Luận văn
Biện pháp quản lý công tác
sinh viên tại trường Đại học
Kiến trúc Đà Nẵng
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, GD&ĐT của mỗi quốc
gia đóng vai trò then chốt, trọng yếu trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ
cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Nghị Quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “
Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập
trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền Giáo dục quốc dân; gắn kết chặt
chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá để đưa nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta sớm thấy được
vai trò to lớn của nguồn nhân lực đối với phát triển KT – XH và việc phát triển
nguồn nhân lực thông qua GD&ĐT; Do đó đã có các định hướng và chỉ đạo
đúng đắn phát triển GD&ĐT để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời
Đảng ta coi GD&ĐT cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là
nền tảng và động lực của CNH, HĐH. Cương lĩnh chính trị xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -
2020 đã định hướng: "Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là
nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược". Chiến lược phát triển giáo
dục 2011 - 2020 nhằm quán triệt và cụ thể hoá các chủ trương, định hướng đổi
mới giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XI và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của
đất nước, định hướng GD&ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng
nền văn hóa và con người Việt Nam.
Nẵng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
3.2. Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý công tác sinh viên tại trường
Đại học Kiến trúc Đà Nẵng
3
3.3. Đề xuất các biện pháp Quản lý Công tác sinh viên tại trường Đại
học Kiến trúc Đà Nẵng
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Biện pháp quản lý công tác sinh viên tại
trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý công tác sinh viên tại
trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng
5. Giả thiết khoa học
Nếu tìm ra được những biện pháp quản lý SV tại trường Đại học Kiến trúc
Đà Nẵng khả thi và phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác quản lý của nhà
trường thì công tác quản lý SV của trường sẽ có hiệu quả hơn, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện cho SV.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý công tác sinh viên của phòng
công tác sinh viên tại trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp các nhóm
phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, khái quát các tài liệu
nghiên cứu lý luận, các văn bản Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các quy
chế, quy định của ngành giáo dục và đào tạo có liên quan đến đề tài nhằm
xác lập cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm:
Phương pháp điều tra qua các phiếu khảo sát; phương pháp xin ý kiến
thấp khác. Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời
của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo
dục và từ đó cũng xuất hiện khoa học về QLGD. Là người học, người học
vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Để nâng cao chất lượng
đào tạo ngoài việc xem xét các yếu tố người dạy, nội dung, chương trình,
cơ sở vật chất thì không thể không nghiên cứu trực tiếp là đối tượng người
học. Xung quanh vấn đề người học có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu
trong đó có vấn đề người học trong quá trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục.
Trước đây, phần lớn SV đến học tại các trường Đại học, Cao đẳng hầu
hết đều được ở trong KTX nhưng hiện nay nhu cầu về chỗ ở, đặc biệt là đối
với các trường Đại học, cao đẳng ngoài công lập không có ký túc xá sinh
viên, hầu hết là ở ngoại trú, trong khi đó các cơ sở GD đại học, cao đẳng
quy mô đào tạo của các nhà trường Cao đẳng, Đại học trong những năm
gần đây phát triển không ngừng. Vấn đề nghiên cứu về quản lý sinh SV
ngoại trú ít được đề cập.
Đối với trường Đại học, quy chế trường đại học tư thục đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại
học tư thục ban hành kèm theo Quyết định số 61/2009/QĐ-TTg ngày 17
tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ.
Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định số
42/2007/BGD&ĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành Quy chế học, sinh viên các trường đại học, cao đẳng
và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy và Thông tư 27/2009/TT –
BGDĐT ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo nhằm quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các trường trong việc
6
tổ chức quản lý sinh viên ngoại trú hệ chính quy, quyền và nghĩa vụ của
học sinh, sinh viên trong các khâu liên quan đến việc tạm trú sinh hoạt, học
tập tại địa phương nới trường đóng trên địa bàn.
Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng cũng gặp phải vấn đề khó khăn
cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận
động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ
cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải
có nhạc trưởng ” [11,tr.480].
Còn theo H.Koontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó
đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được
mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình
thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được mục
đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi
trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của
mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít
nhất” [21,tr. 33].
Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ
khác nhau cũng đã đưa ra những khái niệm quản lý:
Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả
Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các
hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”
[10,tr. 1].
Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt
Nam trong cuốn “Khoa học quản lý” của nhiều tác giả: Đặng
Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí cho rằng:
“Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục
tiêu đặt ra tính đến trạng thái có chất lượng mới” [3,tr.176]. Quản
lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý”.
“Quản” là coi sóc giữ gìn, duy trì sự ổn định của hệ. “Lý” là sửa
8
sang, sắp xếp, đổi mới, tạo ra sự phát triển của hệ. Hệ ổn định mà
không phát triển tất yếu sẽ suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn
định tất yếu sẽ dẫn đến rối ren. Quản lý nhằm ngăn chặn mọi sự
vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình. Nhưng, bất cứ
một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế
quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự
nghiệp đến một tập thể nhỏ như tổ chuyên môn, tổ sản xuất,
bao giờ cũng có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng được
quản lý. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất
cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc
nhằm đạt một mục tiêu chung. Vì vậy, những nhà quản lý phải
luôn luôn mềm dẻo, linh hoạt để vận dụng những nguyên tắc quản
lý khác nhau trong từng lĩnh vực và tình huống cụ thể cho phù
hợp nhằm đạt được hiệu quả quản lý cao nhất.
* Các chức năng quản lý
+ Lập kế hoạch (thiết kế mục tiêu, chương trình hành động).
+ Tổ chức, chỉ đạo: Phân công công việc, sắp xếp con người,
điều hành cá nhân và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch.
+ Kiểm tra (giám sát hoạt động của bộ máy nhằm kịp thời
điều chỉnh sai sót, đưa bộ máy đạt mục tiêu đã xác định).
+ Thông tin (là công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản
lý, cần thiết cho tất cả các chức năng quản lý. Đây là quá trình hai
chiều, trong đó mỗi người vừa là nguồn phát vừa là nguồn thu
nhận) [26,t r.2].
Có bốn chức năng cơ bản của quản lý liên quan mật thiết với
nhau, đó là: lập kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo thực hiện; kiểm tra
đánh giá, trong đó thông tin là trung tâm của quản lý.
Bên cạnh bốn chức năng cơ bản của quản lý, còn rất nhiều
vấn đề liên quan khác như: Dự đoán; động viên; điều chỉnh, đánh
giá, thông tin phản hồi, ra quyết định Các chức năng cơ bản của
quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất, không được coi nhẹ
10
một chức năng nào. Để các chức năng của quản lý vận hành có
sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên
[41; tr 9].
Có thể khẳng định, giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại
song hành, giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế di truyền
kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước
cho thế hệ sau và để thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển
nó một cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo dục và bản thân con
người phát triển không ngừng. Để đạt được mục đích đó, quản lý
được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên.
[ 22, tr.35].
Đối với cấp vĩ mô đó là quản lý một nền/ hệ thống giáo dục:
Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có
mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể
quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến
các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã
hội đã đặt ra cho ngành giáo dục. [22, tr.36].
Đối với cấp vi mô đó là quản lý một nhà trường:
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ
thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học
sinh, sinh viên, cha mẹ học sinh, sinh viên và các lực lượng xã hội
trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu
quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. [22, tr.38].
Nói một cách khái quát: Quản lý giáo dục là một hiện tượng
xã hội, đồng thời là một dạng lao động đặc biệt, mà những nét đặc
trưng của nó là tính tích cực sáng tạo, năng lực vận dụng những
tri thức đã có để đạt mục đích đặt ra có kết quả là sự cải biến hiện
thực. Do đó chủ thể quản lý phải biết sử dụng không chỉ những
chuẩn mực pháp quyền, mà còn sử dụng cả những chuẩn mực đạo
triển của xã hội bằng các con đường giáo dục cơ bản. [8, tr.3].
13
Mục đích giáo dục của nhà trường phù hợp với xu thế phát
triển và thời đại. Giáo dục nhà trường, bằng kiến thức và phương
pháp khoa học, bằng tổ chức các hoạt động giao lưu trong thực
tiễn làm cho nhân cách học sinh, sinh viên được hình thành, tạo
nên bộ mặt tâm lí cá nhân phù hợp với tiêu chuẩn, giá trị xã hội và
thời đại.
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch, hợp quy luật của các cấp quản lý của hệ thống giáo
dục nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục,
để đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra cho từng thời kỳ phát triển
của đất nước [31, tr. 7].
Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả
các mặt, liên quan đến hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm
vi một nhà trường.
Các lĩnh vực quản lý của nhà trường.
- Quản lý hoạt động giáo dục và dạy học (quản lý quá trình
đào tạo).
- Quản lý giáo viên với hoạt động dạy và quản lý sinh viên
với hoạt động học.
- Quản lý các hoạt động mang tính điều kiện cho quá trình
đào tạo: Việc thực hiện các chế định: bộ máy tổ chức và nhân lực;
tài lực và vật lực; môi trường tự nhiên và xã hội; thông tin; quản
lý sinh viên ngoài giờ lên lớp [8, tr.28].
1.2.3. Biện pháp quản lý
Biện pháp tiếng Anh gọi là “measure”: hành động để thực hiện
một mục đích. Theo từ điển tiếng Việt, biện pháp được hiểu là cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [40, tr.64].
Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, có nghĩa là để sử
- Họ thuộc nhóm thanh niên, nam nữ từ 18 đến 25 tuổi.
- Họ chưa có nghề nghiệp, việc làm xác định do đó còn lệ
thuộc gia đình về kinh tế.
15
- Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân
từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập,
chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn để bước vào một nhóm xã hội
mới là tầng lớp tri thức trẻ.
* Sinh viên có nhiệm vụ:
- Thực hiện nhiệm vụ học tập theo mục tiêu, chương trình và
kế hoạch giáo dục của nhà trường.
- Kính trọng nhà giáo, cán bộ quản lý, công nhân viên của
nhà trường và cơ sở giáo dục khác; tuân thủ pháp luật của nhà
nước; thực hiện nội quy, điều lệ nhà trường.
- Rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh cá nhân và bảo vệ môi
trường.
- Giữ gìn và bảo vệ tài sản nhà trường.
- Tham gia lao động công ích và hoạt động xã hội ở địa
ương.
- Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của
nhà trường, cơ sở giáo dục khác.
1.2.4.2. Quyền, nghĩa vụ và những hành vi sinh viên không được
làm
* Quyền của sinh viên:
- Được nhận vào học đúng ngành nghề đã đăng ký dự tuyển
nếu đủ các điều kiện trúng tuyển theo quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo và nhà trường.
- Được nhà trường tôn trọng và đối xử bình đẳng; được cung
cấp đầy đủ thông tin cá nhân về việc học tập, rèn luyện theo quy
định của nhà trường; được nhà trường phổ biến nội quy, quy chế
tàng, di tích lịch sử, công trình văn hoá theo quy định của Nhà
nước;
- Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình
kiến nghị với nhà trường các giải pháp góp phần xây dựng nhà
17
trường; được đề đạt nguyện vọng và khiếu nại lên Hiệu trưởng
giải quyết các vấn đề có liên quan đến quyền, lợi ích chính đáng
của sinh viên;
- Được xét tiếp nhận vào ký túc xá theo quy định của trường
( Nếu có ). Việc ưu tiên khi sắp xếp vào ở ký túc xá theo quy định
tại Quy chế công tác HSSV nội trú của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Sinh viên đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp được nhà
trường cấp bằng tốt nghiệp, bảng điểm kết quả học tập và kết quả
rèn luyện, hồ sơ sinh viên, các giấy tờ có liên quan khác và giải
quyết các thủ tục hành chính.
- Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển
dụng vào các cơ quan Nhà nước nếu tốt nghiệp loại giỏi, rèn
luyện tốt và được hưởng các chính sách ưu tiên khác theo quy
định về tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức.
* Nghĩa vụ của sinh viên:
- Chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước và các quy chế, nội quy, điều lệ nhà trường.
- Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường;
đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình học tập và rèn luyện;
thực hiện tốt nếp sống văn minh.
- Giữ gìn và bảo vệ tài sản của nhà trường; góp phần xây
dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường.
- Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình,
kế hoạch giáo dục, đào tạo của nhà trường; chủ động tích cực tự
học, tự nghiên cứu, sáng tạo và tự rèn luyện đạo đức, lối sống.
- Hút thuốc, uống rượu, bia trong giờ học; say rượu, bia khi
đến lớp.
- Gây rối an ninh, trật tự trong trường hoặc nơi công cộng.
- Tham gia đua xe hoặc cổ vũ đua xe trái phép.
- Đánh bạc dưới mọi hình thức.
19
- Sản xuất, buôn bán, vận chuyển, phát tán, tàng trữ, sử dụng
hoặc lôi kéo người khác sử dụng vũ khí, chất nổ, các chất ma tuý,
các loại hoá chất cấm sử dụng, các tài liệu, ấn phẩm, thông tin
phản động, đồi trụy và các tài liệu cấm khác theo quy định của
Nhà nước; tổ chức, tham gia, truyền bá các hoạt động mê tín dị
đoan, các hoạt động tôn giáo trong nhà trường và các hành vi vi
phạm đạo đức khác.
- Thành lập, tham gia các hoạt động mang tính chất chính trị
trái pháp luật; tổ chức, tham gia các hoạt động tập thể mang danh
nghĩa nhà trường khi chưa được Hiệu trưởng cho phép.
1.2.4.3.Vị trí, vai trò của sinh viên trong quá trình đào tạo
Sinh viên là nhân vật trung tâm trong các học viện, đại học,
các trường đại học, cao đẳng. Trọng tâm hoạt động của bộ máy
chính quyền, các tổ chức Đảng, Đoàn, Hội Sinh viên trong nhà
trường dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với sự
phối hợp chặt chẽ của các Ban, Ngành ở TW, của các cấp ủy đảng
và chính quyền địa phương đều hướng vào nhiệm vụ chính trị
quan trọng nhất của các trường là giáo dục, rèn luyện sinh viên.
Công tác sinh viên trong các trường đào tạo là một trong
những công tác trọng tâm của hiệu trưởng. Hiệu trưởng các
trường đào tạo chịu trách nhiệm tất cả các khâu trong công tác
sinh viên, tạo điều kiện để sinh viên thực hiện đầy đủ quyền và
nghĩa vụ của mình.
Làm tốt quản lý công tác sinh viên có ý nghĩa tiên quyết đối
tâm của nhà trường nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là đào
tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức
khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
21
1.3.2. Nội dung Quản lý công tác SV trong các trường Đại học, cao
đẳng
SV là nhân vật trung tâm trong nhà trường. Vì vậy, cần phải quản
lý được đối tượng này theo mục đích quản lý để hướng SV vào mục
tiêu đào tạo của nhà trường. Chính vì vậy, bên cạnh công tác đào tạo
thì công tác quản lý SV là một hoạt động lớn của nhà trường theo
Quyết định số 42/2007/QĐ – BGD & ĐT ngày 13/08/2007 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Quản lý công tác SV trong các trường Đại học tập trung vào các
nội dung cơ bản sau:
1.3.2.1. Công tác tổ chức hành chính
- Tổ chức tiếp nhận sinh viên trúng tuyển vào học theo quy
định của Bộ GD&ĐT và nhà trường;
- Sắp xếp bố trí SV vào các lớp; chỉ định Ban cán sự lớp lâm
thời (lớp trưởng, lớp phó) trong thời gian đầu khóa học;
- Làm thẻ và cấp thẻ cho SV;
- Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ SV;
- Tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho SV;
- Giải quyết các công việc hành chính khác có liên quan cho
SV;
- Phối hợp với Đoàn thanh niên, Hội sinh viên tổ chức các
hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động
ngoại khóa khác;
đấu rèn luyện.
- Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho SV.
1.3.2.3. Công tác y tế, thể thao
- Tổ chức thực hiện công tác y tế trường học.
- Tổ chức khám sức khoẻ SV khi vào nhập học.
- Chăm sóc, phòng chống dịch bệnh và khám sức khỏe định
kỳ cho SV trong thời gian học tập theo quy định.
23
- Xử lý những trường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khỏe để
học tập.
- Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho SV luyện tập thể dục, thể
thao; tổ chức cho SV tham gia các hoạt động thể dục, thể thao.
- Thực hiện các chế độ chính sách đối với SV.
- Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy
định đối với SV về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm,
tín dụng đào tạo và các chế độ khác có liên quan đến SV.
- Tạo điều kiện giúp đỡ SV tàn tật, khuyết tật, SV diện chính
sách, SV có hoàn cảnh khó nhăn.
1.3.2.4. Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội.
- Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương
trên địa bàn nơi trường đóng, khu vực có SV ngoại trú xây dựng
kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn cho SV; giải
quyết kịp thời các vụ việc liên quan đến SV ngoại trú.
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao
thông, phòng chống tội phạm, ma túy, mại dâm, HIV/AIDS và
các hoạt động khác có liên quan đến SV; hướng dẫn SV chấp
hành pháp luật và nội quy, quy chế.
- Tư vấn pháp lý, tâm lý xã hội cho SV.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý SV
nhập.
Toàn bộ điều kiện kinh tế xã hội trên với những mặt tích cực và
tiêu cực của nó đang từng ngày từng giờ ảnh hưởng trực tiếp và gián
tiếp tới SV. Vì vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao hạn
chế tới mức thấp nhất những tác động tiêu cực để sinh viên chuyên tâm
vào công việc học tập và rèn luyện vì mục tiêu giáo dục của đất nước.
1.4.2. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trong bối cảnh kinh tế nước ta phát triển theo cơ chế thị trường,
đất nước mở cửa, hội nhập với thế giới, sự nghiệp giáo dục cũng đang
25