đầu tư quốc tế gián tiếp, thực trạng và giải pháp ở việt nam - Pdf 10

Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
1.5.2 Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán 22
2.3.8 Tác động của các công ty chứng khoán nước ngoài 62
Việc các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các công ty chứng khoán trong nước làm tăng sự
cạnh tranh, làm cho các công ty chứng khoán trong nước khó khăn hơn trong hoạt động. Phải cạnh
tranh với những công ty giàu kinh nghiệm và vốn lớn của những tổ chức tài chính nước ngoài làm
tăng nguy cơ giảm thị phần, thua lỗ và phá sản đối với các CTCK Việt Nam 62
CHƯƠNG 3 86
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT 86
VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI 86
3.1. Nhóm giải pháp về luật lệ chính sách 87
3.1.1. Tái cấu trúc thị trường chứng khoán một cách sâu rộng 87
3.1.2. Hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý nhằm khuyến khích tổ chức và cá nhân tham gia vào TTCK
Việt Nam 88
3.1.4. Thiết lập chính sách bình đẳng về ưu đãi đầu tư, chính sách thuế, phí, lệ phí giữa các nhà đầu
tư trong và ngoài nước 91
3.2. Nhóm giải pháp phát triển thị trường 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 1
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
 
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể.
Chỉ số GDP tăng liên tục trong nhiều năm. Muốn duy trì và tăng tốc độ tăng trưởng GDP
trong thời gian tới, nền kinh tế Việt Nam cần được đầu tư một lượng vốn lớn không chỉ
từ Chính phủ, các đơn vị kinh tế, hộ gia đình, từng cá nhân trong nước mà còn từ các nhà
đầu tư nước ngoài. Để có thể huy động nguồn vốn lớn từ mọi đối tượng trong cũng như
ngoài nước, chúng ta cần có nhiều kênh huy động vốn hiệu quả. Huy động vốn thông qua
đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) là một kênh huy động như thế.

• Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư gián tiếp vào Việt Nam thời gian qua.
• Chương 3: Các giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư quốc tế gián tiếp ở Việt
Nam.
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 3
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ
NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP
NƯỚC NGOÀI FPI
1.1 Khái niệm đầu tư gián tiếp FPI
Theo quy định trong Khoản 3, Điều 3 của Luật Đầu tư mới: "Đầu tư gián tiếp
là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ
có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian
khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư".
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 4
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Theo cách hiểu này, đầu tư gián tiếp nước ngoài là các khoản đầu tư gián tiếp
do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện – để phân biệt với đầu tư gián tiếp trong nước
do các nhà đầu tư trong nước thực hiện – thông qua 2 hình thức chủ yếu sau:
 Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có
giá khác của các doanh nghiệp, của chính phủ và của các tổ chức tự trị được phép phát
hành trên thị trường tài chính.
 Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư chứng
khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính.
1.2 Đặc trưng của FPI
Thứ nhất, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát
hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng
khoán.
Thứ hai, nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chất,
công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong trực tiếp đầu tư
(FDI). FPI là đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính.

tín nhiệm doanh nghiệp và chứng khoán. Dòng FPI sẽ chảy mạnh vào trong nước tỷ lệ
thuận và cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp,
doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu
quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà
đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó…
1.3Tính chất của FPI
1.3.1 Tính thanh khoản cao
Do mục đích của FPI là tỷ suất lợi tức cao với một mức độ rủi ro nhất định (hoặc
tỷ suất lợi tức nhất định với mức rủi ro thấp nhất) chứ không quan tâm đến quá trình
sản xuất kinh doanh giống như trong phương thức FDI, cho nên NĐT nước ngoài sẵn
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 6
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
sàng bán lại những chứng khoán mà họ đang nắm giữ để đầu tư sang thị trường
khác hoặc chứng khoán khác với tỷ suất lợi tức dự tính cao hơn, an toàn hơn. Tính
thanh khoản cao của FPI khiến cho hình thức đầu tư này trở thành khoản mục đầu tư
ngắn hạn mặc dù cố phiếu được coi là chứng khoán dài hạn và nhiều loại trái phiếu
giao dịch trên TTCK có thời gian đáo hạn dài hơn 1 năm.
1.3.2 Tính bất ổn định
Tính thanh khoản cao là nguyên nhân làm cho dòng vốn FPI mang tính bất ổn
định. Sự bất ổn định, trong một giới hạn nào đó có thể có lợi do nó làm cho thị trường
tài chính nội địa hoạt động năng động và hiệu quả hơn, vốn đầu tư không ngừng được
phân bổ lại, dịch chuyến từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nơi có tỷ suất lợi nhuận
cao. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra với tốc độ quá nhanh, những ảnh hưởng xấu đến
hệ thống tài chính và tình trạng bất ổn định của nền kinh tế xảy ra là không thể tránh
khỏi. Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn đối với các nước có thị trường tài chính mới
hình thành và nền kinh tế còn trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam.
1.3.3 Tính dễ đảo ngược
Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FPI thực sự gây tác động xấu đến nền kinh tế, nó
là hệ quả của hai đặc tính thanh khoản cao và bất ổn định. Do dễ đảo ngược cho nên có
thể chỉ trong khoảng thời gian ngắn một lượng vốn FPI lớn tháo lui “bẻ ghi” đầu tư

mình, vừa có quyền tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, nhà đầu tư đặc
biệt quan tâm tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì liên quan trực
tiếp đến lợi nhuận của họ. Lợi ích thu được theo lợi nhuận công ty và được chia theo tỉ
lệ vốn góp. Trái lại, nếu đầu tư theo hình thức vốn gián tiếp FPI, nhà đầu tư chỉ đơn
thuần là hoạt động bỏ vốn, đầu tư vốn vào doanh nghiệp thông qua việc mua bán
chứng khoán hoặc những tài sản có giá khác, nhà đầu tư không có quyền tham dự vào
hoạt động của công ty. Lợi nhuận thu được từ việc chia cổ tức hoặc việc bán chứng
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 8
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
khoán thu chênh lệch, Tuy nhiên, nếu nắm giữ một trên một tỷ lệ cổ phần nhất định,
FPI có thể trở thành FDI, nhà đầu tư có quyền ra quyết định đối với công ty họ bỏ vốn.
Điểm khác biệt thứ hai là tốc độ luân chuyển vốn: FPI có khả năng luân chuyển vốn
tốt hơn FDI. Đặc điểm nổi bật nhất của FPI là tính bất ổn định. Việc bán chứng khoán
diễn ra đơn giản hơn nhiều so với việc hủy bỏ một dự án đầu tư trong đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Do đó, tốc độ luân chuyển vốn của FPI cao hơn nhiều so với FDI. Điều
này có thể giúp các nền kinh tế mới nổi tăng tính linh hoạt, thúc đẩy quá trình phát triển
của mình. Tuy nhiên, trong thời kì nền kinh tế suy thoái, lượng vốn ra và vào quá nhanh
lại làm nền kinh tế mất tính cân bằng, gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất,
Ngược lại, FDI là nguồn bổ sung vốn dài hạn cho nước chủ nhà không dễ bị rút đi trong
thời gian ngắn vì gắn liền với hoạt động của dự án. Nước chủ nhà sẽ được tiếp nhận
một nguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không lo phải trả nợ. Ví dụ
như, nếu nhà đầu tư chọn hình thức đầu tư trực tiếp FDI vào một dự án xây dựng 1 công
trình, muốn thu hồi vốn thì phải đợi công trình được hoàn thiện và như vậy có thể sẽ
mất tới rất nhiều năm. Trong khi đó, nếu đầu tư vào thị trường chứng khoán, có thể dễ
dàng thu hồi vốn bằng cách bán lại chứng khoán.
Điểm khác biệt thứ ba là tính chấp nhận rủi ro: FPI thường chấp nhận rủi ro cao
hơn FDI. FDI thường hướng tới cơ hội kinh doanh mang lại lợi nhuận cụ thể, có thể tính
toán và dự báo với xác suất thành công cao. Ngược lại, nhà đầu tư gián tiếp có điều kiện
theo đuổi những cơ hội đầu tư với mức rủi ro lớn hơn với kì vọng vào thời cơ tăng
trưởng bùng nổ trong tương lai.

Nghị định số 84/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 08 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi
NĐ 14/2007/NĐ-CP.
Quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24 tháng 04 năm 2007 về việc ban hành Quy
chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 10
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Quyết định 126/2008/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế
tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán
Quyết định số 45/2007/QĐ-BTC ngày 5 tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính về quy chế thành lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 15 tháng 05 năm 2007 của Bộ
Trưởng Bộ Tài chính về quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý quỹ.
Quyết định số 125/2008/QĐ-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2008 của Bộ Trưởng Bộ
Tài chính sửa đổi bổ sung một số điều của QĐ 35/2007/QĐ-BTC.
Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày 20 tháng 04 năm 2007 của chính phủ về việc nhà
đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam.
Thông tư 07/2007/TT-NHNN ngày 29 tháng 11 năm 2007 của Ngân hàng Nhà
nước hướng dẫn thưc hiện NĐ 69/2007/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài
mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam.
Quyết định 121/2008/QĐ-BTC ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài Chính về
việc ban hành quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Quyết định 88/2009/QĐ-TTg ngày 18 tháng 06 năm 2009 về quy chế góp vốn,
mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam
Thông tư 131/2010/TT-BTC ngày 06 tháng 09 năm 2010 của Bộ tài chính Hướng
dẫn thực hiện quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các
doanh nghiệp VN.
Quyết định 55/2009/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của Nhà đầu tư nước ngoài trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
***************************************************************

vụ khác như: phát hành các bản nghiên cứu tình hình đầu tư (investment research
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 12
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
reports) do các chuyên viên phân tích của phòng nghiên cứu soạn thảo, cung cấp
dịch vụ quản lý tài sản (asset management), tư vấn đầu tư (investment advice),
giúp lập các dự toán tài chính (financial planning), tư vấn các biện pháp giảm
hoặc tránh thuế (tax shelters)… cho khách hàng. Ngày nay, cụm từ "dịch vụ môi
giới" đang dần dần được thay bằng thuật ngữ "các dịch vụ tài chính" do các dịch
vụ mà nhà môi giới cung cấp cho khách hàng ngày càng được mở rộng. Các công
ty "tổng hợp" này được chia làm nhiều loại như sau:
o Wire houses: là các công ty cung cấp rất nhiều loại hình công cụ đầu tư cho
khách hàng và đối tượng chủ yếu của các công ty này là những nhà đầu tư cá
nhân, mặc dù họ cũng phục vụ các nhà đầu tư có tổ chức và tiến hành mua bán
cho chính mình. Merrill Lynch, Dean Witter Reynolds, Shearson/Hutton,
Prudential Bache, Smith Barney… là những công ty thuộc loại này.
o Specialized firms: là những công ty chỉ chuyên cung cấp dịch vụ liên quan
đến một hoặc một số rất ít các công cụ đầu tư. Lebenthal & Co. là một công ty
rất nổi tiếng chuyên cung cấp các dịch vụ liên quan đến trái phiếu đô thị
o Carriage trade houses: các công ty "đóng đô" tại thành phố New York.
Khách hàng của các công ty này đều được lựa chọn kỹ càng và đều là khách
hạng sang. Muốn mở tài khoản tại các công ty này, nhất thiết phải được sự giới
thiệu của các khách hàng hiện tại. Dịch vụ do các công ty này cung cấp đều
được cá nhân hóa cao độ để phù hợp với từng khách hàng. Morgan Stanley,
Donaldson Lufkin, Bear Stearns… đều thuộc dạng này.
o Boutique firms: là các công ty vừa có đặc điểm của một carriage trade firm
vừa có đặc điểm của một wire house. Dịch vụ do các công ty này cung cấp
cũng mang tính chất cá nhân hóa như các carriage trade houses. Đối tượng của
các công ty này là những nhà đầu tư có thu nhập trung bình. Một số các công
ty thuộc dạng này là Grunthal, Butcher and Singer, F.S. Mosely…
c. Quy chế về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán tại Việt Nam

 Lưu ký chứng khoán: là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán
cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng
khoán.
 Nghiệp vụ tư vấn tài chính.
b. Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán
 Có trụ sở đảm bảo các yêu cầu sau: Quyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu một
năm, trong đó diện tích làm sàn giao dịch phục vụ nhà đầu tư tối thiểu 150 m
2
; Có đủ
cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh, bao gồm: sàn giao dịch phục
vụ khách hàng; thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính cùng các phần mềm thực hiện
hoạt động giao dịch chứng khoán; trang thông tin điện tử, bảng tin để công bố thông
tin cho khách hàng; hệ thống kho, két bảo quản chứng khoán, tiền mặt, tài sản có giá
trị khác và lưu giữ tài liệu, chứng từ giao dịch đối với công ty chứng khoán có nghiệp
vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán; Hệ thống phòng cháy chữa cháy
theo quy định của pháp luật; Có hệ thống an ninh, bảo vệ an toàn trụ sở làm việc.
 Có vốn điều lệ thực góp tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định tại Điều
18 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 15
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Trích Điều 18 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 của
Chính phủ quy định chi 'ết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán:
Vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán, công ty
chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty chứng khoán nước
ngoài tại Việt Nam là:
a) Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;
b) Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam;
c) Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam;
d) Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam.

góp của các cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổ chức tối thiểu là 65% vốn điều
lệ, trong đó tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là ngân
hàng thương mại, công ty tài chính hoặc công ty bảo biểm tối thiểu phải đạt 30% vốn
điều lệ của công ty chứng khoán; Đối với công ty chứng khoán thành lập theo hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ sở hữu phải là ngân hàng
thương mại, công ty tài chính hoặc công ty bảo hiểm; Nguồn vốn góp của pháp nhân
phải là nguồn vốn hợp pháp và được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận, không được
sử dụng vốn ủy thác của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn; Tại Báo cáo tài chính
được kiểm toán năm gần nhất và tại báo cáo tài chính được kiểm toán tính tới thời
điểm gần nhất (nhưng không quá 90 ngày tính đến thời điểm hồ sơ đề nghị thành lập
công ty chứng khoán đã đầy đủ và hợp lệ), tổ chức tham gia góp vốn phải đáp ứng các
điều kiện sau:
- Vốn chủ sở hữu sau khi trừ đi các quỹ khen thưởng, phúc lợi và trừ đi tài sản dài hạn
tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp vào công ty chứng khoán. Trường hợp pháp
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 17
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
nhân là công ty bảo hiểm: vốn chủ sở hữu cộng nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng
nghiệp vụ bảo hiểm sau khi trừ đi tài sản dài hạn tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến
góp vào công ty chứng khoán. Trường hợp pháp nhân là ngân hàng thương mại, công
ty tài chính: vốn điều lệ cộng Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ sau khi trừ đi tài sản dài
hạn tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp vào công ty chứng khoán.
- Tài sản lưu động ròng tối thiểu phải bằng số vốn góp.
- Pháp nhân hoạt động kinh doanh phải có lãi trong 02 năm liền trước năm xin phép
thành lập công ty chứng khoán và không có lỗ luỹ kế đến thời điểm hồ sơ đề nghị
thành lập công ty chứng khoán đã đầy đủ và hợp lệ;
Công ty bảo hiểm, ngân hàng thương mại, công ty tài chính tham gia góp vốn thành
lập công ty chứng khoán phải đảm bảo duy trì và đáp ứng các điều kiện an toàn vốn
và các điều kiện tài chính khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.”
 Cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập công ty chứng khoán không được chuyển
nhượng cổ phần, phần vốn góp ban đầu của mình trong vòng 03 năm kể từ ngày được

hàng do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chỉ định và biên bản kiểm tra cơ sở vật chất
trụ sở công ty, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động
cho công ty chứng khoán. Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải
trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
 Công ty chứng khoán phải chính thức hoạt động trong thời hạn 12 tháng kể từ
ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động.
 Trường hợp có bất kỳ thay đổi liên quan đến vốn đóng góp và cơ cấu cổ đông sáng
lập, thành viên sáng lập trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động kể
từ khi chấp thuận nguyên tắc cho đến khi chính thức đi vào hoạt động, việc chấp
thuận nguyên tắc coi như bị huỷ bỏ.
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 19
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán
d. Thủ tục chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty chứng khoán
- Công ty chứng khoán khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi phải được Uỷ
ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước ra quyết định chấp thuận chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty
chứng khoán. Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải trả lời bằng
văn bản và nêu rõ lý do.
- Công ty mới hình thành sau khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi chỉ được
phép hoạt động ngành nghề kinh doanh chứng khoán khi đáp ứng các điều kiện kinh
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 20
Nộp hồ sơ đăng ký thành lập tại UBCKNN
Hoàn tất CSVCKT và phong tỏa vốn (06 tháng)
UBCKNN chấp thuận nguyên tắc (30 ngày)
UBCKNN kiểm tra CSVCKT
UBCKNN nhận XN PTV và BB KT CSVC
UBCKNN cấp Giấy phép thành lập (7 ngày)
Chính thức đi vào hoạt động (12 tháng)

- Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần được mua lại
không quá 10% số cổ phần phổ thông đã bán làm cổ phiếu quỹ.
- Công ty chứng khoán phải duy trì tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng vốn nợ điều chỉnh tối
thiểu bằng 5%.
- Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán không được vượt quá
sáu lần. Nợ ngắn hạn tối đa bằng tài sản ngắn hạn.
- Công ty chứng khoán được mua, đầu tư vào tài sản cố định của mình theo nguyên
tắc giá trị còn lại của tài sản cố định không được vượt quá 50% vốn điều lệ của công
ty CK.
1.5.2 Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.
1.5.2.1 Khái quát về công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán
a. Khái niệm
Công ty quản lý quỹ đầu tư là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động cung cấp
dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.
Ngoại trừ Công ty quản lý quỹ được cấp phép, các tổ chức kinh tế khác không được
cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư.
Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích
kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể
cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với
việc ra quyết định đầu tư của quỹ.
b. Đặc điểm của quỹ đầu tư chứng khoán
- Thứ nhất, quỹ luôn dành đa số vốn đầu tư của Quỹ để đầu tư vào chứng khoán. Quỹ
có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng và hợp lý theo quyết định của các nhà đầu
tư nhằm tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. Ngoài việc chủ yếu đầu tư vào
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 22
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán cũng có thể tiến hành đầu tư vào những lĩnh
vực khác như góp vốn, kinh doanh bất động sản v.v
- Thứ hai, quỹ được quản lý và đầu tư một cách chuyên nghiệp bởi công ty quản lý
quỹ đầu tư chứng khoán. Nói cách khác, các nhà đầu tư đã uỷ thác cho công ty quản

cách chuyển nhượng chứng chỉ quỹ đầu tư cho nhà đầu tư khác trên thị
trường chứng khoán.
 Quỹ đại chúng dạng mở là loại quỹ mà theo đó, quỹ có nghĩa vụ mua lại
chứng chỉ quỹ đầu tư theo yêu cầu của nhà đầu tư. Loại quỹ này có số vốn
và số thành viên luôn biến động, nên thường chỉ xuất hiện ở những quốc
gia có nền kinh tế và thị trường chứng khoán phát triển như Mỹ, Canada,
Anh, Đức, Nhật Bản v.v
 Ưu điểm của quỹ đại chúng
- Thứ nhất, quỹ đại chúng có khả năng huy động vốn rộng rãi thông qua việc
chào bán chứng khoán ra công chúng. Điều này cho phép quỹ có thể được niêm
yết trên thị trường giao dịch tập trung và như vậy, khả năng thu hút các nhà đầu tư
và làm gia tăng giá trị cho chứng chỉ quỹ. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư còn ưa
thích loại quỹ này ở khả năng thanh khoản cao của chứng chỉ quỹ.
- Thứ hai, quỹ đại chúng có khả năng thu hút được những nhà đầu tư nhỏ và
không chuyên nghiệp. Mặc dù từng nhà đầu tư không chuyên nghiệp có thể không
có nhiều vốn, nhưng thực tế đã cho thấy lượng vốn do những chủ thể này nắm giữ
trong nền kinh tế là rất đáng kể. Nếu quỹ thu hút được nguồn vốn này, sức mạnh
tài chính của quỹ sẽ tăng lên rất nhiều.
- Thứ ba, đối với công ty quản lý quỹ, quỹ đại chúng chính là mô hình đầu tư
mà công ty có cơ hội thể hiện hết khả năng quản lý của mình, do được các nhà đầu
tư trao quyền điều hành quỹ hàng ngày. Chính vì vậy, chiến lược đầu tư của công
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 24
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
ty quản lý được thực thi một cách dễ dàng hơn, thuận lợi hơn so với mô hình quỹ
thành viên.
 Nhược điểm của quỹ đại chúng
- Thứ nhất, quỹ đại chúng có số lượng nhà đầu tư tham gia lớn nên có thể gây
ảnh hưởng đến giá trị của quỹ vì hai nguyên nhân:
+ Việc mua bán chứng chỉ quỹ diễn ra liên tục và do đó, có thể làm ảnh
hưởng tốt hoặc xấu đến hình ảnh của quỹ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status