lý
5 Lãi trớc thuế và
lợi tức vay
TSLĐ
Hệ số thanh toán hiện hành = _______________
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ giữa tài sản lu động
với các khoản nợ ngắn hạn. TSLĐ bao gồm tiền mặt, các chứng từ, chứng khoán dễ
chuyển nhợng, các khoản phải thu và dự trữ hàng tồn kho. Nợ ngắn hạn thờng bao
gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả
nhà cung cấp, các khoản phải trả khác. Cả TSLĐ và nợ ngắn hạn đều có thời hạn dới
một năm.
Hệ số thanh toán hiện hành thể hiện khả năng thanh toán của doanh
nghiệp trong ngắn hạn, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn đ-
ợc trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong thời gian ngắn. Nừu hệ
số này >1 thì tình hình tài chính doanh nghiệp cha có gì đáng lo tuy nhiên cũng gây
khó khăn cho doanh nghiệp khi giải quyết nợ. Hệ số thanh toán hiện hành thấp hay
cao, ý nghĩa, mức độ đánh giá còn phụ thuộc và các loại hình doanh nghiệp. Khi đã
có đợc hệ số này ta tiến hành so sánh với các tỷ số tham chiếu khác nh : mức trung
bình của ngành, tỷ lệ kỳ trớc... để đợc sự đánh giá tốt hơn.
2.1.3 Hệ số thanh toán nhanh.
Hệ số thanh toán nhanh thể hiện mối quan hệ giữa vốn bằng tiền và các
khoản phải thu với nợ ngắn hạn. Và đợc thể hiện bằng công thức:
Vốn bằng tiền và các khoản phải thu
Hệ số thanh toán nhanh = ______________________________
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh phản ánh chính xác hơn khả năng thanh toán của
doanh nghiệp. Vì hệ số này cho biết khả năng hoàn trả nợ ngắn hạn không phụ thuộc
vào việc bán tài sản dự trữ. Bởi trong TSLĐ còn có hàng hoá tồn kho cha thể chuyển
thành tiền. Nhìn chung nếu hệ số này thấp thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong
thanh toán, để trả nợ doanh nghiệp có thể phải bán tài sản với giá thấp gây thiệt hại
về mặt tài chính. Tuy nhiên, cũng nh hệ số thanh toán ngắn hạn, nó có độ lớn khác
có một cơ cấu tài chính hợp lý hay cha? Một trong các mục tiêu của doanh nghiệp là
đạt đợc cơ cấu vốn tối u nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Trong quá trình hoạt động kinh
doanh cơ cấu tài chính luôn luôn thay đổi, nghiên cứu nhóm chỉ tiêu này chúng ta
xem xét một số chỉ tiêu chủ yếu : Hệ số nợ trên tổng tài sản, Hệ số nợ vốn cổ phần,
hệ số cơ cấu tài sản, Hệ số cơ cấu nguồn vốn. Và với ý nghĩa kinh tế của nhóm chỉ
tiêu này, nó là đối tợng quan tâm của nhiều chủ thể trong nền kinh tế đó là nhà quản
trị doanh nghiệp, nhà phân tích đặc biệt là các chủ nợ của doanh nghiệp.
2.2.1 Hệ số nợ tổng tài sản.
Hệ số này xác định trong một đồng vốn doanh nghiệp đang sử dụng có
bao nhiêu phần là vay nợ. Hệ số này đợc dùng để xác định trách nhiệm trả nợ của
doanh nghiệp đối với chủ nợ trong việc góp vốn. Nó đợc xác định nh sau:
Tổng số nợ
Hệ số nợ tổng tài sản = ______________
Tổng tài sản
Hệ số nợ đợc các chủ nợ và các chủ đầu t góp vốn liên doanh quan tâm
rộng rãi. Các chủ nợ thích tỷ lệ này cao vừa phải vì nếu quá cao có nhiều khả năng
doanh nghiệp không có khả năng trả nợ hay các khoản nợ của họ ít đợc bảo đảm.
Nhng các chủ doanh nghiệp thích một tỷ lệ nợ khá cao vì tác động của đòn bẩy tài
chính từ cơ số nợ lớn các chủ doanh nghiệp mạo hiểm hơn khi sử dụng vốn vay để
đầu t vào sản xuất kinh doanh. Nói chung hệ số nợ cần duy trì ở mức cân bằng, nếu
không doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
2.2.2 Hệ số nợ vốn cổ phần.
Hệ số này thể hiện mối quan hệ giữa tổng nợ phải trả với vốn chủ sở
hữu và đợc xác định nh sau:
Tổng nợ phải trả
Hệ số nợ vốn cổ phần = ______________
Vốn chủ sở hữu
2.2.3 Hệ số khả năng thanh toán lãi vay.
Lợi nhuận trớc thuế và lãi vay
Thông thờng TSCĐ đợc tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn, nếu tỷ suất này
> 1 chứng tỏ tài chính lành mạnh. Tuy nhiên tuỳ từng giai đoạn hoạt động
sản xuất kinh doanh tỷ số này < 1 ta phải tài trợ TSCĐ bằng vốn vay nhng
tình hình tài chính vẫn lành mạnh.
2.3 Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động.
Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động phản ánh năng lực và hiệu quả sử
dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp. Tài sản thực chất là sử dụng vốn đợc đầu t
bằng các nguồn vốn bao gồm các khoản mục nh TSLĐ, TSCĐ và đợc tài trợ từ các
nguồn vốn. Do đó chúng ta không chỉ đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản nói chung
mà chúng ta cón đánh giá hiêụ quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành thông qua
các chỉ tiêu:
- Vòng quay hàng tồn kho: là số lần hàng tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ. Nó đợc xác định:
Giá vốn hàng bán
Vòng quay hàng tồn kho = _______________
Hàng tồn kho
Chỉ tiêu này khá quan trọng nó đánh giá hiệu quả của TSLĐ. Nừu chỉ
tiêu này cao tức là mức độ luân chuyển hàng tồn kho nhanh, lợng hàng tồn kho
không lớn, ít bị ứ đọng vốn nên tình hình tài chính lành mạnh, đồng thời liên quan
đến chính sách thơng mại của doanh nghiệp.
- Vòng quay vốn lu động:
Chỉ tiêu này cũng phản ánh tốc độ quay vòng của vốn lu động trong kỳ.
Nó đợc xác định: Doanh thu thuần
Vòng quay vốn lu động = _______________
TSLĐ
Nừu vòng quay vốn lu động lớn chứng tỏ tốc độ chu chuyển vốn nhanh.
Việc sử dụng vốn lu động hiệu quả góp phần thu hồi vốn nhanh.
- Hiệu suất sử dụng tài sản.
Doanh thu thuần
đầu t rất quan tâm và là cơ sở cho nhà quản trị hoạch định chính sách.
Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Hệ số sinh lời doanh thu:
Hệ số này phản ánh mối tơng quan giữa lợi nhuận và doanh thu. Nó cho
chúng ta biết trong một đồng doanh thu thực hiện trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi
nhuận ròng. Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lợi doanh thu = __________________
Doanh thu thuần
Nói chung hệ số này càng cao càng tốt. Tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào từng ngành
nghề kinh doanh cụ thể.
- Hệ số sinh lời tài sản:
Hệ số này đánh giá khả năng sinh lời của vốn đầu t. Do đó nó là chỉ tiêu
tổng hợp, cho chúng ta biết một đồng vốn bỏ ra thì thu đợc mấy đồng lợi nhuận.
Lợi nhuận sau thuế + tiền lãi phải trả
Hệ số sinh lợi tài sản = ________________________________
Tổng tài sản
Lợi nhuận trớc thuế đợc trả cho chủ nợ tiền lãi vay, trừ thuế, còn lại phân
phối cho chủ sở hữu do đó tiền lãi vay đợc cộng ngợc lại nh trong công thức trên.
Bởi thực chất nguồn vốn đợc hình thành từ hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và vốn
vay.
- Hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu.
So với ngời cho vay thì việc bỏ vốn vào hoạt động kinh doanh của chủ sở
hữu mang tính mạo hiểm hơn. Tuy nhiên mức độ mạo hiểm tỷ lệ thuận với mức độ
sinh lời thởng cho chủ sở hữu. Để đo lờng mức độ sinh lời, thởng cho chủ sở hữu ta
nghiên cứu chỉ tiêu hệ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu = ________________________
Vốn chủ sở hũ
Nhìn chung các nhà doanh nghiệp bỏ vốn đầu t quan tâm tới hệ số này vì
họ muốn biết một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thu đợc mấy đồng lợi nhuận
2 Hệ số thanh toán
nhanh.
3 Hệ số thanh toán tức
thời.
4 Hệ số nợ tổng tài sản
5 Hệ số nợ vốn cổ phần
6 Hệ số thanh toán lãi
vay.
7 Hiệu suất sử dụng
tổng tài sản.
8 Hệ số sinh lời của tài
sản.
Phần I Phân tích tài chính tại công ty may Đức
Giang.
1. Qúa trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty may Đức Giang
1.1.1 Đặc điểm chung
Công ty may Đức Giang là một doanh nghiệp Nhà nớc sản xuất và kinh doanh các
sản phẩm may mặc, trực thuộc tổng công ty Dệt may Việt Nam- Bộ công nghiệp
Việt Nam.
Tên gọi: Công ty may Đức Giang
Tên giao dịch: Duc Giang- Import- export- Garment Company
Tên viết tắt: Durgarco
Trụ sở chính: Thị trấn Đức Giang- Gia lâm- Hà Nội
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Năm 1989, thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nhiều nhà doanh nghiệp
đã phải giải thể hoặc bị phá sản do không thích ứng đợc với sự vận động của cơ chế
mới.
Ngày 2/5/1989, một xí nghiệp may đợc thành lập trên nền tảng của xí nghiệp
vật t với tổng diện tích đất là 2,2 ha cùng hệ thống nhà kho cũ của tổng kho vận I