Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
Lời nói đầu
Trong điều kiện của cơ chế tập trung- quan liêu- bao cấp trớc đây kinh tế t
nhân hầu nh không có chỗ đứng ở nớc ta. Trong quá trình đổi mới và xây dựng
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, vị trí, vai trò của khu vực kinh tế
t nhân đã từng bớc đợc nhận thức và đánh giá đầy đủ hơn đúng đắn hơn. Trong
chiến lợc phát triển kinh tế của nớc ta, kinh tế t nhân đợc xác định là một trong
những thành phần của nền kinh tế, có quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế
khác cả về trách nhiệm lẫn cơ hội phát triển. Do phát huy đợc nhiều u thế vốn có
và các điều kiện cho sự phát triển từng bớc đợc cải thiện, kinh tế t nhân ở nớc ta đã
bắt đầu đạt đợc kết quả đáng khích lệ và có sự đóng góp tích cực cho nền kinh tế.
Với hệ thồng ngân hàng, sự phát triển của khu vực kinh tế t nhân đã mở ra
một thị trờng mới cho việc tăng trởng và phát triển hoạt động tín dụng. Nhận thức
đợc tiềm năng to lớn của kinh tế t nhân trong nền kinh tế hiện đại, các ngân hàng
thơng mại đang ngày một chú ý hơn tới những khách hàng thuộc khu vực kinh tế
này. Tuy vậy, hiện nay khu vực kinh tế t nhân ở nớc ta đang gặp phải một trở ngại
rất lớn đến quá trình sản xuất kinh doanh là tình trạng thiếu vốn và khó tiếp cận
nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Với t cách là trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế, các
ngân hàng phải làm gì để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho vay kinh tế t nhân, trở
thành kênh kết nối hiệu quả giữa ngồn vốn huy động đợc và nhu cầu có vốn phục
vụ sản xuất kinh doanh của những khách hàng t nhân.
Xuất phát từ những lý do nói trên, Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho
vay khu vực kinh tế t nhân tại Hội sở Ngân hàng TMCP Kỹ Thơng Việt
Nam đã đợc chọn làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Kết cấu của chuyên đề
ngoài lời nói đầu và kết luận gồm 3 chơng:
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
1
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
Chơng I: Tổng quan về khu vực kinh tế t nhân và vai trò của tín dụng
ngân hàng đối với khu vực kinh tế t nhân.
hoặc dịch vụ dựa trên cơ sở sở hữu về t liệu sản xuất. Nh vậy, nội dung về kinh tế
t nhân rất rộng cả về hình thức sở hữu và ngành nghề mà các chủ thể đó tham gia
vào sản xuất kinh doanh.
Xét về mặt cơ bản nền kinh tế đất nớc sẽ do hai khu vực kinh tế chủ yếu là
kinh tế nhà nớc và kinh tế t nhân (trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp nhân
doanh) quyết định. Hai khu vực kinh tế này có vai trò, vị trí khác nhau và có quan
hệ tơng hỗ hợp tác, bổ trợ cho nhau để thúc đẩy sự phát triển của nớc nhà. Trong
đó, kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ những ngành, lĩnh vực chủ yếu
mà t nhân không muốn hoặc không đủ sức làm, còn những lĩnh vực khác sẽ do
khu vực t nhân đảm nhiệm. Hơn nữa khu vực t nhân có vai trò quyết định trong
việc hình thành và thực thi cơ chế điều tiết tự nhiên của nền kinh tế thị trờng.
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
3
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
Không thể có một nền kinh tế thị trờng thực thụ với một khu vực kinh tế t nhân ốm
yếu.
Mặc dù mới đợc chính thức thừa nhận và phát triển trong hơn chục năm qua
song khu vực t nhân của nớc ta đã có sự phát triển mạnh mẽ và khẳng định đợc vai
trò, vị trí của mình trong nền kinh tế. Hiện nay, khu vực KTTN đóng góp khoảng
40-50% tổng sảm phẩm trong nớc và là khu vực chủ yếu tạo ra công ăn việc làm
cho xã hội.
Trong khu vực t nhân, hộ kinh doanh cá thể có số lợng đông đảo, sử dụng
nhiều lao động xã hội, huy động nhiều vốn đầu t. Hộ kinh doanh cá thể là tiền đề,
là bớc tập dợt và bớc tích luỹ cho phát triển cao hơn về hoạt động sản xuất kinh
doanh là hình thức doanh nghiệp t nhân. Còn các doanh nghiệp t nhân đã góp phần
sản xuất hàng hoá có chất lợng cao, tham gia tích cực vào xuất khẩu, nhất là hàng
hoá nông sản. Sự hoạt động sôi động của các doanh nghiệp t nhân đã thúc đẩy
nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Bảng số 1: Các so sánh về lao động, vốn sử dụng, GDP tạo ra trong
KVKTTN năm 2000
triển KTTN không dẫn đến phục hồi chủ nghĩa t bản nếu nhà nớc biết cách sử
dụng và điều tiết nó hớng theo các mục tiêu của mình. Và Ngời cho rằng, những
ngời muốn xoá bỏ KTTN trong thời kỳ quá độ là dại dột và tự sát. Dại dột
vì về phơng diện kinh tế, chính sách ấy là không thể nào thực hiện đợc. Tự sát vì
những ngời nào định thi hành chính sách nh thế nhất định sẽ bị phá sản.
Nhà nớc muốn điều tiết nền kinh tế trên giác độ vĩ mô đòi hỏi chính phủ
phải nắm đợc những lực lợng chính của nền kinh tế nh: ngân hàng, truyền thông,
quốc phòng... Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc về tình hình phát triển kinh tế xã
hội của thế giới năm 1985 cho thấy: Khu vực kinh tế nhà nớc có mặt ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Đối với những nớc phát triển theo kế hoạch hoá, khu vực
kinh tế nhà nớc đóng vai trò chủ đạo. Nó hình thành trên cơ sở quốc hữu hoá quá
trình cải tạo xã hội chủ nghĩa và sự đầu t của nhà nớc để xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật cho xã hội chủ nghĩa. Đối với các nớc xã hội chủ nghĩa nói chung và Việt
Nam nói riêng, khu vực kinh tế nhà nớc có vai trò cực kỳ quan trọng, nó đợc tạo
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển.
Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trờng, do có tính năng động và hiệu quả,
KVKTTN lại đóng vai trò rất quan trọng. Nó giống nh cái van điều chỉnh làm
giảm thiểu những rủi ro và tăng tính linh hoạt cho nền kinh tế. Nếu không có một
KVKTTN đủ mạnh làm tiền đề thì nền kinh tế thị trờng không thể phát triển mạnh
mẽ.
Mối quan hệ giữa KVKTTN và kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng
hiện đại là quan hệ cạnh tranh giữa các lực lợng tham gia thị trờng và bình đẳng tr-
ớc pháp luật nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản cho nền kinh tế: sản xuất cái gì,
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
5
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
sản xuất nh thế nào và sản xuất cho ai?. Hai khu vực này có sự hợp tác, hỗ trợ và
thúc đẩy nhau cùng phát triển. Khu vực kinh tế nhà nớc không thể hoạt động có
hiệu quả nếu biệt lập với KVKTTN. Và ngợc lại, KVKTTN cũng không thể phát
huy hết thế mạnh nếu không đợc khu vực kinh tế nhà nớc giúp đỡ và tạo điều kiện
ơng mại nh những nhà tài trợ quan trọng cho khu vực t nhân khi cần vốn. Các ngân
hàng thơng mại ngày nay đang trong cuộc chạy đua cạnh tranh khốc liệt để có đợc
khách hàng. Cuộc cạnh tranh càng trở nên khó khăn với những ngân hàng có quy
mô nhỏ hoặc mới thành lập. Vì vậy đã khiến họ phải tìm đến những mảng thị tr-
ờng mới, với những khách hàng đang thực sự cần vốn. Các khách hàng thuộc khu
vực t nhân có quy mô không lớn nhng số lợng sử dụng các dịch vụ ngân hàng cao
sẽ là mục tiêu của các ngân hàng thơng mại, nhất là những ngân hàng khó tìm
kiếm đợc các hợp đồng lớn.
1.1.2.4. Khu vực KTTN là nơi rèn luyện, đào tạo kỳ năng quản lý cho
các nhà kinh doanh, nâng cao chất lợng lao động Việt Nam
Trong cơ chế thị trờng doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển thì phải
tự mình tìm cách vơn lên, luôn ứng dụng công nghệ mới, nâng cao chất lợng hàng
hoá và dịch vụ, nâng cao năng suất lao động Điều đó còn đòi hỏi các doanh
nghiệp phải thực sự năng động, có những chiến lợc kinh doanh và quản lý đúng
đắn để có thể phát huy thế mạnh sẵn có, tận dụng cơ hội và hạn chế rủi ro. Sự phát
triển của các doanh nghiệp t nhân là điều kiện tốt cho các nhà kinh doanh giỏi
đóng góp vào sự phát triển chung của đất nớc.
KVKTTN đã phát triển khá mạnh trong những năm gần đây và hoạt động
trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều đó có nghĩa là nguồn lao động cũng đợc
phân bố lại. Mỗi lĩnh vực cung cấp cho ngời lao động những kỹ năng và kinh
nghiệm nghề nghiệp khác nhau. Và nh vậy sự phát triển của nhân lực Việt Nam
phần nào đó nhờ sự phát triển của khu vực t nhân.
1.1.2.5. Khu vực KTTN thu hút vốn đầu t trong dân c và sử dụng tối u
các nguồn lực tại địa phơng
Từ trớc tới nay, khu vực kinh tế quốc doanh luôn đợc u tiên về nhiều mặt và
thờng đợc tổ chức với quy mô tơng đối lớn, đợc nhà nớc giao cho quản lý một số
ngành kinh tế mũi nhọn. Khu vực kinh tế này hoạt động do vốn nhà nớc cấp nên
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
7
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
8
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
1.1.3. Đặc điểm của khu vực kinh tế t nhân
Trong nền kinh tế thị trờng, mỗi khu vực kinh tế đều có những u thế và hạn
riêng. Đó chính là điểm khác biệt giữa từng khu vực.
1.1.3.1. Những u thế của khu vực kinh tế t nhân
Một là, KVKTTN rất năng động, nhạy bén và dễ thích nghi
với sự thay đổi của thị trờng.
Đây là một u thế nổi trội của khu vực t nhân. Với qui mô vừa và nhỏ, bộ
máy quản lý gọn nhẹ các doanh nghiệp t nhân và hộ kinh doanh cá thể dễ dàng
tìm kiếm và đáp ứng nhu cầu có hạn trong thị trờng chuyên môn hoá. Mặt khác,
họ thờng có mối liên hệ trực tiếp với thị trờng và ngời tiêu dùng nên có phản ứng
nhanh nhạy với sự biến động của nền kinh tế. Với cơ sở vật chất kỹ thuật không
lớn các doanh nghiệp t nhân có thể thờng xuyên đổi mới máy móc thiết bị, dễ
dàng chuyển đổi hay thu hẹp qui mô sản xuất mà không gây hậu quả nặng nề cho
xã hội.
Hai là, KVKTTN đợc tạo lập dễ dàng, hoạt động có hiệu
quả với chi phí cố định thấp.
Để thành lập một cở sở sản xuất kinh doanh chỉ cần số vốn đầu t ban đầu t-
ơng đối ít, mặt bằng sản xuất vừa phải. Với u thế đó, KVKTTN rất linh hoạt trong
việc học hỏi, phát triển và tránh những thiệt hại to lớn do môi trờng khách quan
tác động vào. Hơn nữa, một số hộ sản xuất kinh doanh đợc thành lập mang tính
gia đình, bạn bè nên mỗi khi gặp khó khăn ngời lao động và ngời chủ có thể tự
điều chỉnh tiền lơng, có tinh thần nỗ lực vợt bậc để cùng nhau vợt qua khó khăn.
Điều đó giúp họ giảm đợc chi phí cố định, tận dụng lao động để thay thế vốn bằng
tiền dùng vào mua sắm máy móc thiết bị với giá lao động thấp, có thể đạt hiệu quả
kinh tế cao.
Ba là, KVKTTN có thể phát huy tốt mọi tiềm năng sẵn có
tại các địa phơng.
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
10
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
xuất. Đến cuối năm 2000 vốn đăng ký kinh doanh khi mới thành lập của các
doanh nghiệp t nhân bình quân chỉ trên dới 1 tỷ đồng. Số vốn đăng ký kinh doanh
bình quân là 3,8 tỷ đồng một doanh nghiệp.
Theo báo cáo của các doanh nghiệp địa phơng đều cho rằng KVKTTN thiếu
vốn và phải vay ở thị trờng không chính thức với lãi suất cao và thời hạn ngắn. Họ
rất khó tiếp cận nguồn vốn của các ngân hàng thơng mại, nhất là nguồn vốn u đãi
của nhà nớc. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp t nhân còn non trẻ, tài
sản sẵn có ít nên không đủ thế chấp cho các khoản vay cần thiết. Mặt khác, họ cha
đủ uy tín để vay mà không cần thế chấp, nhiều doanh nghiệp t nhân cha biết lập
dự án đầu t, hoặc dự án có tính khả thi cha cao.
Qua báo cáo của Ngân hàng nhà nớc số 1227/NHNN- CSTT cho thấy doanh
số cho vay của các ngân hàng thơng mại đối với khu vực kinh tế t nhân mới chỉ
chiếm 15,7% trên tổng số cho vay của các ngân hàng năm 2000 và 6 tháng đầu
năm 2001 là 24,3%. Tổng số d nợ của KVKTTN chiếm 23,9% tổng d nợ chung
của ngân hàng năm 2000 và 22,6% trong 6 tháng đầu năm 2001. Điều đó chứng tỏ
các ngân hàng thơng mại là trung gian tài chính đắc lực trong việc cung cấp vốn
cho khu vực t nhân.
Hai là, khó khăn về đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh.
Hầu hết các doanh nghiệp t nhân ở nớc ta đợc thành lập và phát triển từ khi
có chủ trơng đổi mới của nhà nớc và tăng nhanh sau khi luật doanh nghiệp có hiệu
lực thi hành. Nhà nớc đã tiến hành giao quyền sử dụng đất theo luật đất đai do đó
về cơ bản không còn đất vô chủ, các doanh nghiệp t nhân ra đời muộn nên không
còn đợc u đãi về đất nh trớc. Chính vì vậy thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh
đang là trở ngại lớn đối với khu vực t nhân.
Nhiều doanh nghiệp t nhân phải sử dụng nhà ở hay đất đai của gia đình làm
nơi sản xuất kinh doanh nên rất chật hẹp, gây ô nhiễm môi trờng, ảnh hởng tới
sinh hoạt của dân c trong vùng. Một số cơ sở kinh doanh khác phải đi thuê lại đất
- Trong xã hội có phần định kiến với khu vực t nhân, cha nhìn nhận đúng
vai trò nhà kinh doanh t nhân trong xã hội. Do vậy có tâm lý e ngại, dè dặt không
muốn thúc đẩy khu vực này phát triển.
- Quan niệm coi kinh tế t nhân gắn với bóc lột, tự phát, luôn chỉ nhìn thấy
tiêu cực nh làm hàng giả, trốn lậu thuế, gian lận thơng mại đã dẫn đến tâm lý kỳ
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
12
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
thị, phân biệt đối sử khu vực này trong một số không nhỏ cán bộ cấp Đảng, nhà n-
ớc.
- Trên các phơng tiện thông tin đại chúng có không ít những bài viết, phóng
sự phóng đại mặt tiêu cực của khu vực t nhân mà ít đề cập những mặt tích cực,
những vai trò quan trọng của nó. Những doanh nhân thờng đợc gọi với những tên
nh con buôn, t thơng cũng góp phần làm giảm uy tín, độ tin cậy trong quan
hệ giao dịch, ảnh hởng không nhỏ tới hiệu quả và thời cơ kinh doanh của họ.
- Vẫn còn những định kiến, tâm lý về so sánh vị trí giữa ngời lao động trong
các cơ quan nhà nớc với ngời lao động trong các khu vực t nhân, cho rằng công
nhân trong doanh nghiệp nhà nớc mới là giai cấp lãnh đạo, còn những ngời lao
động khác do không còn cách nào mới phải làm việc ở khu vực t nhân.
Tóm lại, tuy môi trờng pháp lý và tâm lý xã hội sau khi luật doanh nghiệp
ra đời đã tạo thuận lợi nhiều hơn trớc song hoạt động thực tiễn KVKTTN vẫn còn
gặp nhiều khó khăn hơn các loại hình doanh nghiệp khác, khiến nhiều ngời e ngại
không dám đầu t hoặc chỉ đầu t ở mức độ cầm cự. Điều này ảnh hởng không nhỏ
đến việc huy động các nguồn lực, tiềm năng của KVKTTN.
Bốn là, khó khăn của chính bản thân khu vực t nhân.
Nhìn chung, KVKTTN còn gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hiệu quả
sản xuất, kinh doanh trong khoảng thời gian dài và đảm bảo sức cạnh tranh cần
thiết, nhất là khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế do:
- KVKTTN ở nớc ta mới ở trình độ thấp, tổ chức theo hình thức kinh tế hộ
gia đình cá thể còn chiếm đại đa số, hình thức doanh nghiệp t nhân tuy đã phát
nhất một lần đợc hởng những lợi ích do hoạt động của ngân hàng mang lại. Vậy
ngân hàng là gì?
Vì hoạt động ngân hàng có liên quan hầu hết tới các lĩnh vực trong nền kinh
tế nên khó có thể đa ra một khái niệm thống nhất về ngân hàng. Xét trên phơng
diện các loại hình dịch vụ cung cấp có thể coi ngân hàng là loại hình tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán. Song dới giác độ nghiên cứu của một nhà
quản lý, chúng ta có khái niệm tổng quát về ngân hàng nh sau: Ngân hàng là một
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
14
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
loại hình tổ chức tín dụng đợc thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan theo tính chất và mục tiêu hoạt động.
(Luật các tổ chức tín dụng và văn bản hớng dẫn thi hành trang 14).
1.2.1.2. Khái niệm và phân loại hoạt động cho vay
Cho vay đợc coi là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng để tài trợ
cho mục đích chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ.
Hoạt động cho vay của ngân hàng có mối liên hệ mật thiết với tình hình phát triển
kinh tế tại khu vực mà ngân hàng phục vụ bởi cho vay thúc đẩy sự tăng trởng của
các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế. Mặt khác thông qua hoạt động
cho vay của ngân hàng, thị trờng sẽ có thêm thông tin về chất lợng tín dụng của
từng khách hàng và nhờ đó giúp họ có thêm các khoản tín dụng mới từ những
nguồn khác với chi phí thấp hơn.Đối với hầu hết các ngân hàng khoản mục cho
vay thờng chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của
ngân hàng.
Vậy hoạt động cho vay là gì? Chúng ta có thể đa ra một khái niện chung
nhất về hoạt động cho vay nh sau: Cho vay là việc ngân hàng đa tiền cho khách
hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc lần lãi trong khoảng thời
gian xác định (Giáo trình: Ngân hàng thơng mại quản trị và nghiệp vụ, TS.
Phan Thị Thu Hà- TS. Nguyễn Thị Thu Thảo)
năm và mục đích sử dụng chủ yếu là để bù đắp sự thiếu hụt vốn tạm thời
nh phục vụ cho thanh toán tiền hàng, tài trợ vốn lu động
+ Cho vay trung hạn: Là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ 1- 5
năm và thờng đợc sử dụng để đổi mới trang thiết bị, mua sắm máy móc mà
thời gian khấu hao thờng không quá dài để có thể hoàn trả vốn đúng hạn
cho ngân hàng.
+ Cho vay dài hạn: Là những khoản vay có thời hạn > 5 năm và th-
ờng dùng để xây nhà xởng, đầu t công nghệ cho những dự án lớn có thời
gian thu hồi vốn dài.
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
16
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
- Căn cứ theo đối tợng khách hàng:
+ Cho vay các chế định tài chính bao gồm: Các ngân hàng thơng mại
khác, các công ty tài chính, bảo hiểm, quĩ tín dụng nhân dân
+ Cho vay các tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc khu vực nhà nớc.
+ Cho vay các tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc khu vực t nhân.
- Căn cứ theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
+ Cho vay không có bảo đảm: Là hình thức vay không cần tài sản thế
chấp, cầm cố hay sự bảo lãnh của ngời thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng.
+ Cho vay có bảo đảm: Là loại hình cấp tín dụng dựa trên cơ sở đảm
bảo nh thế chấp hay cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Những
khách hàng cha có uy tín cao khi muốn vay vốn thì đòi hỏi phải có tài sản
đảm bảo để làm căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai bổ
sung cho nguồn thu thứ nhất thiếu chắc chắn.
- Căn cứ theo phơng thức cho vay:
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là hình thức cấp tín dụng mà ngân
hàng và khách hàng cùng kí kết một hợp đồng hạn mức trong đó qui định
khối lợng tín dụng mà khách hàng đợc phép vay trong một thời gian nhất
hết máy móc thiết bị là dùng lại của các nớc đi trớc, tuổi thọ lên tới hàng chục
năm. Vì thế các sản phẩm sản xuất ra có giá thành cao, năng suất thấp, chất lợng
hạn chế, mẫu mã đơn điệu khó cạnh tranh với hàng ngoại nhập.
Nhu cầu đổi mới, cải tạo công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp là hoàn
toàn phù hợp và cần thiết. Nhng đối với khu vực t nhân, để có lợng vốn đầu t lớn
nh vậy là rất khó. Giải pháp hữu hiệu nhất đối với họ là tìm tới nguồn tín dụng của
các ngân hàng thơng mại. Với khả năng của mình các ngân hàng thơng mại có thể
hỗ trợ cho các doanh nghiệp qua hình thức: cho vay từng lần, cho vay theo hạn
mức, cho vay hợp vốn
Thông qua họat động cho vay, ngân hàng giúp các đơn vị sản xuất kinh
doanh sử dụng vốn có hiệu quả hơn. Đối với bất kỳ khoản cho vay nào ngân hàng
cũng phải luôn giám sát, theo dõi xem khách hàng của mình có sử dụng đúng mục
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
18
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
đích vay không, và sử dụng có hiệu quả không?. Khi có bất kỳ dấu hiệu nào cho
thấy khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích, ngân hàng có thể thu hồi vốn
hoặc ngừng giải ngân. Nhờ có những qui định chặt chẽ đó đã giúp các doanh
nghiệp đi đúng hớng sản xuất kinh doanh và giúp ngân hàng thu hồi đợc nợ đúng
hạn.
1.2.3. Lý do cần đẩy mạnh hoạt động cho vay của ngân hàng đối với sự
phát triển khu vực kinh tế t nhân
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, thời gian qua KVKTTN nớc ta
đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về chất và lợng. Có đợc kết quả này là do kinh tế t
nhân đã đợc Nhà nớc tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nhất là từ sau khi ra đời
luật doanh nghiệp. Vai trò của KVKTTN càng trở nên quan trọng hơn khi chúng
ta đang phấn đấu đạt mục tiêu tăng trởng kinh tế cao và ổn định, trong điều kiện
khu vực doanh nghiệp nhà nớc ngày càng bộc lộ nhiều yếu kém. Vai trò của
KVKTTN lại phụ thuộc lớn vào hạt nhân của mình là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ (DNVVN). Bởi DNVVN không chỉ huy động lợng vốn nhàn rỗi còn rất lớn
chủ nhỏ hơn là đồng chủ một công ty lớn, với chiết lý một mình một ngựa vẫn
đợc cuộc sống chấp nhận. Bởi vậy tình trạng kinh doanh không ổn định cha đợc
định hớng lâu dài, kinh doanh theo kiểu phi vụ nh vừa qua một phần lớn do vốn
ít và công nghệ lạc hậu sinh ra.
Để đáp ứng đợc nhu cầu sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc khu
vực này thờng giải quyết nhu cầu vốn dựa vào nguồn tài chính phi chính thức: có
thể huy động vốn của ngời thân hoặc đi vay vốn của t nhân với lãi suất cao không
cần thế chấp và ít tiếp cận đợc các nguồn tín dụng ngân hàng (NH) do không có
những đảm bảo cần thiết. Mặc dù thị trờng chứng khoán đã đi vào hoạt động đợc
gần 3 năm nhng cha thựa sự trở thành thị trờng vốn dài hạn và ổn định cho các
doanh nghiệp thuộc khu vực này (do khả năng của các doanh nghiệp nhân doanh
cha thể tiếp cận đợc). Hiện nay cũng cha có tổ chức tài chính trung gian nào đứng
ra bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp t nhân. Nhìn chung các doanh nghiệp
này đều mong muốn tiếp cận đợc nguồn vốn vay của ngân hàng.
Xuất phát từ thực tế đó, việc đẩy mạnh hoạt động cho vay của ngân hàng
đối với khu vực KTTN là rất cần thiết.
1.3. Các nhân tố ảnh hởng tới cho vay khu vực kttn
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
20
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
1.3.1. Quan niệm về đẩy mạnh cho vay khu vực KTTN
Nh chúng ta đã biết một trong nguyên nhân làm KTTN cha phát huy hết
khả năng, vai trò vốn có của nó là thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.
Vì vậy việc đẩy mạnh hoạt động cho vay KTTN của các ngân hàng thơng mại là
cần thiết. Quan niệm về đẩy mạnh cho vay KTTN có thể đợc hiểu qua một số góc
độ sau:
- Mở rộng cho vay với mọi đối tợng khách hàng thuộc KVTN, trong đó tập
chung cho vay các công ty t nhân, công ty TNHH hoạt động sản xuất kinh
doanh những sản phẩm dịch vụ mà Nhà nớc khuyến khích, những sản phẩm hàng
tiêu dùng thiết yếu.
chế liên quan tới hoạt động ngân hàng nh: cấm ngân hàng không đợc cho vay đối
với hội đồng quản trị của ngân hàng đó hay qui định tỷ lệ cho vay cao nhất đối với
một khách hàng / vốn của chủ Đặc biệt lãi suất cho vay của ngân hàng phải dựa
trên khung lãi suất mà chính phủ đa ra. Một sự thay đổi nhỏ trong chính sách lãi
suất có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong cơ cấu tín dụng cũng nh danh mục đầu t
của ngân hàng. Khi Chính phủ đa ra mức lãi suất trần quá cao sẽ làm cho các ngân
hàng gặp khó khăn trong việc cho vay nhất là với khu vực t nhân. Bởi vay với lãi
suất cao, họ khó có thể làm ăn có lãi sau khi trả nợ cho ngân hàng.
b. Tình hình kinh tế, chính trị xã hội trong và ngoài nớc
Sự biến động của môi trờng chính trị xã hội sẽ có ảnh hởng không nhỏ tới
hoạt động cho vay của ngân hàng cũng nh nhu cầu vay vốn của khách hàng. Các
doanh nghiệp t nhân vì hoạt động trong một môi trờng xã hội không thể lờng trớc
đợc những biến động sẽ xảy ra nên họ rất dè chừng nhất là khi quyết định vay một
khoản vốn lớn. Một sự thay đổi nhỏ của tình hình chính trị trong và ngoài nớc ít
nhiều ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nh sự kiện
khủng bố 11/9 ở Mỹ hay dịch SAR năm 2003 đã khiến không ít các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu t nhân rơi và khó khăn do hàng hoá không đợc lu thông hoặc hợp
đồng bị phá vỡ. Vì vậy mà nhu cầu vay vốn mở rộng qui mô, nâng cao công nghệ
sản xuất cũng thay đổi. Do phải tự mình chống đỡ những rủi ro xảy ra nên nhu cầu
vay vốn của KVKTTN luôn luôn thay đổi làm ảnh hởng tới hoạt động tín dụng của
ngân hàng thơng mại.
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
22
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
Bên cạnh môi trờng chính trị, sự diễn biến của giá cả thị trờng, tình hình
lạm phát, thấp nghiệp cũng ảnh hởng không nhỏ tới hoạt động cho vay của ngân
hàng. Trong thời gian gần đây, giá cả các loại hàng hoá đều gia tăng làm ảnh hởng
tới tình hình tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh, nhất
là các doanh nghiệp t nhân vì phần lớn họ tham gia sản xuất những mặt hàng tiêu
dùng thiết yếu nên giá cả gia tăng đã trực tiếp làm giảm cầu. Vì vậy mà việc mở
trái phiếu làm tăng khả năng tạo vốn cho ngân hàng. Từ đó giúp ngân hàng dễ
dàng thực hiện các hợp đồng cho vay, đầu t và kinh doanh khác.
c. Lãi suất huy động và cho vay
Lãi suất là một trong những nhân tố làm tăng khả năng cạnh tranh và thu
hút khách hàng về phía mình. Để tạo ra nhiều vốn đáp ứng các nhu cầu thanh toán,
cho vay, đâu t kinh doanh các ngân hàng phải có chính sách lãi suất hợp lý sao
cho lãi suất huy động vừa kích thích ngời gửi tiền vừa hấp dẫn ngời vay vốn.
Các ngân hàng hoạt động bằng cách đi vay để cho vay. Có thể coi lãi suất
huy động là một phần giá cả đầu vào của ngân hàng. Tuy hiện nay các ngân hàng
thơng mại áp dụng cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận nhng lãi suất đó cũng phải
dựa trên cơ sở bù đắp chi phí huy động và đem lại lợi nhuận ngân hàng. Giả sử lãi
suất thị trờng tăng cao, ngân hàng sẽ phải định giá sản phẩm tín dụng cao hơn.
Điều đó một phần làm cho sản phẩm của ngân hàng kém hấp dẫn, lợng khách
hàng có xu hớng giảm, doanh số cho vay giảm.
d. Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng
Với mọi khách hàng nói chung, nếu trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân
hàng càng cao thì ngân hàng sẽ càng đảm bảo đợc an toàn vốn, tăng uy tín và tạo
điều kiện thu hút khách hàng. Đặc biệt với khách hàng thuộc khu vực t nhân, họ
phải hoàn toàn tự lực trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ cũng nh gánh chịu mọi hậu
quả khi có rủi ro xảy ra, do vậy đứng trớc một hồ sơ vay vốn của các khách hàng
này, các cán bộ tín dụng phải thực sự có trình độ để phân tích giúp họ tính khả thi
cũng nh các điểm cần bổ sung trong dự án. Có nh vậy những khoản vay của ngân
hàng mới đảm bảo đợc hoàn trả đúng hạn.
SV. Hán Thị Phơng Thảo Lớp Tài Chính 42B
24
Chuyên đề thc tập tốt nghiệp
Ngoài ra, không chỉ năng lực trình độ cán bộ ngân hàng mà còn thái độ của
họ đối với công việc cũng ảnh hởng tới chất lợng hoạt động cho vay của ngân
hàng. Hơn ai hết nhân viên ngân hàng là ngời trực tiếp giao dịch với khách hàng,
nếu họ luôn cởi mở nhiệt tình, luôn tạo thụân lợi cho khách hàng sẽ gây đợc uy tín