Tỷ giá hối đoái phù hợp với nền kinh tế Việt Nam - Pdf 10

Lời mở đầu
Trong điều kiện hội nhập và phát triển như hiện
nay, các mối quan hệ kinh tế trên mọi lĩnh vực của một
nước ngày càng được mở rộng ra các nước khác. Đơn
vị thanh toán không chỉ là nội tệ, mà còn là các ngoại tệ
khác nhau. Hoạt động chuyển đổi đồng tiền này thành
đồng tiền khác trong quá trình quan hệ giữa các nước,
nhóm nước với nhau đã làm nảy sinh phạm trù tỷ giá
hối đoái.
Việc phân tích và dự đoán được tỉ giá hối đoái,
cũng như hoạch định một chính sách tỉ giá hối đoái phù
hợp là một vấn đề cực kỳ quan trọng. Cho đến nay, đã
có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài tỷ giá hối đoái
và chính sách tỷ giá hối đoái. Song đây là một vấn đề
có thể nói còn mới mẻ đối với Việt Nam, nên chưa
được nghiên cứu một cách quy mô, đầy đủ. Và đặc biệt
trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, nhiều thuộc
tính và đặc trưng mới đã xuất hiện nhưng chưa được
định hình rõ ràng, nên việc điều hành tỷ giá trong quản
lý vĩ mô nền kinh tế thị trường ở nước ta vẫn chưa
1
được giải quyết thỏa đáng, tương xứng với vị trí của nó
trong hệ thống lý luận và thực tiễn.
Với những ý nghĩa đó em đã chọn cho mình đề tài
Tỷ giá hối đoái nhằm phần nào làm sáng tỏ và phát
triển thêm lý thuyết về tỷ giá hối đoái cũng như làm cơ
sở để hoạch định được một chính sách tỷ giá hối đoái
phù hợp với nền kinh tế Việt Nam. Đề tài của em gồm
có 3 chương:
Chương 1: Lí luận chung về tỷ giá hối đoái
Chương 2: Chính sách tỷ giá hối đoái.

giá của một lọai tiền tệ được biểu hiện qua giá của
một loại tiền tệ khác.
4
Các khái niệm trên đều phản ánh một số khía cạnh
khác nhau của Tỷ giá hối đoái, nhưng tổng quát chung
có thể định nghĩa: Tỷ giá hối đoái là giá cả của đơn vị
tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ
nước khác.
Ví dụ: 1USD= 18.650 VND, 1EUR=1,3403 USD ,
1USD= 93,07 JPY
1.2. Phân loại
-Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoai hối, tỷ giá
hối đoái được chia ra thành tỷ giá mua vào và tỷ giá
bán ra.Đây là những loại tỷ giá được niêm yết tại các
ngân hàng thương mại. Các loại tỷ giá này được dùng
để mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng và khách
hàng. Tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá
bán ra, phần chênh lệch đó là lợ nhuận kinh doanh
ngoại hối của ngân hàng.
-Căn cứ vào phương diện thanh toán quốc tế, Tỷ giá
hối đoái được chia ra thành tỷ giá tiền mặt và tỷ giá
chuyển khoản.
5
Tỷ giá tiền mặt là loại tỷ giá áp dụng cho các ngoại tệ
tiền mặt, séc, thẻ tín dụng.Tỷ giá chuyển khoản áp
dụng cho các trường hợp giao dịch thanh toán qua
ngân hàng.Loại tỷ giá này thường thấp hơn tỷ giá tiền
mặt.
-Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối, Tỷ giá hối
đoái được chia ra thành:

hưởng rất lớn đối với hoạt động thương mại quốc tế,
trạng thái cán cân thanh toán, tốc độ tăng trưởng kinh
tế, việc làm và lạm phát.
7
-Tỷ giá hối đoái và hoạt động thương mại thương mại
quốc tế.
Là một pham trù kinh tế liên quan đến việc tính toán
và so sánh giá trị giữa 2 đồng tiền, cho nên một sự
biến động của tỷ giá hối đoái sẽ làm thay đổi sức mua
của 2 đồng tiền và do vậy làm cho giá cả hàng hóa
xuất nhập khẩu của 2 quốc gia trong quan hệ tỷ giá
trên thị trường quốc tế cũng thay đổi, từ đó ảnh hưởng
đến quy mô thương mại quốc tế.
Ví dụ khi đồng tiền nội tệ mất giá, đồng nghĩa là đồng
ngoại tệ lên giá thì giá cả hàng hóa xuất khẩu của
quốc gia đó trên thị trường quốc tế trở nên rẻ hơn.Một
khi giá cả hàng hóa trở nên rẻ hơn, thì sức cạnh tranh
của hàng hóa trên thị trường quốc tế sẽ được nâng
cao, mức cầu mở rộng và khối lượng hàng hóa xuất
khấu sẽ gia tăng. Nền kinh tế thu được nhiều ngoại tệ
và cán cân thanh toán được cải thiện.Và ngược lại.
Tuy nhiên, khi xem xét tác động của tỷ giá đến sự
thay đổi hoạt động thương mại quốc tế và cán cân
thanh toán cần lưu ý rằng hiệu ứng này không xảy ra
8
ngay mà phải trải qua một khoảng thời gian nhất
định.Hay nói cách khác, thì đồng tiền nội tệ mất giá
thì cán cân thanh toán không thể cải thiện ngay mà
còn phụ thuộc vào thời gian thích ứng đối với việc
thay đổi giá cả hàng hóa của người tiêu dùng trong

giá, có đặc điểm là một đơn vị cố định. Đồng tiền thứ
2 (EURO, SDG) là đồng tiền định giá, có đặc điểm là
một lượng tiền biến đổi.
10
Xuất phát từ góc độ phạm vi quốc gia, có 2 phương
pháp niêm yết tỷ giá hối đoái: Phương pháp trực tiếp
và phương pháp gián tiếp
-Phương pháp trực tiếp: là phương pháp yết giá đồng
ngoại tệ bằng khối lượng đồng nội tệ. Thông qua
phương pháp này thì giá cả của một đơn vị ngoại tệ
được biểu hiện trực tiếp ra ngoài.
Ví dụ :1USD =15600VND
-Phương pháp gián tiếp: là phương pháp yết giá đồng
nội tệ bằng khối lượng đồng ngoại tệ. Thông qua
phương pháp này thì giá cả của một đơn vị ngoại tệ
chưa được biểu hiện trực tiếp ra ngoài.Để muốn biết
giá cả đó là bao nhiêu thì chúng ta cần phải tiến hành
thực hiện phép tính chuyển đổi.
Ví dụ :1VND =0,0000641 USD
Suy ra 1USD =1/0,0000641VND=15600VND.
Do vai trò nổi bật của đồng USD và tập quán trong
quá khứ nên ngày nay hầu hết trên các thị trường
ngoại hối đều sử dụng đồng USD và đồng Bảng Anh
làm đồng tiền yết giá trong các giao dịch ngoại tệ.
11
1.4.2.Tỷ giá chéo trong yết giá 2 chiều
Tỷ giá chéo là tỷ giá của 2 đồng tiền bất kỳ được xác
định thông qua một đồng tiền thứ 3( đồng tiền trung
gian).
Theo nghĩa hẹp, do đồng USD thường là đồng tiền

1.5.Các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái.
1.5.1 Các nhân tố thuộc về dài hạn :
-Năng suất lao động : Năng suất lao động cao làm giá
hàng của một nước rẻ tương đối so với các nước khác .
Cầu hàng xuất nước đó cao lên kéo theo sự tăng giá của
đồng tiền nước đó. Về lâu dài , do năng suất lao động
13
của một nước cao hơn tương đối so với nước khác ,
nên đồng tiền của nước đó tăng giá.
- Thuế quan và hạn mức nhập khẩu là những công cụ
kinh tế mà chính phủ dùng để điều tiết và hạn chế nhập
khẩu.Chính công cụ này nhiều hay ít đã tác động và
làm tăng giả cảcủa hàng ngoại nhập,làm giảm tương
đối nhu cầu với hàng nhập khẩu, góp phần bảo hộ và
khuyến khích tiêu dùng hàng sản xuất trong
nước.Những công cụ mà nhà nước dùng để hạn chế
nhập khẩu sẽ ảnh hưởng và làm cho tỷ giá hối đoái của
đồng nội tệ có xu hướng giảm về lâu dài.
- Ưa thích hàng nội so với hàng ngoại. Nếu sự ham
thích của người nước ngoài về mặt hàng trong nước
tăng lên thì cầu về hàng nội sẽ tăng lên làm đồng nội tệ
tăng giá,bởi hàng nội địa vẫn bán được nhiều ngay cả
với giá cao hơn của đồng nội tệ.Cầu đối với hàng xuất
của một nước tăng lên làm cho đồng tiền nước đó giảm
giá.
-Yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng đến tỷ giá : Phần lớn
các nước đang phát triển đều phải đối mặt với tình
14
trạng “Đôla hoá” trong nền kinh tế.Đó là sự mất niềm
tin vào đồng bản tệ , người dân và các tổ chức kinh tế

cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá tăng.
16
CHƯƠNG 2
Chính sách tỷ giá hối đoái
2.1.Tổng quát chung về chính sách tỷ giá hối đoái
2.1.1. Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái:
Mỗi một nước trên thế khi bắt đầu mối quan hệ kinh
tế và thương mại hoặc các mối quan hệ khác với một
quốc gia nào đó đều phải thiết lập mối quan hệ với
đồng tiền của nước mình với đồng tiền của nước đó.
Từ đó hình thành nên chính sách tỷ giá hối đoái.
Chính sách TGHĐ là một hệ thống các công cụ
dùng để tác động tới cung cầu ngoại tệ trên thị trường
từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới
những mục tiêu cần thiết
. Về cơ bản, chính sách tỷ giá
hối đoái tập trung chú trọng vào hai vấn đề lớn: vấn đề
lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và vấn đề điều chỉnh tỷ
giá hối đoái.
2.1.2. Mục tiêu, nội dung của chính sách tỷ giá hối
đoái.
Chính sách tỷ giá hối đoái là một bộ phận hữu cơ và
quan trọng của chính sách tiền tệ và mở rộng hơn nữa
17
là chính sách tài chính quốc gia. Việc định hướng điều
chỉnh của chính sách tỷ giá có ảnh hưởng đến các khía
cạnh kinh tế vĩ mô khác như: lạm phát, nợ nước ngoài,
công ăn việc làm…Do đó hệ thống mục tiêu và nội
dung của chính sách tỷ giá phải xuất phát từ định
hướng phù hợp với mục tiêu và nội dung cơ bản của

thất nghiêp đối với người lao động và cuối cùng không
gây ra biến động xã hội.
Tóm lại gắn kết chặt chẽ với mọi mặt của đời sống
kinh tế xã hội ,một biến động của tỷ giá sẽ tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp đến các chính sách kinh tế xã
19
hội khác nhau. Do vậy, khi xem xét chính sách tỷ giá
phải thận trọng và xem xét tổng thể các mối quan hệ
qua lại, những mặt tích cực và tiêu cực có thể mang lại
cho đời sống kinh tế xã hội, không thể xem xét một
cách tách biệt và một chiều.
2.2.Các chế độ Tỷ giá hối đoái
2.2.1.Chế độ tỷ giá hối đoái cố định
a.Chế độ đồng giá vàng (1880 - 1932):
Sau một quá trình phát triển lâu dài, tiền thống nhất từ
các dạng sơ khai thành hai loại: vàng và bạc sau đó cố
định ở vàng. Chế độ bản vị vàng là chế độ ở đó, vàng
đóng vai trò là vật ngang giá chung, chỉ có tiền đúc
bằng vàng hoặc dấu hiệu của nó mới có thể đổi lấy nó.
Theo đó, đồng tiền của các nước được đổi trực tiếp ra
vàng, tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở so
sánh hàm lượng vàng của các đồng tiền, sự so sánh đó
được gọi là ngang giá vàng (gold parity).
Ví dụ: 1 GBP = 5 USD có nghĩa là: 1GBP có chứa
"một hàm lượng vàng" tương đương với 5 lần hàm
20
lượng vàng của 1 USD. Nói cách khác, ngang giá
vàng của GBP so với USD là: GBP/USD = 5.
Trong chế độ bản vị vàng, khi việc đúc tiền vàng , đổi
tiền ra vàng và xuất nhập khẩu vàng được thực hiện tự

Mỹ, Anh và 42 nước đồng minh đã họp hội nghị tại
Bretton Woods (Mỹ) tháng 7/1944 để bàn bạc xây
dựng hệ thống tiền tệ và thanh toán chung. Hội nghị
được đánh giá là hội nghị thành công nhất thế kỷ. Tại
đây 56 nước ký tên hiệp định chấp nhận thành lập
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB)
và một chế độ tỷ giá hối đoái mới. Theo chế độ này,
22
các nước cam kết duy trì giá trị đồng tiền của mình
theo đồng USD hoặc theo nội dung vàng trong phạm
vi biến động không quá ( 1% tỷ giá đăng ký chính
thức tại quỹ. Nếu các nước tự thay đổi tỷ giá mà
không được sự đồng ý của IMF thì sẽ bị phạt cấm
vận. NHTW các nước phải can thiệp vào thị trường
tiền tệ nước mình để giữ cho tỷ giá nước mình không
thay đổi bằng cách mua bán đồng USD. Điều này
cũng có nghĩa là các nước phải cùng nhau bảo vệ giá
trị cho đồng USD. Đổi lại, Mỹ cam kết ổn định giá
vàng ở mức 35USD/ounce vàng ( biến động giá cả
không quá 24 cent/ounce). USD là đồng tiền chủ chốt
số 1 với tiêu chuẩn giá cả 1USD = 0,88714 gram
vàng.
Trong thời kỳ đầu cứ 1USD giấy phát hành ra đã có từ
4 đến 8 USD vàng bảo đảm. Lượng vàng đảm bảo đồ
sộ như vậy nên cả thế giới tư bản chỉ lo có vàng để
đổi lấy USD mà mua hàng Mỹ chứ không quan tâm
đến việc USD có đổi lấy vàng được không. Chính vì
vậy, các nước có xu hướng chuyển đổi từ dự trữ vàng
23
sang dự trữ USD để tiết kiệm chi phí. USD đã trở

Vào những năm 60, bối cảnh kinh tế xã hội có nhiều
thay đổi, khoa học kỹ thuật phát triển làm cho các
nước phục hồi kinh tế, thế giới chia làm 3 cực: Mỹ,
Nhật và Tây Âu. Do đó, các nước đã xuất khẩu hàng
hoá sang Mỹ và Mỹ trở thành nước nhập siêu. Về phía
mình, hàng hoá Mỹ không còn sức hấp dẫn như trước
làm cho cán cân thương mại Mỹ thường xuyên thâm
hụt, dự trữ vàng ngày càng giảm, nợ nước ngoài tăng,
USD mất giá nghiêm trọng. Thêm vào đó Mỹ sa lầy
vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam và một số nước khác
25

Trích đoạn Sự hình thành và vận động của tỷ giá cùng chính sách TGHĐ trong giai đoạn trước tháng Sự vận động của tỷ giá và chính sách TGHĐ từ tháng 3/1989 đến nay, thời kì nền kinh tế vận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status