class="bi x1 y1 w1 h2"
BỘ
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
TRẦN
TÙNG QUÂN
HỢP
TÁC
KINH
TẾ THƯƠNG
MẠI
VIỆT
NAM-
LIÊN
MINH
CHÂU ÂU
(EU)
TRONG
NHUNG
NĂM GAN
ĐÂY
LUẬN
VĂN
THẠC
sĩ
KHOA
TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trần Tùng Quân
HỢP TÁC
KINH
TỂ THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM
-
EU
TRONG
NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY
Chuyên
ngành:
Kinh
tế
thế
giới
và Quan
hệ
kinh
tế
quốc
tế
Mã số: 5.02.12
Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: Tạ Kim Ngọc, PTS Khoa học Kinh tế
Hà
nội-1998
MỤC LỤC
lược
của
EU
đối với
châu
Á
trong
giai
đoạn
mới
17
1.
Những
mục
tiêu
tổng
quát và
các
ưu
tiên
19
2.
Quan
hệ
hợp
tác
EU
với
châu
Á 21
nam
sang
EU 45
IU.
Hợp
tác đầu
tư.
60
IV.
Một
số
đánh
giá về
thực
trạng
quan hệ
kinh tế
thương
66
mại
Việt
nam-EU.
Chương
HI:
Triển
vọng
hợp tác
kinh
tế
thương
MỞ ĐẦU
Hiện
nay nhân tố
kinh
tế có vai trò ngày càng
quan
trọng trong
quan
hệ
giữa
các cường
quốc
trên
thế
giới.
Sự vươn lên của các nước
trong
khu vực và
Việt
nam
trong
nền
kinh tế thế
giới
đã đang tác động và làm
thay đổi chiến
lược,
chính sách của các nước
lớn
trên
triển
các mối
quan
hệ
kinh tế
và thương mại
với
châu Á trên cơ sở bình
đẳng,
hai
bên cùng có
lợi
đồng
thời
thông qua các
cuộc
đối thoại
chính
trị
sâu
rộng
và toàn
diện
cũng
như
tiếp
tục
chính sách
viện
trợ
những
hướng
trọng
điểm
cần tăng cường các
quan
hệ
hợp
tác
kinh tế
thương
mại.
Là một thành viên chính
thức
của
ASEAN,
một
quốc
gia
châu Á,
quan
hệ
Việt
Nam - EU đã được tăng cường và phát
triển
mạnh
trên
nhiều
lĩnh
vực,
Việt
Nam - EU có ý
nghĩa
rất
quan
trọng.
Nó
không
chỉ
cho phép nhìn
nhận
một cách khách
quan
sự thích ứng của EU
trong
điều
kiện
mới của tái sản
xuất
xã
hội
và
trong bối
cảnh
kinh tế
quốc
tế
đang
biến đổi
mà còn
định chính sách
kinh tế đối
ngoại
của
Việt
Nam
với
các nước này. Đặc
biệt
trong
điều
kiện hiện nay, khi
đòi
hỏi
mở
rộng
quan
hệ
4
kinh tế với
các nước EU
đối với Việt
nam đang
trở
nên bức xúc.
Vả lại, ở
Việt
nam
việc
nghiên cứu tìm
hệ hợp tác
kinh tế -
thương mại
Việt
nam
-
EU
lại
càng có ý
nghĩa
quan
trọng
và
cụn
thiết.
2. Múc đích nghiên cứu:
việc
nghiên cứu của
luận
văn nhằm
những
mục đích
sau
Thứ
nhất
là tìm
hiểu,
phân tích và đánh giá quá trình ra đời, phát
triển
của
nam
với
EU và
với
các nước thành viên EU.
Thứ ba là trên cơ sở đó góp
phụn
cung
cấp cơ sở
khoa
học cho
việc
hoạch
định
chính sách
kinh tế đối
ngoại
của
Nhà nước
nhất
là chính sách
của
nước
ta
trong việc
tâng
cuông,
đẩy
mạnh
hợp tác
mại,
đụu
tư,
hỗ
trợ
phát
triển
giữa Việt
nam và EU
trong
giai
đoạn
từ
năm
1990 tói
nay
5
5.
Đóng góp
của
luân văn:
-Vẽ được bức
tranh
tổng
thể
về hợp tác
kinh tế giữa Việt
nam và EU
trong
giai
Việt
nam nói
riêng.
Đánh giá được
thực
trạng,
những
ưu-nhược
điểm
của
mối
quan
hệ
đó.
-Khẳng
độnh
việc
tăng cường qua hệ
với
EU là phù hợp
với
tinh
thần
đường
lối
đói
ngoại
mà
Đại hội
Đảng
sách,
giải
pháp nhằm thúc đẩy
quan
hệ
kinh
tế
thương mại
với
EU, mục đích
chung
là Việt
nam sớm
hội
nhập
với
khu vực
và
thế
giới.
-Giúp các nhà nghiên cứu, các nhà doanh nghiệp một số điểm cần chú ý
khi tiến
hành thâm
nhập
thộ
trường
EU.
6. Bố cúc của luân văn:
Để đạt được các mục đích trên đây, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận
văn
luận
vãn này, tác
giả
đã
nhận
được sự giúp đỡ cần
thiết
cùa:
*Trung
tâm Châu Á-Thái Bình Dương,
Viện kinh
tế thế
giới.
*Thư
viện
trường Đại học
Ngoại
Thương
*Đăc
biệt
là sự
hướng
dẫn
nhiệt
tình của PTS. Tạ Kim
Ngọc,
phó giám
đốc-phó
tổng
biên
kiến
của
thầy
cô giáo và bạn
đọc.
7
Chương
ĩ
Sự HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
CỦA LIÊN
MINH
CHÂU Âu
Ị.
Sư hình thành và phát
triển
Sau khi
chiến tranh
thế
giới
lần thứ hai kết thúc, một mặt, trước yêu cầu
cấp
thiết
phải
khôi
phục
và phát
triển
nền
kinh tế bị
tàn phá
nổ
ra giữa
các nước
Châu
Âu,
đặc
biệt
là phải đổi
mới
kinh tế lấy
sự hợp tác về
sản xuất
để
thay thế
cho
sự
đối
địch về
kinh
tế.
Mặt khác quá trình khách
quan
xuất
phát
tỏ
sự đòi
hỏi
phát
triển
của
đời
sống
kinh tế
Tày Âu. Sự
tiến
triển
mạnh
mẽ về công
nghệ,
kỹ
thuật
trên thế
giới,
đặc
biệt
là của Mỹ đã làm cho các nước Tây Âu "cảm
thấy
tính quá
chật
hẹp của
những
vùng lãnh
thổ
của mình để
đạt
sự
tiến
bộ
trong
nền
gia
có sứ
mạng
điều
hành
phối
hợp
hoạt
động
kinh tế của tỏng
quốc
gia
càng
trở
nên bức
xúc.
Để
thống
nhất
Châu
Âu,
có
hai
hướng
vận
động:
- Hợp tác : Các quốc gia hợp tác với nhau, nhưng mỗi quốc gia đều giữ
8
trọn
chủ quyền
kinh
tế
(OECD)
thành
lập
1948 chủ yếu
để
phân
chia viện
trợ
của
Mỹ; Hội
đồng
Châu
Âu
thành
lập
vào
5/5/1949.
- Hoa nhập hay "nhất thể hoa" : Các quốc gia đều chấp nhận và tuân thủ
theo
một
cơ
quan quyền
lực
chung
siêu
quốc
gia.
Cuối
tổ
chức
"mở
cửa"
để
các nước châu
Âu
khác cùng
tham
gia".
Bản
tuyên
bố
nêu
rõ
đề
nghị
trên
đây
của Pháp nhằm
đặt
nền móng
đầu
tiên cho
một
"Liên
bang
châu Âu" để gìn
giữ
hoa bình.'
Lan cùng lên
tiếng
ủng
hộ.
Sau gần một
năm
đàm phán
khẩn
trương, căng
thẳng,
ngày
18/4/1951,
6
nước Pháp, Bỉ,
CHLB
Đức,
Italia,
Hà
Lan,
Lúc
Xămbua
đã đi
tòa
ký
Hiệp
ước
thiết
lập
Cộng đồng
than
đẩy
mạnh
tiến
bộ
khoa
học
kỹ
thuật
trong
sản
xuất,
phân
phối,
tiêu
thụ
và nâng
cao
nâng
suất lao
động.
Trên
cơ sở
những
kết quả mà
CECA
mang
lại về mặt
kinh
tế
cũng
nước
tại
Messine
(Italia)
từ
ngày 1-2/6/1955
đã
quyết
định
mở
rộng
hơn nữa
mối
liên
kết kinh tế giữa
6
nước.
Sau
cuộc
đàm
phán
kéo
dài ngót một
năm
giữa
6
nước thành viên của
cộng
đồng
than
Cả
hai
Hiệp
ước
đó
có
hiệu lực từ
ngày
1/1/1958.
CEEA
chỉ
"điều
chỉnh"
một
lĩnh
vực của công
nghiệp
và
kinh
tế,
nhiệm
vụ
của
nó
chỉ
là đẩy
mạnh
việc
sáng
tạo
trường
thống nhất, tạo ra tự
do lưu
thông hàng
hoa
và
con
người
trong
toàn
khối.
Năm
1967,
CECA, CEEA, EEC
chính
thức
hợp
nhất
thành
một
tồ
chức
chung
gọi
là "Cộng đồng châu
Âu
(ÉC)".
Chính phủ Anh ban đầu đón nhận tuyên bố Schuman một cách lạnh nhạt,
chỉ
trích
được
những
thành
tựu nhất
định
cả
về kinh tế
và
chính
trị,
cuối
cùng chính
phủ Anh
thay đồi
thái
độ và
ngày
9/8/1961
tuyên
bố
chính
thức
ý
định
gia
nhập
EEC.
Cùng
với
Anh,
ngày
1/1/1973,
cộng
đồng châu
Âu
chính
thức
thêm
ba
thành
viên
mới: Anh,
Ireland
và Đan
mạch. Riêng
Nauy,
mặc dù đã
tham
gia
ký
Hiệp
ước,
nhưng không
trở
thành thành viên
vì
nhân
dân
Nauy không
tán
với
3 nước này
cũng
không kém
phần
dai
dẳng,
bởi vì,
về mặt chính
trị,
có thêm 3 thành viên
mới,
tiếng
nói của Cộng
đồng
mạnh
hơn nhưng về mặt
kinh
tế,
sợ
yếu
kém về
kinh
tế
của
3 nước là gánh
nặng
cho Cộng đồng (trình độ phát
triển
của 3 nước đều
28/7/77), hiệp
ước mới được ký
kết
tại
hai
Thủ đô
Lisbon
và
Madrid
ngày
12/6/1985
và
hai
nước này
bắt
đầu
trở
thành thành viên chính
thức
từ
ngày
1/1/1986.
Như vậy, sau 34 năm hình thành và phát
triển,
kể từ khi
CECA
chính
thức
ra
đời
những
nỗ
lợc
của quá trình
thống nhất
châu Âu được
thể
hiện
qua
cuộc
họp thượng đỉnh các nước
thuộc
cộng
đồng
kinh
tế
châu Âu
tổ
chức
tại
Maastricht
Hà Lan ngày 9 và
lo
tháng
12/1991.
Hội
nghị
đã thông qua
Hiệp
ước
dấu ẩn
lịch
sử đáng
ghi nhớ.
Cợu
Tổng
thống
Pháp
Mitterrart
nói:
"Đâylà
li
sự
kiện
quan
trọng
nhất
của nửa
cuối
thế
kỷ XX, là
thời
khắc
chuẩn
bị cho
thế
kỷ
tới.
Thế kỷ XX đã
chứng
CHLB
Đức -
quốc
gia
cuối
cùng
trong
12 nước
thuộc
ÉC - phê
chuẩn
và
tham
gia Hiệp
ước này.
Tháng
10/1993,
nước Bỉ đương kim chủ
tịch
cộng
đồng châu Âu đã tuyên bố
triệu
tập Hội
nghị
các nguyên
thủ
quốc
gia
12 nước ÉC để phê
chuẩn
thế kỷ.
Triển
vọng
sáng sủa của EU đang là sự hấp dẫn không
những
đối
vói các nước châu Âu mà
thậm
chí
với
cợ các nước không
thuộc
châu Âu.
Với những kết quợ tích cực qua những cuộc trưng cầu dân ý, Áo, Phần Lan
và Thúy Điển đã chính
thức xin gia
nhập
EU và đã được Hội đồng Châu Âu
chấp
thuận
là thành viên chính
thức từ
1/1/1995.
Như
vậy
mạc dù một số nước
chưa
gia
nhập
được EU,
trình hoa
nhập
châu Âu và ợnh hưởng của EU không chỉ đến tình
hình
kinh tế
và chính
trị
của từng
nước
trong
EU mà còn đến cợ châu Âu.
Hiện nay các nước Đông Âu cũng đang từng bước bước vào quá trình liên
kết
châu Âu, đồng
thời
mở
rộng thị
trường
chung
để
tạo ra
những
chất
xúc tác
bổ
sung
cho sự tăng trưởng
kinh tế.
12
Các nước này đã
(Đức) vào tháng 12/1994 đã
kết
thúc
với việc
xác định
những
vấn đề ưu tiên
trong
giai
đoạn
ngắn
hạn và
trung
hạn của EU. Mới đây,
ngày
2/10/1997,
tại
Amsterdam
(Hà
Lan),
ngoại
trưởng 15 nước EU đã ký
chính
thức
bản dự
thảo
Hiệp
định đã được các nhà lãnh đạo cấp cao EU thông
qua
tại
hơn 40 năm qua là
cả
một quá trình đấu
tranh
gay
gắt,
một quá trình
tranh
chấp
và
thoa
hiệp.
Song
nhìn
chung,
các nước thành viên đều
thống
nhất
mục tiêu đề
ra
và cam
kết trong
các
Hiệp
ước. Tất
nhiên,
để
đạt
được,
điều
than
thép đến nay nó đã
trở
thành
một
cộng
đồng gồm 15
nướcchi
phối
nhiều
lĩnh
vực
kinh tế.
Từ chỗ các
hoạt
động
thuứn
tuy
về
kinh tế,
nó đã
tiến
dứn
tới
các mục tiêu chính
trị
(hợp tác
chính
trị),
về cơ
thập
kỷ
cuối
cùng của
thế
kỷ XX, EU đang
nhanh
chóng
trở
thành một cực đặc
biệt
trong
nền
kinh
tế thế
giới
về sức
mạnh
kinh
tế.
Với
hơn 373
triệu
dân,
tổng
sản phồm xã
hội
hơn 7 nghìn
tỷ
đô
trị
đang
diễn ra
ở Tây Âu đã giúp cho
việc
ổn
định
tình hình phát
triển
kinh
tế
khu
vực, tạo
điều
kiện
cho EU phát
triển
về
chất.
ỊL Múc tiêu của
việc
thành láp và cơ cấu
hoạt
đổng:
Liên
minh
châu Âu gồm 15 nước (Đức, Anh, Pháp,
Italia,
Bỉ, Hà Lan,
Lúcxãmbua,
hợp
chủng
quốc
châu Âu,
trong
đó không còn
ranh
giới
quốc
gia
và các cửa
khồu
ngăn
chặn
sự đi
lại
của con
người,
tư bản hàng hoa và
dịch
vụ.
Thực
chất
của
việc
nhất thể
hoa châu Âu ở đây là
việc
thành
lập
xuất.
Hình ảnh
thị
trường
rộng
lán không biên
giới
và cản
trở
đã cho
thấy
tác
dụng
của
nó cả
trong
nội
bộ EU
lẫn
bên
ngoài.
"Châu Âu đang đi trên con đường tự
tìm
ra
và đang
vượt
qua sự phiêu lưu
lớn nhất
trong
lịch
lập
EU được
thể
hiện
ngay
trong
các
hiệp
ước ở
Rôm về thành
lập
cộng
đồng
kinh
tế
châu Âu năm
1957.
Đó là tăng cường sự
liên
kết
về mặt
kinh
tế,
tập
hợp sức
mạnh
của các
quốc
gia,
giịi
thiết
lập
một khu vực
tiền
tệ
ổn định ở Tây Âu nhằm
cạnh
tranh
với
đồng đô
la
Mỹ, về lâu dài để hình thành một liên
minh
tiền
tệ
và
kinh
tế thống nhất
tiến
tới
tăng cường liên
kết
về mặt chính
trị.
Để
đạt
được các mục tiêu trên
đây,
EU
đã
cộng
đồng châu
Âu;
Nghị
viện
châu
Âu;
Toa án châu Âu
-
là
những
tổ
chức
cơ
bịn,
ngoài
ra
là các uy ban
kinh
tế
và xã
hội,
uy ban tư vấn
cộng
đồng
than
thép châu
Âu,
Toa
thẩm
bộ của
cộng
đồng và
tạo
ra
một uy
lực
chính
trị
để
chuyển
sang
các
giai
đoạn
mới.
- Hỏi đổng châu Âu: Định ước thống nhất chung châu Âu đã chính thức
chỉ
định
Hội
đồng châu Âu như một cấp
quyền
lực
chung
của
cộng
đồng,
bao
gồm
những
đồng,
được thành
lập
tháng
4-1965,
bao
gồm
những
đại diện
chính
phủ
của
các nước thành
viên.
Chủ
tịch
Hội đồng
do các
thành viên của Hội đổng
đảm
nhiệm
trong
thời
gian
là
6
tháng,
theo
thứ tự vần
chữ cái tên của các nước
vụ
mà
Hội
đổng ủy thác cho
nó.
- Uy ban Công đổng châu Ấu (Uy ban Brúcxen): Tên thường gọi là Uy ban
châu Âu; được hình thành
từ
tháng 4-1965 trên
cơ
sụ sự hoa
nhập
của các
cơ
quan
điều
hành của
CECA, CEEA, EEC. Số
thành viên
hiện
nay là
20,
được
gọi
là
"Uy
viên châu Âu".
Hội
đồng bao
gồm
quan
hệ
đối
ngoại.
Uỷ
ban
hoạt
động
vì
lợi
ích
chung
của các
cộng
đồng,
độc
lập với
chính
phủ.
Uy
ban
chịu
sự
kiểm
soát
của
Nghị
viện
châu
Âu.
đại diện
củ
16
nhân dân các nước thành
viên,
được thành
lập
theo
các
Hiệp
ước
Pari
và Rôma
dưới
cái tên
"Assemblee"
vào năm
1951,
và
từ
ngày
20-3-1962
có tên mới là "
Nghị
viện
châu
Âu".
Nghị viên bao gồm các
nghị sĩ
châu Âu do dân bầu
nghiệp,
ngân
sách,
kinh
tế-tiền
tệ
& chính sách công
nghiệp,
năng lượng & kứ
thuật,
kinh tế đối ngoại).
Nghị
viện
thực
hiện
các
quyền:
+ kiêm soát hoạt động của Uy ban các cộng đồng
+ tham gia vào các quá trình lập pháp và dự quyết ngân sách của cộng
đồng.
- Toa án châu Âu có hai chức năng quan trọng nhất là:
+ Phán xét các
tranh
chấp
giữa
các nước thành viên,
giữa
các cơ
quan
cộng
thời
kiểm
soát tính hợp pháp
của
các văn
kiện lập
pháp do các
cơ
quan cộng
đồng ban hành.
- Toa thẩm kế được thành lập tháng 10-1977 nhằm kiểm soát sự cân đối và
quản
lý
tài
chính các ngân quứ
của cộng
đồng.
17
- Ngân hàng đáu tư châu Âu:
chức
năng chủ yếu là sử
dụng
nguồn
vốn do
các nước thành viên đóng góp và vốn vay
quốc
tế
để cấp phát tín
dụng
cho các
cục
diện thế
thơi
đã hoàn toàn
thay
đổi, thế đối
đầu
hai
cực Xô -
Mỹ không còn
nữa,
châu Âu
trữ
nên
bất
ổn đinh
hơn,
đồng
thời
vai
trò cân
bằng
lực
lượng
của Mỹ ữ châu Âu
cũng
bị suy yếu
đi.
Các nước
trong khối
Trong bối cảnh mới, EU đang tăng cường quan hệ với các nước trên thế
giới
về các mặt
kinh
tế,
thương mại và chính
trị.
Quan hệ của EU
với
các nưóc
đã mữ
rộng
từ khu
vực Địa
Trung
Hải
và châu
Phi
sang
các nước châu Á và Mỹ
La
Tinh.
Đặc
biệt
khu vực châu Á ngày nay đã
trữ
thành một
đối
tác
kinh
nay đến năm
2000,
sẽ có một
tỷ
người
châu Á là
những
người
tiêu dùng có sức mua
lớn
và
400
triệu
trong số
đó sẽ
CI
)*¥ủ1íế
thú
7
rìhạp
dư
thừa
trung
bình
bằng,
hoặc
cao hơn
18
mức
thu
của
mình
trong
nền
kinh tế thế
giới.
Việc
thiết
lập
được một sự
hiện diện
mạnh
mẽ
và đầng bộ
tại
các khu
vực
ở châu Á sẽ cho phép EU bảo đảm
những
lợi
ích của
mình
tại
khu vực này vào đầu
thế kỉ 21 sẽ
được
quan
tâm đầy đủ.
Tiềm lực kinh tế ngày càng tăng của châu Á đang thúc giục châu lục này
đóng một
phương
tiện
cho phép
phối
hợp
với
châu Á ngày càng
nhiều
hơn
trong việc
giải
quyết
những
công
việc
của
quốc
tế,
nhằm
tạo ra
một
đối
tác cân
bằng
sức
mạnh
có
khả
năng
giữ
diễn biến
tình hình đặc
biệt
trong
các
lĩnh
vực
kiểm
soát vũ
trang,
không phầ
biến
vũ khí
hạt
nhân,
các
cuộc
xung
đột
khu vực và an
ninh
trên các
tuyến
đường
biển.
Những gì có
quan
hệ
với việc
quản
thác
mạnh
mẽ hơn và có mục tiêu
19
chính xác hơn
đối với
sự hợp tác
kinh tế
nhằm
khuyến
khích buôn bán và đầu tư
của
châu Âu.
Việc cải tổ các nền kinh tế trước kia vốn là kế hoạch hoa, chẳng hạn như ở
Trung
Quốc,
Ấn Độ và
Việt
nam, là một mặt cực kễ
quan
trọng
của
những
thay
đổi
cơ bản đang
diễn ra
ở châu Á.
Việc
EU
để
cải
thiện
hình ảnh
của
mình ở châu Á.
Ị - Những múc tiêu tổng quát và các ưu tiên,
Điều
cốt lõi
trong
chính sách châu Á của EU
hiện
nay và về sau là ở các
vấn
đề
kinh tế.
Tuy nhiên, thành
phần
chủ yếu này
trong
chính sách của EU
phải
được trình bày
theo
bối
cảnh
cân
bằng
lực
lượng
những
lợi
ích
của
mình
được
tôn
trọng
hoàn toàn
trong
khu vực
then chốt
này vào đầu
thế
kỷ
21.
- Góp phần vào sự ổn định ở châu Á bằng cách khuyến khích hợp tác và
20
hiểu
biết
lẫn
nhau
ở cấp độ
quốc
tế;
về mặt
này,
EU đang mở
rộng
và làm sâu
nhất
thế
giới,
nên EU và các nước thành viên của mình sẽ còn
phải
tiếp
tục
góp
phần
làm
giảm
bớt
sự nghèo nàn và
tạo ta
một sự tăng trưởng bền
vững.
- Góp
phần
phát
triển
và
củng
cố nền dân chủ, nhà nước pháp
quyền,
cũng
như về phương
diện
tôn
trọng
quyền
hiệu
quả
hơn.
Điều
này
cũng
đòi
hỏi phải
có sự
phối
hợp
nhiều
hơn nữa
trong nội
bộ EU, và đó không
phải là việc nhỏ.
Điều
này
cũng
đòi hỏi có một
loạt
các
lĩnh
vực
hoạt
động ưu tiên
thấy
được
rõ ràng ở
khắp
- Ung hộ
những
nỗ lực của các nước châu Á
trong
hợp tác cả ở cấp độ khu
vực
và
tiểu
khu
vực,
thí
dụ như
trong
khuôn khổ của
Diễn
đàn khu vực
ASEAN
nhằm
củng
cờ
hoa
bình và an
ninh trong
khu
vực.
-
Phời
hợp với các nước châu Á
trong việc
giải
hệ
với
các nước châu Á
trong
khuôn
khổ
đa phương và
tiếp
tục
thúc đẩy các nước này
tham
gia
vào các
tổ
chức
đa phương.
-
Tiếp
tục mọi
hoạt
động cần
thiết
bảo đảm cho
việc
mở cửa thị trường và
tạo ra
một bầu không khí làm ăn không có sự phân
biệt
đời
xử
cuộc
phát
triển
bền
vững
và
giảm
đói nghèo ở các
nước
nghèo
nhất
châu Á.
2-Quan hê hợp tác EU với châu Ả
Trong khi đưa ra những chiến lược mới đời với châu Á, EU không xuất
phát
từ
con sờ không, mà
trong
thực
tế
nó đã có một
kinh
nghiệm
đán* kể ở
22
châu
Á:
ạ.
Các
quan
trong
khuôn
khổ
các
hiệp
định buôn bán
và
hợp tác.
Ở cấp độ
song
phương,
đó là
trường
hợp đối
thoại
với
Nhật
Bản (dựa
trên
tuyên
bố
chung
EU
- Nhật
Bản), với
Trung
Quốc
(trao
đổi
thư
một
cuộc đối
thoại
song
phương
nào
với
các nước thành viên
ASEAN).
Một
cuộc
họp hàng
năm EU
-
ASEAN ở
cấp
bộ
trưởng
hoặc
ở
cấp
các
quan chức
cao cấp
đã
diễn ra;
ngoài
ra cũng
có một
cuộc
Nhật
Bản.
Ớ cấp độ
chung
hơn, EU
cũng
đang
tham
gia vào
cuộc
đối
thoại
khu vực
chung
duy
nhất
để
giải
quyết
những
vấn
đề an
ninh trong diễn
đàn khu vực
ASEAN,
nơi
tập trung
hầu
hết
các nước châu