một số giải pháp mở rộng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại nh nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện kim động tỉnh hưng yên - Pdf 10

Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHN0 & PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Agribank Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
TTKDTM Thanh toán không dùng tiền mặt
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của Agribank Kim Động từ 2010 - 2012.
Bảng 2.2: Tình hình hoạt động cho vay và đầu tư tại Agribank Kim Động từ 2010 -
2012.
Bảng 2.3: Tình hình cung ứng dịch vụ tại Agribank Kim Động từ 2010 - 2012.
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh tại Agribank Kim Động từ 2010 - 2012.
Bảng 2.5: Doanh số thanh toán qua Agribank Kim Động từ 2010 - 2012.
Bảng 2.6: Số món thanh toán qua Agribank Kim Động từ 2010 - 2012.
Bảng 2.7: Thu nhập hoạt động thanh toán tại Agribank Kim Động từ 2010 - 2012.
Bảng 2.8: Cơ cấu dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Agribank Kim Động
từ 2010 - 2012.
LỜI MỞ ĐẦU
SV: Nguyễn Hồng Nhung 1 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế - đó là xu thế chung của toàn Thế Giới, là
đích hướng đến của mỗi quốc gia. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế
chung đó. Việt Nam đã và đang có những bước phát triển và chuyển mình mạnh
mẽ để bắt kịp guồng quay chung của nền kinh tế Thế Giới. Tuy nhiên, tình hình
kinh tế Việt Nam trong 3 năm trở lại đây gặp nhiều bất ổn và đang có dấu hiệu đi
xuống. Trong đó, rủi ro trong hệ thống Ngân hàng tăng lên, lòng tin thị trường sụt
giảm mạnh - đó là những minh chứng rõ nhất cho tình trạng của nền kinh tế Việt
Nam nói chung, và hoạt động của hệ thống các NHTM Việt Nam nói riêng. Vậy

tượng nghiên cứu. Trong đó, phương pháp phân tích - tổng hợp là phương pháp
được được sử dụng nhiều nhất trong đề tài này.
4. Kết cấu của đề tài
Kết cấu chuyên đề thực tập tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về mở rộng dịch vụ thanh toán không
dùng tiền mặt
Chương 2: Thực trạng mở rộng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại
ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kim Động
Chương 3: Giải pháp mở rộng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại
ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kim Động
Do thời gian nghiên cứu chưa nhiều và trình độ của bản thân còn hạn chế nên
bài viết này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận
được sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết hoàn thiện hơn.
Qua đây, em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phi Hồng Hạnh cùng tập thể cán
bộ, nhân viên Ngân hàng Agribank chi nhánh Kim Động đã tạo điều kiện hướng
dẫn và nhiệt tình giúp đỡ để em có thể hoàn thành tốt chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Hồng Nhung
CHƯƠNG 1
SV: Nguyễn Hồng Nhung 3 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG DỊCH VỤ THANH TOÁN
KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân
hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động thanh toán là một yêu cầu khách
quan, là điều kiện cần thiết phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội. Hoạt động
thanh toán được thực hiện dưới hai hình thức là thanh toán bằng tiền mặt và thanh

1.1.2. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.2.1. Séc thanh toán
Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản, được lập trên mẫu do Ngân hàng nhà
nước quy định, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tiền từ tài khoản tiền gửi của
mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên séc hay người cầm tờ séc đó.
Như vậy, chủ thể tham gia thanh toán Séc gồm: người ký phát, người thụ
hưởng và Ngân hàng. Trong đó, mỗi bên có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định trong
thanh toán Séc.
Theo nghị định số 30/CP của Chính phủ ngày 09/5/1996 và thông tư hướng
dẫn số 07/TT-NH1 của NHNN Việt Nam ngày 27/12/1996 về quy chế phát hành
và sử dụng Séc, thanh toán Séc gồm các loại sau:
a) Séc chuyển khoản
Séc chuyển khoản là do chủ tài khoản phát hành và giao trực tiếp cho người
thụ hưởng để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ và các khoản thanh toán khác. Khi
phát hành séc chuyển khoản, chủ tài khoản phải gạch bỏ hai đường song song chéo
góc hoặc phải có chữ “Chuyển khoản” ở mặt trước tờ séc trước khi giao cho người
thụ hưởng.
Séc chuyển khoản áp dụng thanh toán trong trường hợp người phát hành và
người thụ hưởng có mở tài khoản tại cùng một chi nhánh ngân hàng hoặc thanh
toán khác chi nhánh ngân hàng. Séc chuyển khoản được phát hành theo nguyên tắc
số dư của tài khoản phải đảm bảo thanh toán cho tờ séc. Nếu cùng một thời điểm
có nhiều tờ séc nộp vào ngân hàng nhưng số dư không đủ đảm bảo thanh toán thì
SV: Nguyễn Hồng Nhung 5 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
ngân hàng phải ưu tiên thanh toán theo thứ tự phát hành, tờ séc nào phát hành
trước sẽ được thanh toán trước. Nếu tài khoản không đủ số dư để thanh toán, séc sẽ
bị ngân hàng từ chối thanh toán, chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm thanh toán tờ
séc đó và những khoản tiền phạt phát sinh liên quan đến khiếu nại và khởi kiện.
Nói chung, séc chuyển khoản thường được áp dụng đối với những khách hàng
tín nhiệm lẫn nhau, có quan hệ làm ăn lâu dài, thường xuyên. Chính vì vậy, Séc

Séc chuyển tiền do ngân hàng phát hành cho khách hàng để phục vụ việc thanh
toán của khách hàng khi đến địa phương khác.
Thời hạn hiệu lực của Séc chuyển tiền là 30 ngày kể từ khi khách hàng làm
thủ tục cho đến khi khách hàng nộp séc vào ngân hàng xin thanh toán.
1.1.2.3. Ủy nhiệm thu
Ủy nhiệm thu là giấy ủy nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập và gửi vào
ngân hàng nhờ thu tiền về số lượng hàng hóa đã giao hoặc dịch vụ đã cung ứng.
Ủy nhiệm thu được áp dụng thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản cùng
ngân hàng hoặc khác ngân hàng, cùng hệ thống hoặc khác hệ thống. Tuy nhiên,
trước khi áp dụng, các chủ thể thanh toán phải thống nhất các điều kiện thanh toán
gắn với ủy nhiệm thu và thông báo bằng văn bản cho ngân hàng để ngân hàng làm
căn cứ thực hiện các ủy nhiệm thu.
Khi nhận được ủy nhiệm thu, trong vòng 1 ngày làm việc, ngân hàng phục vụ
của bên trả tiền phải trích tài khoản của khách hàng để trả cho bên thụ hưởng nhằm
hoàn tất việc thanh toán. Nếu tài khoản của người trả tiền không đủ thanh toán thì
ngân hàng sẽ lưu Ủy nhiệm thu vào hồ sơ Ủy nhiệm thu chưa trả tiền và báo cho
ngân hàng của người thụ hưởng biết. Sau khi tài khoản của người trả tiền đủ số dư
để thanh toán thì hoàn tất việc chi trả và tiền phạt nộp chậm đối với người trả tiền.
1.1.2.4. Thư tín dụng (L/C)
Thư tín dụng là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở thư tín dụng cam
kết trả tiền cho người bán nếu họ xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với nội
dung của thư tín dụng. Thư tín dụng hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán,
nhưng sau khi được thiết lập nó lại độc lập với hợp đồng mua bán.
SV: Nguyễn Hồng Nhung 7 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
Thông thường hình thức thanh toán theo thư tín dụng được áp dụng trong
trường hợp các chủ thể thanh toán có quan hệ kinh tế nhưng khác địa phương để
đảm bảo số tiền hàng hóa dịch vụ đã cung ứng theo hợp đồng được thanh toán
ngay. Thời hạn hiệu lực thanh toán của thư tín dụng là 03 thánh kể từ ngày ngân
hàng bên mua nhận mở thư tín dụng. Thanh toán theo hình thức thư tín dụng khá

d) Thẻ rút tiền mặt (ATM)
Thẻ ATM có chức năng chuyên biệt để rút tiền mặt nên chủ thẻ phải ký quỹ
một số tiền bằng số tiền trên thẻ. Hiện nay, thẻ ATM dùng để rút tiền tại các máy
ATM, chủ thẻ có thể thực hiện giao dịch thanh toán như chuyển tiền, thanh toán
các chi phí như điện, nước, điện thoại…
1.1.3. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt được tổ chức thành một hệ thống thống nhất,
trong hệ thống này, Ngân hàng đóng vai trò là một trung tâm thanh toán. Mọi hoạt
động trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ đều được kết thúc bằng hoạt động thanh
toán. Chính vì vậy, việc tổ chức tốt công tác thanh toán, đặc biệt là thanh toán
không dùng tiền mặt có ý nghĩa kinh tế rất lớn, ý nghĩa này được thể hiện qua các
mặt sau:
1.1.3.1. Đối với khách hàng
Một là, đáp ứng nhu cầu thanh toán một cách kịp thời và đảm bảo an toàn về
vốn cũng như tài sản cho khách hàng: Thông qua thẻ ATM, khách hàng có thể đáp
ứng kịp thời nhu cầu mua sắm của mình, đặc biệt là đối với những sản phẩm, hàng
hóa có giá trị lớn mà không gặp phải bất tiện khi mang nhiều tiền bên mình - vừa
không an toàn, lại rất khó khăn trong quá trình vận chuyển.
Hai là, tiện lợi và linh hoạt trong thanh toán trong và ngoài nước: Hiện nay,
nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán trong và ngoài nước, nhiều Ngân hàng đã cho ra
đời nhiều loại hình thanh toán khác nhau, rất đa dạng và tiện lợi cho việc lựa chọn
của khách hàng. Rất nhiều loại thẻ thanh toán được chấp nhận trên phạm vi Thế
Giới như: thẻ Visa, Amex, Diners Club hay Master Card… Đồng thời, với dịch vụ
kiều hối đang được nhiều Ngân hàng sử dụng dành riêng cho đối tượng khách hàng
SV: Nguyễn Hồng Nhung 9 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
đang sinh sống ở nước ngoài có thể gửi và tiến hành thanh toán trong nước thông
qua tài khoản đã mở tại Ngân hàng.
Ba là, tiết kiệm thời gian và chi phí: Với việc sử dụng các loại hình thanh
toán không dùng tiền mặt, khách hàng chỉ cần gửi yêu cầu và các giấy tờ cần thiết

1.1.3.3. Đối với nền kinh tế - xã hội
Một là, giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông: Khi tiến hành thanh toán
qua Ngân hàng, tiền mặt không còn đóng vai là công cụ thanh toán. Từ đó, hạn chế
được lượng tiền mặt xuất hiện trong lưu thông.
Hai là, tiết kiệm tối đa nguồn chi phí liên quan đến việc phát hành và lưu
thông tiền tệ trong xã hội: Đối với hoạt động lưu thông tiền tệ, thanh toán không
dùng tiền mặt góp phần làm giảm tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, do đó tiết kiệm
tối đa nguồn chi phí liên quan đến việc phát hành và lưu thông tiền tệ trong xã hội
như: chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản tiền, chi phí về thời gian thanh toán…
Ba là, góp phần giúp Nhà nước điều tiết được nền kinh tế vĩ mô, kiểm soát
được tình trạng lạm phát có thể xảy ra: Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt
sẽ giúp Nhà nước điều tiết được nền knih tế vĩ mô cũng như góp phần thực hiện tốt
hơn các chính sách tiền tệ, đặc biệt là chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát
được tình trạng lạm phát có thể xảy ra.
Bốn là, góp phần tăng nhanh vòng quay vốn cho xã hội: Thanh toán không
dùng tiền mặt có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tốc độ thanh toán, tốc độ
chu chuyển vốn diễn ra nhanh chóng, tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất, đẩy
nhanh quá trình tái sản xuất và tác động trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nó được coi là khâu đầu tiên và cũng là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất. Vì
vậy, nếu tổ chức tốt công tác thanh toán sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất,
tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, góp phần thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh
tế quốc dân.
1.1.4. Những quy định trong thanh toán không dùng tiền mặt
Nhằm đẩy mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt, nhiều văn bản
pháp quy về hoạt động thanh toán đã được Chính phủ ban hành như Nghị định số
64/2001/NĐ-CP ngày 20/9/2001 về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng
SV: Nguyễn Hồng Nhung 11 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
dịch vụ thanh toán. Mới đây nhất, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành
Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/3/2002 thay thế cho Quyết định số

− Chủ tài khoản phải đảm bảo có đủ tiền trên tài khoản tại thời điểm giao
dịch thanh toán được thực hiện, trừ trường hợp được ngân hàng cho phép thấu chi.
− Chủ tài khoản được toàn quyền sử dụng số dư tài khoản tiền gửi tại ngân
hàng thông qua các lệnh thanh toán phù hợp với quy định của Ngân hàng trung
ương.
− Chủ tài khoản được ủy quyền cho người khác bằng văn bản sử dụng tài
khoản theo quy định của pháp luật. Người được ủy quyền có quyền hạn, nghĩa vụ
như chủ tài khoản trong phạm vi được ủy quyền và không được ủy quyền lại cho
người thứ ba.
1.1.4.2. Quy định đối với người chi trả (người mua)
Người mua phải mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng hoặc các tổ chức làm
dịch vụ thanh toán. Khi tiến hành thanh toán phải thực hiện thanh toán thông qua
tài khoản đã mở theo đúng chế độ quy định và phải trả phí thanh toán theo quy
định của Ngân hàng hoặc tổ chức làm dịch vụ thanh toán.
1.1.4.3. Quy định đối với người thụ hưởng (người bán)
Người bán phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời và
đúng lượng giá trị mà người mua đã thanh toán, đồng thời phải kiểm soát kỹ càng
các chứng từ phát sinh trong quá trình thanh toán.
1.1.4.4. Quy định đối với Ngân hàng và Kho bạc nhà nước
Đóng vai trò là trung gian thanh toán, các NHTM phải có trách nhiệm trong
việc tổ chức hoạt động thanh toán. Cụ thể như sau:
− Ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán có nghĩa vụ hướng dẫn khách hàng
làm các thủ tục thanh toán, cung cấp đầy đủ và kịp thời các loại giấy tờ thanh toán
cần thiết cho khách hàng theo chế độ quy định.
− Trong quá trình thanh toán, phải tiến hàng một cách chính xác, kịp thời và
đảm bảo an toàn tài sản theo yêu cầu của khách hàng.
SV: Nguyễn Hồng Nhung 13 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
− Ngân hàng cần niêm yết công khai phí dịch vụ thanh toán, giữ bí mật về
số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng theo đúng quy định của pháp luật.

sử dụng tiền mặt trong thanh toán.”
Như vậy, mở rộng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, hạn chế lượng
tiền mặt trong lưu thông chính là xu hướng tất yếu để phát triển dịch vụ thanh toán
qua ngân hàng, thông qua đó, giúp ngân hàng đổi mới công nghệ, đưa trang thiết
bị, kỹ thuật hiện đại vào trong thanh toán.
1.2.2. Sự cần thiết phải mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt
Từ lâu, tiền mặt đã trở thành phương tiện thanh toán không thể thiếu trong
mọi hoạt động của nền kinh tế. Có thể thấy, trước đây trong nền sản xuất hàng hóa
còn nhỏ lẻ, khối lượng hàng hóa ít, việc thanh toán bằng tiền mặt trở thành công cụ
thanh toán thuận tiện và khá tối ưu.
Tuy nhiên, ngày nay, thanh toán bằng tiền mặt không còn là hình thức thanh
toán tối ưu trong các giao dịch thương mại dịch vụ nữa, đặc biệt là các giao dịch có
giá trị và khối lượng lớn. Đối với nền kinh tế thị trường như hiện nay, sản xuất
hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khối lượng hàng hóa vô cùng lớn, việc trao đổi
hàng hóa diễn ra đa dạng và rộng khắp, khi đó hình thức thanh toán bằng tiền mặt
không còn phù hợp nữa. Trong nền kinh tế hiện đại, hoạt động thanh toán bằng tiền
mặt đang dần lộ rõ những nhược điểm và bất lợi của nó: chi phí thanh toán cao,
trong khi việc giao dịch thanh toán lại không an toàn, thời gian hoàn tất quá trình
thanh toán kéo dài… Chính những bất lợi và rủi ro kể trên đã cho thấy, nếu hình
thức thanh toán bằng tiền mặt được sử dụng phổ biến sẽ tạo khó khăn cho NHNN
trong việc kiểm soát việc lưu thông tiền tệ, gây trở ngại cho chính sách điều tiết
nền kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Từ đó, thanh toán không dùng tiền mặt đã ra đời
và dần thay thế vai trò của tiền mặt trong hoạt động thanh toán. Chính những ưu
thế cũng như tính ưu việt của dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã đặt ra yêu
cầu tất yếu phải mở rộng loại hình dịch vụ thanh toán này.
Mở rộng dịch vụ thanh toán không dùng tiền sẽ mặt tạo điều kiện giúp Ngân
hàng nhanh chóng đưa các sản phẩm dịch vụ của mình đến với khách hàng, giúp
khách hàng tiếp cận và tin tưởng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Thông qua
SV: Nguyễn Hồng Nhung 15 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp

thanh toán của người dân cao, lượng tiền thanh toán lớn. Đây là điều kiện thuận lợi
để Ngân hàng mở rộng và phát triển dịch vụ TTKDTM.
• Mức gia tăng số món thanh toán không dùng tiền mặt (H2)
Số món thanh toán không dùng tiền mặt là số lượng giao dịch thanh toán
không dùng tiền mặt mà Ngân hàng thực hiện theo yêu cầu thanh toán của khách
hàng.
Khi đó, mức gia tăng số món thanh toán không dùng tiền mặt được xác định
theo công thức sau:
H
2
= Số món TTKDTM kỳ này – Số món TTKDTM kỳ trước
Số món TTKDTM kỳ trước
Chỉ tiêu mức gia tăng số món thanh toán không dùng tiền mặt cho biết số
lượng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt năm nay tăng hay giảm bao nhiêu
lần so với năm trước. Qua đó, có thể đánh giá về tình hình mở rộng dịch vụ thanh
toán của Ngân hàng. Nếu chỉ tiêu H2 cao, điều này cho thấy, dịch vụ TTKDTM
được quan tâm, hoạt động thu hút khách hàng được đẩy mạnh. Khi đó, Ngân hàng
cần có những biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục đẩy mạnh tốc độ gia tăng số món
thanh toán, củng cố hình ảnh của Ngân hàng trong mắt khách hàng.
• Mức chênh lệch tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt (H3)
Tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt là tỷ lệ số lượng giao dịch thanh
toán không dùng tiền mặt chiếm trong tổng số lượng giao dịch thanh toán diễn ra
tại Ngân hàng.
Công thức xác định mức gia tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt:
H3 = Tỷ trọng TTKDTM kỳ này - Tỷ trọng TTKDTM kỳ trước
Chỉ tiêu mức gia tăng tỷ trọng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho
biết trong năm nay tỷ trọng dịch vụ TTKDTM biến động tăng, giảm bao nhiêu so
với năm trước. Nếu chỉ tiêu H3 cao, điều này cho thấy, dịch vụ TTKDTM chiếm
một vị trí quan trọng trong dịch vụ thanh toán của Ngân hàng. Ngược lại, nếu chỉ
tiêu H3 âm chứng tỏ công tác mở rộng dịch vụ TTKDTM vẫn chưa đạt được kết

Số món TTKDTM i kỳ này – Số món TTKDTM i kỳ trước
×
100
%
Số món TTKDTM i kỳ trước
Chỉ tiêu mức gia tăng số món loại hình thanh toán không dùng tiền mặt i cho
biết số lượng giao dịch thanh toán theo hình thức i năm nay tăng, giảm bao nhiêu
lần so với năm trước. Qua đó có thể đánh giá được mức độ tăng trưởng, cũng như
SV: Nguyễn Hồng Nhung 18 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
việc sử dụng linh hoạt các loại hình thanh toán không dùng tiền mặt, mức độ đầu
tư cho công tác thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng.
1.2.3.2. Các chỉ tiêu định tính
• Tính nhanh chóng của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt: cho
biết khoảng thời gian cần thiết để hoàn thành quy trình thanh toán không dùng tiền
mặt tại Ngân hàng.
• Tính chính xác của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt: cho biết
mức độ chính xác, số lượng sai sót xảy ra trong quá trình Ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt.
• Tính an toàn của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt: cho biết
mức độ an toàn khi khách hàng thanh toán qua Ngân hàng.
Qua các chỉ tiêu định tính, có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ thanh
toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng, đây là cơ sở để Ngân hàng có thể tiến
hành mở rộng dịch vụ thanh toán, phát triển loại hình dịch vụ này một cách bền
vững và hiệu quả. Nếu các chỉ tiêu kể trên chưa tốt, cho thấy hoạt động thanh toán
không dùng tiền mặt của Ngân hàng chất lượng chưa cao, cần phải có những biện
pháp thích hợp để nâng cao chất lượng thanh toán hơn, qua đó, tạo uy tín của Ngân
hàng trong mắt khách hàng.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng thanh toán không dùng tiền
mặt của Ngân hàng thương mại

mở rộng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Ngược lại, nếu hệ thống máy
móc, thiết bị của Ngân hàng lỗi thời, lạc hậu và không được chú trọng đầu tư thì
hoạt động của Ngân hàng khó có thể hiệu quả và đạt được lợi nhuận cao trong quá
trình kinh doanh. Bởi nếu không đảm bảo về điều kiện trang thiết bị, khoa học
công nghệ thì Ngân hàng đã thiếu đi điều kiện để thực hiện giao dịch thanh toán,
cũng như đánh mất đi cơ hội để mở rộng dịch vụ thanh toán không dung tiền mặt.
c) Trình độ nguồn nhân lực
Thanh toán không dùng tiền mặt là một loại hình dịch vụ thanh toán mới
phát triển gần đây ở nước ta; hơn nữa, loại hình dịch vụ này sử dụng chủ yếu
những công nghệ kỹ thuật hiện đại, vì vậy, để mở rộng phát triển dịch vụ thanh
SV: Nguyễn Hồng Nhung 20 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
toán không dùng tiền mặt rất cần nguồn nhân lực có đủ trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Đồng thời, cán bộ nhân viên ngân
hàng cần nhanh chóng nắm bắt được thị hiếu của khách hàng nhằm tìm ra điểm
mạnh, điểm yếu trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng để
có những giải pháp kịp thời nhằm hoàn thiện hơn nữa loại hình thanh toán này. Vì
vậy, nếu Ngân hàng có thể huy động, thu hút được nguồn lao động trẻ, năng động,
có kinh nghiệm trong nghiệp vụ thanh toán sẽ tạo điều kiện để Ngân hàng thực
hiện và phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.
d) Chính sách Marketing của Ngân hàng
Với vai trò là một công cụ quan trọng của các nhà kinh tế nhằm đánh vào
hộp đen ý thức của khách hàng, chủ động xây dựng, tạo lập nhu cầu, mong muốn
cho khách hàng, Marketing đã trở thành khâu then chốt trong mọi hoạt động của
Ngân hàng, là sợi dây kết nối giữa khách hàng với Ngân hàng. Thông qua hoạt
động Marketing, Ngân hàng có thể quảng bá, giới thiệu về sản phẩm, dịch vụ thanh
toán của mình, cũng nhờ vào Marketing, Ngân hàng có thể sử dụng các chương
trình khuyến mãi, giảm phí dịch vụ, tặng các sản phẩm quà tặng đi kèm…nhằm thu
hút khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán của Ngân hàng - đây chính là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của chính sách Marketing. Nếu công tác Marketing

phát triển mở rộng dịch vụ thanh toán, thì nguồn vốn lại chính là điều kiện để tiến
hành đầu tư mua sắm công nghệ, trang thiết bị phục vụ hoạt động của Ngân hàng.
Đặc biệt đối với loại hình thanh toán qua thẻ ATM, nguồn vốn chính là yêu cầu
quan trọng liên quan đến chi phí lắp đặt cây ATM, mở rộng mạng lưới cây rút tiền.
Vì vậy, nguồn vốn đầu tư luôn là yêu cầu cần thiết đối với mỗi ngân hàng. Nếu
không đáp ứng được yêu cầu này, Ngân hàng sẽ không thể đáp ứng được những
đòi hỏi trong việc đầu tư về thiết bị, nguồn lực để phục vụ cho công tác thanh toán.
1.2.4.2. Nhân tố khách quan
a) Các điều kiện xã hội
Một là, thói quen sử dụng tiền mặt của dân chúng: Nếu xã hội, người dân
vẫn còn giữ thói quen tiêu dùng tiền mặt thì việc phát triển dịch vụ thanh toán, đưa
thanh toán không dùng tiền mặt vào sử dụng phổ biến trong dân chúng là một điều
SV: Nguyễn Hồng Nhung 22 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
vô cùng khó khăn. Chính vì vậy mà thói quen tiêu dùng tiền mặt của người dân
chính là rào cản sự phát triển, mở rộng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.
Hai là, thói quen giao dịch qua Ngân hàng: Thói quen giao dịch qua Ngân
hàng chính là điều kiện giúp khách hàng có thể dễ dàng tiếp xúc với những loại
hình dịch vụ mới của Ngân hàng và nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng hơn.
Hơn nữa, nếu khách hàng thường xuyên giao dịch qua Ngân hàng sẽ dần trở thành
khách hàng truyền thống, có quan hệ gắn bó với Ngân hàng, sẽ tin tưởng và sử
dụng dịch vụ thanh toán của Ngân hàng.
Ba là, trình độ dân trí: Trình độ dân trí là cơ sở quan trọng để hoạt động
thanh toán không dùng tiền mặt có thể tồn tại được hay không. Dịch vụ thanh toán
này chỉ có thể tồn tại và phát triển khi người dân có đủ trình độ để hiểu biết hết
được tầm quan trọng cũng như vai trò của nó. Ngược lại, nếu trình độ của người
dân không cao, nhận thức của người về tầm quan trọng của dịch vụ thanh toán
không dùng tiền mặt còn hạn chế, như vậy, dù hoạt động dịch vụ này có được các
Ngân hàng chú trọng đầu tư phát triển, song, rất khó để dân chúng tiếp nhận và sử
dụng.

vậy, việc Nhà nước sử dụng công cụ này như thế nào ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích,
cũng như mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong xã hội. Đối với mối quan
hệ thanh toán nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng giữa khách
hàng với Ngân hàng cũng chịu những tác động không nhỏ từ môi trường pháp lý,
từ những chính sách pháp luật được đưa ra.
Nếu một môi trường pháp lý thực sự chặt chẽ, nhất quán trong chính sách
pháp luật sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng dễ dàng trong việc thực hiện các chính
sách, quy định liên quan đến hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt một cách
nhanh chóng và thuận tiện. Ngược lại, sự thiếu đồng bộ, thiếu liên kết và tính nhất
quán, thậm chí là sự chồng chéo giữa các quy định, chính sách chính là nguyên
nhân dẫn đến khó khăn trong hoạt động thanh toán, đặc biệt là thanh toán không
dùng tiền mặt - một loại hình thanh toán chưa thực sự phát triển mạnh tại Việt
Nam.
SV: Nguyễn Hồng Nhung 24 Lớp: TC43E
Trường ĐH Tài chính – QTKD Chuyên đề tốt nghiệp
d) Đối thủ cạnh tranh
Khi hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển, đi kèm với đó là sự cạnh
tranh gắt gắt giữa các Ngân hàng nhằm tìm kiếm thị trường sử dụng dịch vụ thanh
toán của mình, đồng thời có thể thu hút và tìm kiếm những khách hàng mới, những
thị trường kinh doanh mới. Càng cạnh tranh, Ngân hàng lại càng coi trọng chính
sách đầu tư về nhân lực và vật lực, cán bộ ngày càng có trình độ cao, công nghệ
máy móc tiên tiến ngày càng được đưa vào sử dụng phổ biến, qua đó không ngừng
mở rộng hoạt động kinh doanh, gia tăng lợi nhuận.
SV: Nguyễn Hồng Nhung 25 Lớp: TC43E


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status