Biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại MB - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp *** Khoa Ngân hàng-Tài chính
Lời nói đầu
Trong quá trình phát triển của một đất nớc, Ngân hàng đóng vai trò rất quan
trọng. Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế chỉ có thể
phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định và có
hiệu quả, không thể có tăng trởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của ngân
hàng yếu kém và lạc hâụ. Nh vậy, đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tơng xứng và
hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực lu thông tiền tệ.
Điều hoà lu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín
dụng là xơng sống của hệ thống Ngân hàng thơng mại, cụ thể là quá trình huy động
vốn và sử dụng vốn hiệu quả của ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát
triển ổn định và ngợc lại.
Nớc ta đang trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, với đờng lối phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của nhà nớc đã tạo tiền đề khách
quan cho sự khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh với những tiềm năng và u thế sẵn có đã nhanh chóng thích nghi
với cơ chế kinh tế thị trờng, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng không
thể thiếu của mình trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.
Hoạt động của ngân hàng có nhiều bớc chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong
nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành
phần kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn nh sự không trung thực của khách hàng, vốn
vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế đều có
thể biến một khoản vay có chất lợng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là cha kể
đến những kẽ hở do hệ thống pháp luật cha hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho
khách hàng và ngân hàng trong quá trình hoạt động cũng nh tạo điều kiện cho những
ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ Ngân hàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
của nhà nớc. Đây là mối đe doạ mà bất cứ Ngân hàng nào cũng phải đơng đầu .
Nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng Thơng mại, đặc
biệt đối với Ngân hàng Thơng mại Cổ phần Quân đội là phải nâng cao chất lợng tín
dụng, đa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối với các thành
phần kinh tế nói chung và đối với kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.

Ngân hàng thơng mại và rủi ro tín dụng của ngân
hàng thơng mại trong nền kinh tế thị trờng
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40
2
Luận văn tốt nghiệp *** Khoa Ngân hàng-Tài chính
I. Ngân hàng thơng mại và vai trò của nó trong nền
kinh tế thị trờng
1. Vài nét về ngân hàng thơng mại
1.1. Nguồn gốc, định nghĩa
Khi sản xuất phát triển trao đổi hàng lấy hàng không thể đáp ứng đợc yêu cầu
của lu thông hàng hoá, để đáp ứng đợc yêu cầu đó tiền đã xuất hiện đóng vai trò là
vật trung giản trong quá trình trao đổi, lu thông. Khi tiền ra đời lu thông hàng hoá
trở nên dễ dàng hơn và sản xuất cũng phát triển hơn. Nhng mỗi vùng lãnh thổ lại có
một đồng tiền khác nhau, sự khác biệt giữa các đồng tiền của các khu vực đã gây
khó khăn cho lu thông hàng hoá cho các vùng này.
Có một số thơng gia tách ra làm nhiệm vụ đổi tiền cho các thơng gia kinh
doanh, đó là những thơng gia tiền tệ. Tuy nhiên với sự phát triển mạnh mẽ của sản
xuất hàng hoá, nhu cầu tiền tệ tăng lên vì thế đã phát sinh nghiệp vụ cho vay. Các th-
ơng gia tiền tệ đã chuyển hoàn toàn từ hoạt động kinh doanh hàng hoá sang kinh
doanh tiền tệ, đó chính là tiền thân của ngân hàng thơng mại.
Tại những nớc phát triển ngân hàng thơng mại ra đời sớm hơn Ngân hàng Quốc
gia hàng thế kỷ, Ngân hàng Quốc gia ra đời trên cơ sở một trong những ngân hàng
thơng mại lớn, có nguồn gốc khổng lồ nhất, thoát ly hẳn việc trực tiếp cho vay đối
với các doanh nghiệp, mà chỉ cho vay đối với các ngân hàng thơng mại; ngân hàng
này trở thành ngân hàng phát hành, sau đó đợc Nhà nớc quốc hữu hoá bằng cách
mua lại và trở thành Ngân hàng Quốc gia.
Mặc dù ngân hàng thơng mại ra đời từ rất lâu nhng các nhà kinh tế học, các nhà
nghiên cứu vẫn cha nhất trí với nhau về định nghĩa ngân hàng thơng mại, đó là do sự
khác biệt về luật pháp, phong tục tập quán, số lợng các nghiệp vụ ngân hàng, điều
kiện nền kinh tế

riêng, từng lĩnh vực phạm vi nhất định.
1.3. Các chức năng cơ bản của ngân hàng thơng mại
1.3.1. Tạo tiền
Một trong những chức năng chủ yếu của ngân hàng thơng mại là tạo tiền và
huỷ tiền.
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40
4
Luận văn tốt nghiệp *** Khoa Ngân hàng-Tài chính
Chức năng tạo tiền xuất phát từ chính nhu cầu bên trong của mỗi ngân hàng th-
ơng mại riêng lẻ và sự tăng trởng của toàn hệ thống, thông qua các hoạt động tín
dụng, đầu t và thanh toán.
Trong mỗi ngân hàng riêng lẻ, khả năng tạo tiền chỉ đạt từ trên một lần đến giữa
hai lần tuỳ theo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Mỗi khoản tiền gửi của khách hàng gửi vào
ngân hàng, đợc ngân hàng lu giữ tại quỹ nghiệp vụ của ngân hàng, đồng thời phản
ánh trên tài khoản của khách hàng. Sau đó khách hàng trích tài khoản thực hiện
thanh toán không dùng tiền mặt. Thông qua các bút toán này, dùng tiền ghi sổ và
thanh toán chuyển khoản, để tạo ra một khoản tiền mới.
Đối với toàn hệ thống ngân hàng thơng mại thì bội số tạo tiền còn lớn đến mức
kinh ngạc.
Một khoản tiền mặt gửi vào ban đầu của khách hàng là U1, ngân hàng thơng
mại đầu tiên này để lại dự trữ 10% chẳng hạn. Còn lại số tiền U2 bằng 90% (tức
9/10) số tiền U1 đem cho vay hoặc thực hiện các bút toán thanh toán. Đến ngân
hàng tiếp theo nhận đợc các giấy tờ thanh toán hoặc cho vay là U3 bằng 90% U2 nói
trên. Cứ thế, hệ thống ngân hàng thơng mại đã tạo ra một bội số tiền tệbằng tất cả
U1,U2,U3, ,Un so với khoản tiền gửi U1 ban đầu.
Tuy nhiên khi chuyển dịch nh vậy, chúng cũng có giới hạn nhất định, tức là khi
n tiến tới vô cùng thì khoản tiền Un cũng tiến tới không(0). Tổng số tiền mà hệ
thống ngân hàng thơng mại tạo ra đã là một con số rất lớn, tính theo công thức của
một cấp số nhân lùi vô hạn ta có:
Sn = U1 + U2 + + Un = U1(1- q

Chức năng thanh toán là chức năng cổ truyền của ngân hàng thơng mại. Ngày
nay những sản phẩm hiện đại của nó là những tấm các điện tử, những tấm mica thay
cho vàng bạc châu báu, thay cho tiền tệ, là do sự phát triển của chức năng này.
1.3.3. Tín dụng
Phạm trù tín dụng trở thành chức năng của ngân hàng thơng mại ngay từ thuở
ngân hàng chào đời. Tín dụng bao hàm ý nghĩa huy động vốn, thu hút tiền gửi và
cho vay.
Các nhà khoa học kinh tế đã coi ngân hàng là một ngành công nghiệp, thì việc
cung ứng tín dụng đợc coi nh việc thực hiện một trong các sản phẩm chủ yếu, một
sản phẩm gián tiếp. Sản phẩm này đem ra tiêu dùng sẽ tạo ra việc làm, tạo ra sản
phẩm xã hội do khai thác tài nguyên.
Trong nền kinh tế thị trờng, đại bộ phận quỹ cho vay tập trung qua ngân hàng
và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các doanh nghiệp và cá nhân. Tín dụng
ngân hàng không những chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để bổ sung vốn lu động
cho các doang nghiệp và cá nhân mà còn tham gia cấp vốn cho đầu t xây dựng cơ
bản, đổi mới cải tiến kỹ thuật công nghệ sản suất. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn
đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Nh vậy, tín dụng ngân
hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trờng, nó đáp ứng nhu cầu
về vốn cho nền kinh tế rất linh hoạt và kịp thời.
1.3.4. Cung ứng dịch vụ Ngân hàng
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40
6
Luận văn tốt nghiệp *** Khoa Ngân hàng-Tài chính
Một xã hội văn minh đợc đánh giá bằng hệ thống cung ứng dịch vụ, một chức
năng quan trọng của ngân hàng hiện đại cũng đợc phát triển theo sự tiến bộ của nền
văn minh. Đó là dịch vụ ngân hàng.
Ngân hàng thơng mại cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp, các nhà xuất
khẩu và khách hàng là cá nhân những loại dịch vụ thông thờng và thanh toán chuyển
tiền uỷ thác, t vấn đầu t, mua trả góp, các dịch vụ lữ hành . Ngày nay hiện đại hơn
là các loại thẻ điện tử, máy rút tiền tự động, dịch vụ chứng khoán, các dịch vụ ngân

cạnh tranh, ngày nay các ngân hàng thờng cho phép rút tiền trớc hạn nhng hởng lãi
suất không kỳ hạn.
Ngoài ra còn có các loại tiền gửi khác nh: Tiền gửi theo thời gian thực gửi, tiền
gửi báo trớc( khi rút tiền phải báo trớc 8- 15 ngày),
Các khoản tiền gửi của các tổ chức, cá nhân là rất quan trọng đối với ngân hàng
nhng không phải là tất cả. Trong những trờng hợp nhất định ngân hàng cũng có thể
đi vay các ngân hàng và các tổ chức khác, vay của Ngân hàng Trung ơng hoặc của
ngân hàng mẹ.
Thời hạn của các khoản vay khác nhau, có khi kéo dài vài năm, cũng có thể chỉ
vài ngày ( vay qua đêm, vay hôm nay ngày kia trả ).
Trong các hình thức đi vay thì vay từ dân c và vay từ các tổ chức thông qua phát
hành trái phiếu, kỳ phiếu có chi phí thấp hơn các hình thức khác. Còn khi vay qua
các tổ chức tín dụng khác thì chi phí sẽ cao hơn do đã qua một trung gian ( tổ chức
tín dụng ). Gần nh cuối cùng các ngân hàng thơng mại mới đi vay từ Ngân hàng
Trung ơng bởi mức lãi suất cao hơn và kèm theo những điều kiện khắt khe.
Vốn tự có của ngân hàng tuy chiếm tỷ lệ nhỏ nhng nó rất quan trọng, nó quyết
định quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng.
1.2.4.Nghiệp vụ Có
Đồng thời với việc thực hiện nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng phải sử dụng
vốn sao cho có hiệu quả, khả năng sinh lời cao để trang trải cho các hoạt động của
ngân hàng và có lợi nhuận.
Nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng đợc thể hiện qua các nghiệp vụ sau:
- Hoạt động ngân quỹ:
Là hoạt động nhằm đảm bảo khả năng thanh toán thờng xuyên của ngân hàng
cho khách hàng. Ngân hàng phải thờng xuyên xác định số tiền mặt tại quỹ; số tiền
gửi tại Ngân hàng Trung ơng và tại các ngân hàng khác. Đây là các tài sản không
sinh lời hoặc sinh lời thấp, nhng là khoản có tính lỏng cao. Ngân hàng phải duy trì l-
ợng tài sản này ở một mức hợp lý sao cho vừa đảm bảo khả năng thanh khoản, vừa
bảo đảm khả năng sinh lợi.
+ Tiền mặt tại quỹ: Bao gồm tiền giấy, tiền kim loại, ngân phiếu thanh toán

Ngân hàng dùng tiền tham gia vào thị trờng chứng khoán với t cách là ngời mua
cổ phiếu để hởng lợi tức hoặc góp vốn liên doanh Mặt khác ngân hàng có thể kinh
doanh chứng khoán bằng cách mua chứng khoán với gía thấp hơn và bán với giá cao
hơn nhằm thu chênh lệch giá.
1.4.2. Nghiêp vụ trung gian.
Ngoài nghiệp vụ Nợ và nghiệp vụ Có, Ngân hàng còn cung cấp cho khách hàng
hàng loạt dịch vụ qua đó ngân hàng nhận đợc thu nhập dới hình thức hoa hồng. Khi
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40
9
Luận văn tốt nghiệp *** Khoa Ngân hàng-Tài chính
hệ thống ngân hàng phát triển thì nghiệp vụ trung gian càng phát triển và đem lại tỷ
trọng thu nhập ngày càng cao cho ngân hàng. Các họat động trung gian bao gồm:
- Dịch vụ thanh toán và cung ứng phơng tiện thanh toán: Ngân hàng thực hiện
thanh toán hộ cho khách hàng các khoản mua bán hàng hoá, dịch vụ thu hộ,
chi hộ thông qua tài khoản của khách hàng hoặc dới các hình thức séc, uỷ
nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, th tín dụng, thẻ tín dụng
- Dịch vụ bảo lãnh: Ngân hàng thực hiện bảo lãnh cho các công ty phát hành
chứng khoán, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh mua
bán hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo lãnh thực hiện công trình, bảo lãnh thanh
toán
- Dịch vụ môi giới: Ngân hàng làm việc mua bán các chứng khoán cho khách
hàng. Ngoài ra, ngân hàng cũng thực hiện mua bán hộ chứng khoán, vàng bạc, đá
quý, ngoại tệ.
- Dịch vụ ngân quỹ: Ngân hàng thực hiện thu hộ và phát tiền mặt cho khách
hàng, ngân hàng đóng vai trò nh một ngời thủ quỹ của doanh nghiệp.
- Dịch vụ chuyển tiền: Trong đó nổi bật là dịch vụ chuyển tiền nhanh Western
Union, đối với các ngân hàng trong cùng hệ thống thì chỉ cần sau 15 phút gửi tiền
ngời nhận đã có thể nhận đợc.
- Dịch vụ t vấn: Dịch vụ này giúp khách hàng trong các lĩnh vực liên quan đến tài
chính, ngân hàng, hoạt động tiền tệ.

mại thực hiện nhiệm vụ mà Ngân hàng Trung ơng giao phó, các Ngân hàng thơng
mại cổ phần luôn luôn cố gắng đạt lợi nhuận tối đa để tự khẳng định mình. Nh với
mọi ngân hàng thơng mại khác, hoạt động chính của Ngân hàng thơng mại cổ phần
là hoạt động tín dụng, nó đem lại 70 - 80% thu nhập cho ngân hàng. Chính vì vậy
thông qua hoạt động huy động vốn, các Ngân hàng thơng mại đã góp phần tích cực
tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi cho các thành phần kinh tế. Trên cơ sở đó các
Ngân hàng thơng mại Cổ phần lại bơm nguồn tiền đó trở lại nền kinh tế, đáp ứng
nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất và mở rộng với quy mô ngày càng lớn cả về
chiều rộng lẫn chiều sâu. Việc tập trung và phân phối tín dụng đã góp phần điều hoà
vốn trong toàn bộ nền kinh tế Quốc dân. Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa tiết
kiệm và đầu t, là động lực khuyến khích tiết kiệm và đầu t.
Nh vậy hệ thống ngân hàng thơng mại nói chung và các Ngân hàng thơng mại
cổ phần nói riêng là cánh tay đắc lực của Ngân hàng Trung ơng, góp phần nâng cao
chất lợng điều hoà tiền tệ, thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nớc, kìm chế
và đẩy lùi lạm phát, tạo ra môi trờng kinh doanh ổn định.
2.2. Đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng cho đầu t phát triển
Trong nền kinh tế thị trờng, các tổ chức sản xuất kinh doanh luôn phải cạnh
tranh gay gắt với nhau nếu không muốn tụt hậu và đào thải. Do đó, nhu cầu đầu t
phát triển không những là nhu cầu tự thân mà còn do đòi hỏi của cơ chế thị trờng. Để
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40
11
Luận văn tốt nghiệp *** Khoa Ngân hàng-Tài chính
có thể mở rộng, phát triển sản xuất các doanh nghiệp cần có nhiều yếu tố nh: nguồn
nhân lực, công nghệ, đất đai, kỹ thuột, vốn Tuy nhiên, có thể khẳng định vốn là
quan trọng nhất vì nếu có vốn doanh nghiệp sẽ có đợc các yếu tố khác do thị trờng
luôn sẵn sàng cung ứng. Để có vốn, các doanh nghiệp có thể tìm kiếm ở các nguồn
nh chiếm dụng vốn của đơn vị cùng làm ăn, đi vay trên thị trờng chợ đen nh ng
những hình thức này không ổn định mà chi phí lại lớn. Bởi vậy, thờng thì các doanh
nghiệp tìm đến Ngân hàng. Đối với hầu hết khách hàng, ngân hàng là một trong
những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh

hoạt động kinh tế xã hội. Hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp
phải tăng nhanh vòng quay vốn. Cơ hội kinh doanh không nhiều và chỉ mang tính
thời điểm. Trong môi trờng cạnh tranh khốc liệt này, vốn đầu t là yếu tố quyết định
sự thành bại của một doanh nghiệp, hầu hết các doanh nghiệp đều tìm đến ngân
hàng. Tuy nhiên, để đợc vay vốn không chỉ đối với Ngân hàng Quốc doanh mà cả
đối với Ngân hàng thơng mại cổ phần, các doanh nghiệp phải chứng tỏ đợc tính khả
thi của dự án đầu t, sự lành mạnh của tình hình tài chính cũng nh khả năng hoàn trả
lãi và gốc đúng hạn. Nguồn vốn của ngân hàng không phải là vô hạn nên chỉ những
dự án có mức sinh lời cao mới đợc ngân hàng xét duyệt. Các đơn vị kinh tế, cá nhân
khi vay vốn ngân hàng đều phải cam kết thực hiện đầy đủ các điều kiện nhằm đảm
bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả phù hợp với điều kiện sản xuất kinh
doanh của đơn vị. Nếu không thực hiện đúng cam kết, các doanh nghiệp phải chịu
lãi suất phạt, tài sản thế chấp bị phát mại và quan trọng hơn là uy tín của doanh
nghiệp bị giảm sút. Đây là một khó khăn đối với doanh nghiệp trong lần vay vốn lần
sau.
Chính vì những lý do trên, các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để tăng
hiệu quả sử dụng vốn nh tăng năng suất, tăng chất lợng sản phẩm, hạ giá thành
nhằm tạo ra lợi nhuận cao hơn, đồng thời hoàn thiện công tác hạch toán kế toán.
Điều này sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh đợc với các doanh nghiệp khác trong
công cuộc chạy đua đầy khốc liệt này. Nh vậy ngân hàng đã gián tiếp thúc đẩy các
doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát
triển.
2.5. Công cụ tài trợ cho các thành phần kinh tế kém phát triển và các ngành
mũi nhọn
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền
kinh tế rồi đầu t trở lại cho các ngành kinh tế cần vốn. Nhng việc cho vay này không
phải trả đều cho các chủ thể có nhu cầu mà việc đầu t đợc thực hiện qua một quá
trình thẩm định kỹ lỡng. Quá trình này là rất quan trọng đối với các ngân hàng thơng
mại nói chung và Ngân hàng cổ phần nói riêng, nó mang tính sống còn của ngân
hàng. Tuy nhiên đất nớc ta đang trên con đờng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, có

- Lực lợng sản xuất phát triển, một mặt thúc đẩy sản xuất nhng mặt khác chính sự
phát triển đó cũng gây ra nhiều tai hoạ cho con ngời nh tai nạn giao thông (ô tô, máy
bay, tàu biển, xe lửa ), tai nạn lao động
- Môi trờng xã hội cũng là một trong những nguyên gây ra rủi ro cho con ngời:
mất cắp, mất trộm tài sản, ốm đau, bệnh tật, hoả hoạn
- Một nguyên nhân chủ quan của con ngời đó là trình độ hiểu biết kém, không
cập nhật những thông tin cần thiết dẫn tới rủi ro xẩy ra. Đặc biệt là trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, rủi ro có thể làm giảm lợi ích kinh doanh của con ngời và có
thể sẽ làm cho con ngời bị phá sản. Sự tồn tại của rủi ro là một tất yếu khách quan,
nó xẩy ra sẽ mang lại những hậu quả nghiêm trọng làm ảnh hởng đến cuộc sống của
con ngời. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh đợc liên tục, con ngời đã tìm đến các biện pháp để xử lý rủi ro. Các biện pháp
để xử lý rủi ro gồm hai nhóm:
Nhóm một: Các biện pháp đề phòng rủi ro. Đây là các biện pháp đợc sử dụng khi
cha có rủi ro xảy ra. Trên thực tế các biện pháp này đối với một số rủi ro chỉ có tính
chất phòng ngừa chứ không làm mất đi tính rủi ro.
Nhóm hai: Các biện pháp khắc phục, hạn chế hậu quả của rủi ro. Đây là các biện
pháp đợc sử dụng sau khi có rủi ro xẩy ra. Để khắc phục, hạn chế hậu quả của rủi ro
con ngời có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau nh tiết kiệm, dự phòng, lập quỹ
chung, cứu trợ thực tế đã chứng minh cách khắc phục hậu quả của rủi ro thông qua
sự đảm bảo về tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm cho khách hàng là một trong
những biện pháp khắc phục hậu quả của rủi ro có hiệu quả.
2. Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Th-
ơng mại
Trong tất cả các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thơng mại đều phải đối đầu
với các loại rủi ro khác nhau, nhng nổi bật nhất vẫn là rủi ro tín dụng. Sau đây là một
số rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thơng mại.
2.1. Rủi ro tín dụng
- Rủi ro mất vốn: Là rủi ro cho vay không thu hồi đợc nợ. Bản chất của tín dụng
ngân hàng chứa đựng nội dung ứng trớc tiền cho doanh nghiệp (ngời vay), sau một

tái tài trợ tài sản nợ với mức lãi suất không thay đôỉ là 9%; và do đó, mức lợi nhuận
thu đợc trong năm thứ hai sẽ bằng năm thứ nhất và bằng 1%. Vì lãi suất thị trờng có
thể thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai, cho nên ngân hàng luôn đứng trớc rủi
ro về sự thay đổi lãi suất. Giả sử, sang năm thứ hai ngân hàng chỉ có thể huy động
vốn theo mức lãi suất thị trờng hiện hành là 11%, do đó lợi nhuận của ngân hàng
sang năm thứ hai sẽ là một số âm, tức là ngân hàng sẽ chịu lỗ 10% - 11% = -1%.
Nh vậy lợi nhuận của năm thứ nhất chỉ đủ bù đắp cho khoản lỗ của năm thứ hai. Kết
quả là, trong mọi trờng hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản có kỳ hạn dài hơn so với
tài sản nợ thì ngân hàng luôn đứng trớc rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40
16
Luận văn tốt nghiệp *** Khoa Ngân hàng-Tài chính
tài sản nợ. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn bổ sung trong
những năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suất đầu t tín dụng dài hạn.
Trờng hợp ngợc lại, ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu t có kỳ
hạn ngắn. Ví dụ, ngân hàng huy động vốn với lãi suất là 9%/năm, kỳ hạn là hai năm
và đầu t vào tài sản có mức lãi suất là 10%/năm, kỳ hạn là một năm. Tơng tự nh trên,
sau năm thứ nhất ngân hàng thu đợc lợi nhuận là 1%. Vì tài sản có chỉ có kỳ hạn là
1 năm, cho nên sau năm thứ nhất tài sản có đến hạn và ngân hàng lại tiếp tục tái đầu
t. Giả sử lãi suất đầu t của thị trờng trong năm thứ hai giảm xuống chỉ còn 8%. Điều
này đã khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro về lãi suất, đó là lỗ 8% - 9% = -1%. Nh
vậy, lợi nhuận thu đợc của năm thứ nhất vừa đủ để bù đắp khoản lỗ của năm thứ hai.
Kết quả là, ngân hàng gặp phải rủi ro về lãi suất tái đầu t trong trờng hợp tài sản có
có kỳ hạn ngắn hơn so với tài sản nợ.
Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu t tài sản có, thì khi lãi suất thị
trờng thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải rủi ro giảm giá trị tài sản. Nh chúng ta
đã biết, giá trị thị trờng của tài sản có hay tài sản nợ là dựa trên khái niệm giá trị
hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu lãi suất thị trờng tăng lên thì mức chiết khấu giá trị
tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm
xuống. Ngợc lại, nếu lãi suất thị trờng giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ sẽ

Bảo lãnh là một trong các nghiệp vụ của ngân hàng, là cam kết của Ngân hàng
bảo lãnh chịu trách nhiệm trả tiền thay cho bên đợc bảo lãnh nếu bên đợc bảo lãnh
không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận với bên yêu cầu bảo
lãnh. Khi rủi ro bảo lãnh xảy ra không những ngân hàng phải chịu một mức phí bảo
lãnh cho khách hàng đựơc bảo lãnh mà uy tín của ngân hàng cũng bị giảm sút mạnh,
ảnh hởng tới quá trình hoạt động của Ngân hàng.
Có các loại rủi ro bảo lãnh sau:
- Rủi ro bảo lãnh đấu thầu
- Rủi ro bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Rủi ro bảo lãnh tiền đặt cọc
- Rủi ro bảo lãnh thanh toán
- Rủi ro bảo lãnh bảo hành.
2.5. Rủi ro đầu t
Ngoài hoạt động kinh doanh tiền tệ, hoạt động tín dụng; Ngân hàng còn tham
gia góp vốn liên doanh, đầu t vào các dự án, đầu t vào chứng khoán
Trong quá trình đầu t , những quyết định đa ra dù rất cẩn thận chặt chẽ đến
đâu vẫn có thể thất bại vì nhà đầu t luôn đứng trớc và đối đầu với những thay đổi lớn
trong đời sống kinh tế xã hội. Những biến đổi này nhiều khi không có khả năng lờng
trớc đợc. Hoạt động đầu t là lĩnh vực rủi ro và đầy mạo hiểm, đặc biệt là đầu t vào
chứng khoán. Thực tế này đặt ra cho các nhà đầu t trong quá trình hoạt động luôn
phải đối mặt với rủi rovà chọn biện pháp thích hợpđể ứng phó kịp thờikhi rủi ro xuất
hiện. Những rủi ro này có thể gây ra những tổn thất không lờng trớc đợc không chỉ
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40
18
Luận văn tốt nghiệp *** Khoa Ngân hàng-Tài chính
đối với đối tợng chịu rủi ro mà còn ảnh hởng tới toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là đối
với hệ thống ngân hàng - bộ xơng sống của nền kinh tế.
3. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng
mại
3.1. Rủi ro tín dụng, đặc trng của nó

3.2.1. Thông tin không cân xứng
Trong những giao dịch diễn ra trên thị trờng tài chính, một bên thờng không
biết tất cả những gì mà ngời ta cần biết về bên kia để có đợc những quyết định đúng
đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có đợc gọi là thông tin không cân
xứng. Ví dụ một ngời vay một món tiền thờng có thông tin tốt hơn về lợi tức tiềm ẩn
và rủi ro kèm theo với dự án đầu t mà ngời này có dự tính tiến hành so với ngời cho
vay. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề trong hệ thống tài chính ở hai mặt: trớc
khi cuộc giao dịch diễn ra và sau khi cuộc giao dịch diễn ra.
Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra trớc khi diễn ra
cuộc giao dịch. Chọn lựa đối nghịch xảy ra trên thị trờng tài chính khi những ngời đi
vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn (đối nghịch) tức là
những rủi ro không trả đợc nợ là những ngời tích cực tìm vay nhất và do vậy có
nhiều khả năng đợc lựa chọn nhất. Do việc chọn lựa đối nghịch khiến dễ có thể là
các món cho vay đợc thực hiện cho những trờng hợp rủi ro không trả đợc nợ, những
ngời cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có những trờng hợp có thể trả
đợc nợ.
Sự lựa chọn đối nghịch trên thị trờng cho vay nảy sinh vì những ngời rất kém tín
nhiệm ( những ngời rất dễ có thể không trả món vay của mình) lại là những ngời th-
ờng sắp hàng để vay tiền. Nói cách khác, những ngời dễ có thể tạo ra một kết cục đối
nghịch nhất lại dễ có thể đợc lựa chọn nhất. Những ngời vay tiền với những dự án
đầu t rất rủi ro có nhiều cái để đợc lợi nếu các dự án của họ thành công và nh vậy họ
là những ngời khao khát nhận đợc món vay nhất. Tuy thế, họ là những ngời vay tiền
ít đợc a chuộng nhất vì có nhiều khả năng hơn rằng họ sẽ không thể hoàn trả đợc
những món nợ của họ.
Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao
dịch diễn ra. Rủi ro đạo đức xảy ra khi ngời cho vay phải chịu một rủi ro là ngời vay
có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt ( thiếu đạo đức) xét theo quan điểm
ngời cho vay, bởi vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ
hoàn trả.
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40

tiền gửi tiết kiệm mua ngoại tệ rồi gửi vào ngân hàng và đặc biệt là việc gửi ngoại tệ
ra nớc ngoài. Do nền kinh tế khó khăn và sự sụt giảm nguồn vốn đầu t, cuối năm
2001 Ngân hàng Trung ơng Mỹ liên tục cắc giảm lãi suất đồng USD cộng với sự sụt
giảm lãi suất đồng VND đã đẫn tới mọi ngơì đổ xô đầu t vào bất động sản dẫn đến
giá bất động sản tăng một cách chóng mặt, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc
huy động vốn để đầu t vào nền kinh tế.
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40
21
Luận văn tốt nghiệp *** Khoa Ngân hàng-Tài chính
Bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hởng đến hoạt động của ngân
hàng. Nh một cá thể tự nhiên, ngân hàng khoẻ mạnh hay không cũng phụ thuộc
rất nhiều vào môi trờng kinh tế ổn định hay nhiều bão tố.
3.2.3. Môi trờng pháp lý
Hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng hiện nay, tuy đã
đợc cải tiến nhiều nhng vẫn cha thực sự khoa học và thiếu đồng bộ, cha đủ sức điều
chỉnh những diễn biến phức tạp trong thực tế kinh doanh của ngân hàng thơng mại.
Một vấn đề quan trọng là ngời thi hành luật, có nhiều ngời đã không thi hành đúng
theo luật Nhà nớc đã ban hành. Đứng trớc vụ lợi họ quyên mất vai trò quan trọng đó
là đem lại lợi ích cho quốc gia và công bằng cho xã hội. Nhà nớc cần có những văn
bản hớng dẫn cụ thể cách thi hành luật và có những biện pháp xử lý nghiêm minh
đối với những ngời không làm trọn trách nhiệm.
Nhiều doanh nghiệp đợc đầu t chủ yếu bằng vốn ngân hàng, nhng khi doanh
nghiệp giải thể thì chủ thể đầu tiên đợc thanh toán nợ từ nguồn thanh lý còn laị của
doanh nghiệp lại không phải là ngân hàng cho vay, dẫn đến việc mất vốn của ngân
hàng là điều không tránh khỏi. Những doanh nghiệp có vấn đề thì các cơ quan
pháp luật phải can thiệp và ít nhiều sẽ ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của đơn
vị trong quá trình điều tra, tài sản thế chấp sẽ không đợc tiếp tục khai thác hoặc khai
thác một cách kém hiệu quả, gây thất thoát vốn cho các doanh nghiệp và ngân hàng.
Hiện nay, điều kiện vay vốn, đặc biệt đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh gần
nh bắt buộc phải có tài sản thế chấp, trong khi đó chúng ta cha có luật về sở hữu nên

hàng thơng mại Việt Nam, hoạt động tín dụng đang là lĩnh vực chủ đạo, chiếm tỷ
trọng từ 85% -95% doanh thu, nên việc đảm bảo chất lợng tín dụng sẽ là vấn đề có
tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Chính vì vậy mà việc
nghiên cứu tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lợng tín dụng luôn là mục
tiêu, đồng thời là nhân tố quan trọng nhất để cạnh tranh và phát triển của ngân hàng
thơng mại.
Vậy làm sao để nâng cao đợc chất lợng tín dụng? Chất lợng tín dụng có thể hiểu đơn
giản là hiệu quả của việc cho vay ( hay đầu t, bảo lãnh mang lại) là khả năng thu hồi
đầy đủ đúng hạn cả vốn gốc và lãi (hoặc phí ) theo dự định. Hiệu quả và khả năng
thu hồi vốn càng lớn thì chất lợng tín dụng càng cao và ngợc lại. Hay nói cách khác
rủi ro, thất thoát tín dụng càng thấp thì chất lợng tín dụng càng cao. Điều đó có
nghĩa là muối nâng cao chất lợng tín dụng phải giảm thiểu đợc rủi ro tín dụng, các
ngân hàng phải thực hiện đợc những món cho vay hoàn hảo.
Để có đợc một khoản cho vay hoàn hảo, các ngân hàng thờng sử dụng rất nhiều biện
pháp nh thẩm định dự án đầu t kỹ càng, tìm hiểu về khách hàng, mục đích đầu t, uy
tín, lịch sử phát triển của khách hàng Từ đó đánh gía khả năng hoàn trả khoản vay
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40
23
Luận văn tốt nghiệp *** Khoa Ngân hàng-Tài chính
và ra quyết định có cho vay hay không. Tuy nhiên dù có thận trọng đến đâu chăng
nữa, các ngân hàng vẫn không thể tránh hoàn toàn rủi ro. Có thể là một chính sách
mới của nhà nớc khiến cho khách hàng phải giải thể, hoặc những biến động bất lợi
của nền kinh tế (suy thoái, khủng hoảng ) hoặc thiên tai, hoả hoạn Mặt khác,
nếu ngân hàng quá thận trọng trong việc ra quyết định cho vay, ngân hàng sẽ bị lỡ
những cơ hội thu lợi nhuận và khó mà mở rộng đợc quy mô của ngân hàng. Bởi vậy,
dù muốn dù không ngay từ đầu ngân hàng vẫn đòi hỏi khoản cho vay phải có hai ph-
ơng án trả nợ tách biệt. Hiển nhiên phơng án một là mọi chuyện đều trôi chảy, việc
cho vay thành công. Chẳng hạn khi xuất khẩu, công ty bán đợc hàng và thu đợc tiền,
có lãi và trả đợc nợ cho ngân hàng. Xét trên phơng diện cho vay thì đó là giải pháp
hoạt động kinh doanh của công ty sinh lời dù để họ có thể trả nợ cho ngân hàng. Ph-

nợ quá hạn không trả.
Nếu tài sản thế chấp là các phơng tiện sản xuất, nh ruộng đất, ô tô.. thì chủ nợ (ngân
hàng) có thể cầm giấy tờ thế chấp còn hiện vật thế chấp thì giao lại cho con nợ tiếp
tục sử dụng. Ưu điểm của cách làm này là tạo điều kiện cho con nợ làm ăn, có thu
nhập để trả vốn và lãi cho ngân hàng. Nhợc điểm là nếu con nợ bán tài sản thế chấp
ấy cho ngời khác thì ngân hàng (chủ nợ) khó có thể đòi đợc nợ.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nếu ở con nợ phát sinh các hoá đơn yêu cầu
đòi ngời thứ ba thanh toán, thì con nợ giao hoá đơn này cho ngân hàng làm căn cứ
đảm bảo tiền vay. Cách này đang đợc áp dụng phổ biến trong các cơ quan tài chính ở
các nớc. So với vay thế chấp tài sản, thì vay theo cách này có lợi hơn vì không phải
mất công bảo quản tài sản thế chấp. Hơn nữa, với cách này, thì con nợ luôn luôn
phải ky cóp đủ số tiền nhất định ở các hoá đơn thanh toán rồi chuyển những hoá đơn
yêu cầu thanh toán này cho ngân hàng, nh vậy là ngân hàng sẽ quay vòng vốn nhanh
hơn. Nhng chỉ làm đợc nh vậy nếu giữa ngân hàng và con nợ có quan hệ tín dụng th-
ờng xuyên và ở con nợ luôn xuất hiện các yêu cầu thanh toán mới và thờng xuyên
đối với ngân hàng.
Trong trờng hợp chuyển nhợng toàn bộ các đơn yêu cầu thanh toán, thì con nợ tự
động chuyển các đơn yêu cầu thanh toán của mình cho khách hàng nhất định. Có thể
chuyển các đơn yêu cầu thanh toán ngay sau khi chúng phát sinh, chứ không phải
sau khi chuyển cho ngân hàng các chứng từ thanh toán. Trên thực tế ở các nớc, ngời
ta thờng chuyển giao các hợp đồng bảo hiểm, ví dụ bảo hiểm con ngời nhờ ngân
hàng thu hộ và ăn hoa hồng.
4.2.2. Cầm cố tài sản
Cầm cố là hành vi giao nộp hoặc các chứng từ nhận quyền sở hữu tài sản của con nợ
(ngời cầm cố) cho chủ nợ ( ngời đợc cầm cố) để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ.
Nghĩa vụ cầm cố trong quan hệ tín dụng là ngời đi vay thực hiện nghĩa vụ hoàn trả
nợ đúng hạn theo hợp đồng.
Bùi Duy Nhân Tài chính công 40
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status