-,. •
ỉ
1 -Ma.
BƯƠM
LUM
VÁN
THẠC
s
HẢ
NỘI,
THANG
6
NẰM
2095
ÉT
.?
Bộ GIÁO
DỤC
ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
Nguyễn
Đức
Thắng
CHÍNH SÁCH
NHẬP KHẨU CỦA NHẬT BẢN
VÀ
Nguyễn Đức
Hoạt
THIÍVÊNỊ
Ì
núc .E
Bn
núc'
NGOAI
T
Hoa
na
J0if
Hà
Nội,
tháng
6 năm
2005
LỜI
CAM ĐOAN
Tôi,
người
viết
Luận
văn này, xin cam đoan toàn bộ nội
dung
của
Luận
văn là công trình nghiên cứu độc
lập
của tôi.
1.1.2.
Nhiệm
vụ cùa
chinh
sách
nhập
khấu
6
1.1.3.
Các công
cụ
thực hiện chinh
sách
nhập
khấu
6
1.1.3.1.
Thuế
quan:
(
'
1.1.3.2.
Các công
cụ
phi thuế
quan:
8
1.1.3.3.
Quân
lý
1.2.2.1.
Quy
định
về quản
lý
hàng
hoa nhập
khẩu:
13
1.2.2.2.
Thuế quan
Nhật Bàn:
15
1.2.2.3.
Hệ
thống
un
đãi
thuế
quan:
17
1.2.2.4.
Thủ
tục hải
quan:
19
1.2.2.5.
Các
biện
pháp
của Nhật
Bản
35
CHƯƠNG
2:
ẢNH HƯỞNG CÙA
CHÍNH SÁCH
NHẬP KHỚU MÀ NHẬT BẢN
ÁP
DỤNG
ĐỐI
VỚI
HÀNG
HOA
VIỆT
NAM 38
2.1.
Tình hình
xuất
khẩu
của
Việt
Nam
sang
thị
trường
Nhật
Bản
38
2.1.1.
Đánh giá
tống
quát
thực trạng hoạt
động
xuất
khẩu
của
Việt
Nam
sang thị
trường
Nhật
Bản
56
2.2.
Ì.
Những
hạn chế
đối với xuất
khẩu của
Việt
Nam
sang Nhật
Bản
57
2.2.2.
Nguyên nhân
của
những
Mục
tiêu
và phương
hướng
phát
triển
thương
mại của
Việt
Nam 63
3.2.
Phương
hướng
phát
triển
quan
hệ
thương
mại
Việt
Nam
-
Nhật
Bản 66
3.2.1.
Quan
điểm
chung của Nhật
trong
hợp
Bản:
70
3.2.3.1.
Thuận
lợi:
70
3.2.3.2.
Khó
khăn:
73
3.3.
Một số
giải
pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy
xuất
khẩu
của
Việt
Nam
sang thị
trường
Nhật
Bản 76
3.3.1.
Tăng
cường
và
thúc
đẩy
quan
cường
chức
năng xúc
tiến
thương
mại của
các cơ
quan
Chính
phủ
80
3.3.5.
Hoàn
thiện
các chính sách hỗ
trợ
và
khuyến
khích
xuất
khẩu
82
3.3.6.
Khuyến
khích các
doanh
nghiệp
Nhật
Bản đẩu
tư,
Countries
Hiệp
hội
các
quốc
gia
Đông
Nam Á
FDI
Foreign
Direct
Investment
Đầu
tư
trực
tiếp
nước ngoài
FTA
Free Trade Agreement
Hiệp
định thương mại
tự
do
GATT
General Agreement
ôn
Tariff
and Trade
Hiệp
định
Organization
Tổ
chức
xúc
tiến
thương mại
Nhật
Bản
JIS
Japanese
Industrial
Standards
Tiêu
chuẩn
Công
nghiệp
Nhật
Bản
MAFF
Ministry
of
Agriculture,
Forestry
and
Fisheries
Bộ Nông
nghiệp,
Thúy
sản
và Lâm
Hỗ
trợ
phát
triển
chính
thức
OECD
Organization
for
Economic
Cooperation
and
Development
Tổ
chức
hợp tác và phát
triển
kinh
tế
UNCTAD
United
Nation
Conferences
of
Trade
and
Development
Hội
nghị
ca
Quan hệ
giữa
Việt
Nam và
Nhật
Bản đã không
ngừng
phát
triển
kể
từ
khi
hai
nước
thiết
lập quan
hệ
ngoại
giao
chính
thức
năm 1973.
Đến nay, Nhật
Bản đã
trở
thành một
trong
những đối
tác
kinh
mấy năm qua
trung
bình
đạt
mức
6,4
-
6,6
tỷ
Đô
la
Mỹ/năm,
chiếm
tỷ
trọng
khoảng 14,4%
tống
kim
ngạch
xuất
nhập khẩu
cỷa
Việt
Nam. Tuy nhiên, hàng
xuất
khẩu
cỷa
Việt
Nam mới
chi
yếu
là
nguyên
liệu
thô và
sản
phẩm mới qua sơ
chế
(trên
50%).
Nhật
Bản đã và đang dành cho
Việt
Nam chế độ im đãi
thuế
quan
GSP.
Trong
quan
hệ
song
phương,
hai
nước đã dành cho
nhau
ưu đãi
Tối
huệ
quốc
(MEN) về
trò
rất
quan
trọng
trong hiện tại
mà còn là
thị
trường đầy
tiềm
năng cho
hoạt
động
xuất
khẩu
cỷa Việt
Nam
trong
tương
lai.
Vì
vậy,
vấn đề thúc đấy mối
quan
hệ
kinh
tế
thương mại
Việt
Nam
- Nhật
của
Nhà nước luôn có
tác
động
mạnh
mẽ
tới
nền
kinh
tế,
có
tác
động
thúc
đẩy,
định
hướng
các
hoạt
động
kinh tế
nói
chung
và
kinh
tế đối
ngoại
nói
riêng.
Do
các đặc
điểm
quy định pháp
luật,
các rào càn
phi
quan
thuế,
trình
tự thủ
tục
và
những
giệi
pháp
vĩ
mô cần
thiết
để góp
phần
đẩy
mạnh
xuất
khẩu
hàng hoa
Việt
Nam
sang Nhật
Bện.
2.
thời
kỳ
tăng trường cao và toàn cầu hoa
kinh
tế -
Kinh
nghiệm
của
Nhật
Bện và ý
nghĩa
đối
với
Việt
Nam;
Giệi
pháp đẩy
mạnh
xuất
khẩu
sện phẩm
dệt
may
sang
thị
trường
Nhật Bện;
Một số
giệi
pháp nhằm nâng cao
khẩu
giầy
sang Nhật
Có
thề nói,
những
nghiên cứu này là
những
khám phá đầu tiên giúp chúng
ta
có
những
hiểu
biết
về
thị
trường
quan
trọng
này.
Tuy
nhiên,
đứng
từ
giác độ
vĩ
mô
thì
các nghiên cứu chuyên
sâu,
gian
tới.
3.
Mục đích nghiên
cứu:
Khẳng
định tầm
quan
trọng chiến
lược của
quan
hệ hợp tác
kinh tế
hai
nước,
trong
đó có
hoạt
động
xuất
khẩu
của
Việt
Nam
sang
thị
trường
Nhật
Bàn
trong
tăng
cường
khả năng
xuất
khẩu
của
Việt
Nam vào
thị
trường này.
4.
Nhiệm
vụ nghiên cứu:
- Phân tích một cách tương
đới
cụ
thể
chính sách
ngoại
thương của
Nhật
Bàn,
đặc
biệt
các chính sách liên
quan
đến
nhập khẩu
hàng hoa
từ
của
Việt
Nam
sang
thị
trường
Nhật
Bản
dưới
giác độ về
điều chỉnh
chính sách thương
mại.
5. Đối
tượng và
phạm
vi
nghiên cứu:
Đới
tượng
nghiên
cứu:
Chính sách
ngoại
thương của
Nhật
Bản, đặc
biệt
là chính sách
nhập khẩu.
giới
hạn
từ
năm
2000
đến nay, tức
là
thời
điểm
nền
kinh
tế
Việt
Nam
bắt
đầu
phục hồi
sau
cuộc
khủng hoảng
kinh tế
tiền
tệ
Châu Á năm 1997.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Sử
dụng
các phương pháp phổ
biến
dùng
luận
văn đề
xuất
những
giải
pháp ở tầm
vĩ
mô nhàm đẩy
mạnh
hoạt
động
xuất
khấu
của
Việt
Nam
sang thị
trường
này
trong
thời
gian
tới.
8.
Kết cấu
luận
văn:
Ngoài
phần
mở
dụng đối
với
hàng hoa của
Việt
Nam.
Chương
3:
Một số
giải
pháp vĩ mô nhằm đẩy
mạnh
xuất
khẩu
của
Việt
Nam
sang
thẫ
trường
Nhật
Bản.
Bản luận văn hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình của TS. Nguyễn Đức
Hoạt,
sự giúp đỡ quý báu của các đồng
nghiệp,
gia
đình và bạn
bè.
Do
những
vẫ
độc già.
-5-
CHƯƠNG
1:
TỔNG
QUAN VỀ
CHÍNH SÁCH
NHẬP KHẨU CỦA NHẬT BẢN
LI. Khái quát về chính sách nhập khâu.
Chính sách là
những
sách lược
và
kế
hoạch
cụ
thể
nhằm đạt được
một
mục đích
nhất
định,
dựa vào
đường
lối
chính
trị
chung
và
ngoại
thương cùa một nước
trong
một
thời
kồ nhất
định phù hợp
với chiến
lược phát
triển
kinh
tế
- xã
hội
của nước đó.
Chính sách
ngoại
thương là một bộ
phận
cấu thành của chính sách
kinh
tế
nói
chung
và chính sách
kinh
tế đối ngoại
nói riêng
của
Nhà
thương còn
phải
góp
phần
bảo
vệ
hợp lý
thị
trường
nội địa,
hạn chế sự
cạnh
tranh
bất
lợi
từ
bên ngoài đối
với
các
doanh
nghiệp
trong
nước.
1.1.1. Khái niệm
về
chính sách
nhập
khấu.
Chính sách
nhập
xuất
trong
nước
thông qua
thuế
quan,
hạn
ngạch
và
quản
lý
ngoại
tệ
Cũng
như
chính sách
ngoại
thương, chính sách
nhập
khẩu
bao
gồm các
bộ
phận
như chính sách
thị
trường,
chính sách mặt hàng
và
các chính sách
- Chính sách hỗ
trợ
bao gồm các chính sách đầu tư, tín
dụng,
giá
cả
nhằm
khuyến
khích
hoặc
hạn
chế
từng lĩnh
vực
hoạt
động cụ
thể.
1.1.2.
Nhiệm
vụ của
chính sách
nhập
khấu.
- Bị
sung những
mặt mất cân
đối
cùa nền
kinh
tế,
công
cụ
thực hiện chính sách
nhập
khẩu.
Chính sách
ngoại
thương
với
tư cách
đường
lối
là
những
mục tiêu
chung
cần
đạt
được.
Còn chính sách
ngoại
thương
với
tư cách là công cụ là
những
phương
tiện
để
đạt
được mục tiêu đó.
nước.
[2]
Một
số
hiệp
định
quốc tế
đã đưa
ra
định
nghĩa
rõ ràng hơn về
thuế
quan
là
"thuế
thu
theo
tỷ
suất thuế
kê rõ
trong
biểu thuế xuất
khẩu, nhập khẩu".
Khái
niệm
này một mặt tách
đối
tượng
nghiên cứu
thu
với
hàng
nhập khẩu
không gắn
với thuế
quan. [17]
Ngoài tác
dụng
là một
nguồn thu
cho ngân sách Nhà
nước,
thuế
quan
còn
góp
phần
bảo vệ và phát
triển
sàn
xuất
trong
nước
vi
đây là khoán
chi lớn
-7-
được tính
vào giá
khẩu
bểng
cách đánh
thuế
làm cho
hàng
nhập
khẩu
trở
nên
đắt
hơn so
với
các sản phẩm
có
thể thay thế
ở
trong
nước nhểm
giảm
thâm
hụt
hay cân
bểng
trong
cán cân
thanh
toán.
-
Bảo
nông
nghiệp,
mà
nếu
thiếu
chúng nền
kinh
tế
dễ bị
tồn thương trước
những
biến
động bất
thường
diễn ra
trên
thế
giới
như
thiên
tai,
chiến tranh
- Chống
lại
việc
bán phá giá
thị
trường
bểng
cách
sự
phát
triển
tự
do
thương
mại
quốc
tế,
ảnh hưởng
bất
lợi
đến sự
phát
triển
của
kinh tế thế
giới.
Hiệp
định
chung
về
thuế
quan
và thương mại (GATT
1947) ra đời
là để thúc đẩy
tự
do
hoa thương mại
giảm
thuế,
phái
giảm
hơn
nữa, không được
tuy
tiện
nâng
cao.
Tuy vậy,
GATT
1947
và WTO
ngày nay không
yêu
cầu huy
bỏ sử
dụng
thuế
quan,
vẫn cho phép
các
nước
lấy thuế
quan
làm
phương
tiện
duy
hợp
pháp.
Việc
điều
tiết,
kiểm
soát
hoạt
động
ngoại
thương và
vai
trò bảo
hộ
của
thuế
quan
phải
thông qua
điều
tiết
của cơ chế
thị
trường và cơ chế
cạnh
tranh
để
thực
hiện.
Vì
lệ
giá hàng
nhập
khẩu.
-
Thuế
theo
lượng:
là
loại
thuế
đánh vào hàng hoa dựa trên số
lượng,
dung
tích,
trứng
lượng
cùa hàng
nhập
khẩu.
-
Thuế
hỗn
hợp:
loại
thuế
được tính
phối
hứp cách tính
thuế theo
Thuế
theo
mùa: là
loại
thuế
áp
dụng
mức
thuế
khác
nhau
tuy thuộc
vào
mùa
nhập
khẩu.
Vào mùa
thu
hoạch
thì hàng hoa bị đánh
thuế cao.
Nhưng
vào các mùa khác
lại
đánh
thuế thấp
để góp
phần
đáp ứng nhu cầu của
người
ngạch
về số
lượng
được áp
dụng
một cách phổ
biến.
Nhà nước quy định hạn
ngạch
nhập
khẩu
là để nhằm
bảo
hộ sản
xuất
trong
nước,
báo vệ tài nguyên và
cải
thiện
cán cân
thanh
toán.
[2],
[17]
Theo
các quy định của WTO thì các nước thành viên của Tồ
chức
này
không được sử
lệ
như:
để bảo hộ nông
nghiệp,
chống
bán phá giá,
và đảm bảo an toàn tạm
thời
trong
trường
hợp hàng
nhập
khẩu
có
thể
làn
tổn
thương các ngành công
nghiệp
khác.
(2)
Chế độ hạn
ngạch thuế
là
chế
độ
thuế
áp dụng mức
thuế suất thấp
hoặc
(3)
Hạn
chế
xuất
khẩu
tự
nguyện
là
một
biến tướng
cua hạn chế nhập
khấu,
là
thoa thuận theo
đó một nước đng ý hạn
chế
xuất
khẩu của mình
sang nước khác
đối với
một mặt
hàng
xác
định,
VỚI
một mức
tối
đa.
Các
thoa
xuầt
khẩu tự nguyện
được
đưa
ra
theo
yêu
cầu
của
nước
nhập
khẩu
và
được nước
xuầt
khẩu chầp
thuận
nhằm ngăn
chặn
những
mối
đe
doa
và
những
hạn
chế
đối với ngoại
thương
của
nhất,
hạn chế
xuầt
khẩu
tự
nguyện
là một
biện
pháp chính sách
được
thực
hiện
để bảo hộ sản
xuầt
cho
nước
nhập
khẩu
nhưng
lại
được
quản
lý
bởi
nước
xuầt
khẩu.
Chính
vì vậy
nó
không có
thu
nhập
thuế,
trái
lại
nước
xuầt
khẩu
sẽ
nhận
được
phần
thu
nhập
do giá
xuầt
khẩu
tăng;
Thứ
hai,
hạn
chế
xuầt
khẩu
tự
nguyện
chì
được
áp
xuầt
khẩu,
không phân
biệt
nước
nào.
-
10-
Do trái
với
tư
tưởng
tự do
ngoại
thương mà WTO
theo
đuổi,
nên
Hiệp
định
về
quyền tự
vệ của WTO
coi thoa
thuận
hạn chế
xuất
khẩu tự nguyện
là
bất
thủ tục
hành chính của chế độ
giấy
phép
nhập khẩu,
yêu cầu nhà
nhập khẩu
phái đệ trình đơn
hoặc
các tài
liệu
khác cho cơ
quan quỏn
lý hành chính có liên
quan
như là một số
điều
kiện
để
nhập khẩu.
Hiệp
định về
thủ tục
cấp
giấy
phép
nhập khẩu
của WTO đòi
hỏi
hệ
quan quốc
gia
xem xét đơn
xin
phép
nhập khẩu
là 60 ngày.
(5)
Các
biện
pháp mang
tính
hành chính - kỹ
thuật
hạn chế nhập khâu.
Đây là nhóm
biện
pháp nhằm gián
tiếp
ngăn
cỏn,
giám sát hàng
xuất
nhập
khẩu
ra
nước ngoài và
từ
nước ngoài
vào.
nhập khẩu.
Một
số
biện
pháp chủ yếu là:
- Những
biện
pháp về vệ
sinh
thú y
hoặc
vệ
sinh thực
phẩm:
những
biện
pháp này cần
thiết
cho
việc
bỏo vệ sức
khoe,
đỏm bào sỏn
xuất
song
ngày
nay
nó
trở
thành
phần
nguyên
liệu
chiếm
tỷ
trọng
lớn
trong
cơ cấu hàng
xuất
khẩu
của họ,
đặc
biệt
là các nước đang phát
triển.
- Những hạn chế liên
quan
đến
việc
tiêu
thụ
hàng
nhập
khẩu
như bãi bỏ
thuế
tiêu dùng
đối với
hàng sỡn
là
những
tiêu
chuẩn
kỹ
thuật
về môi trường
sanh
thái có ý
nghĩa
quan
trọng
cỡ về trước mắt
lẫn
lâu
dài. [2]
1.1.3.3.
Quán
lý
ngoai
tê
và
chính sách
ty
giá:
Nhà nước
kiểm
soát và quàn lý
việc
thu chi
chặn
nguồn
vốn
chuyển
ra
nước ngoài.
Theo
chế độ này,
tất
cỡ các
nguồn
thu ngoại hối
đều
phỡi tập
trung
vào
ngân hàng
hoặc
các cơ
quan
ngoại hối. Việc
sử
dụng
nguồn
ngoại hối
này
phỡi
được phép của các cơ
quan
có
1.2.1.
Vài nét về
Nhật
Bản
Nhật
Bỡn là một nước nằm ngoài khơi phía đông
lục địa
Châu Á
với tổng
diện
tích
377.835
kin
2
.
Dân số
Nhật
Bàn hơn 127
triệu
người
với
mật độ 337
người/km
2
,
cao
nhất
trên
thế
giới.
triển
kinh tế,
riêng
đồng,
dầu mỏ,
thiếc
phụ
-12-
thuộc 100%,
kẽm
97%, chì
88%
Nhật
Bản
cũng
là
thị
trường tiêu dùng
lớn thứ hai
trên
thế
giới,
chỉ
đứng
sau
Mỹ. GDP
tính trên
đầu
người
trung
xuất
khẩu
và sự
cải
thiện
về tâm lý của
người
tiêu dùng
Nhật
Bản. [15]
Một
đặc trưng
của
nước này
là
các nhà
sản
xuất,
cung
ứng,
và phân
phối
kết
nối chặt
chẽ
với
nhau
thành
những
tập
liệu.
Khu vực nông
nghiệp
nhỏ bé được hỗ
trợ
và
bảo
hộ
chặt chẽ, sản
lượng và
hiệu
suất sản xuất
nông
nghiệp
được xếp vào
hàng
cao nhất
trên
thế
giới.
[38]
về
nông
nghiệp, sản xuất
gạo
của
Nhật
đủ
cung
cấp cho tiêu dùng
cá
cao
trên
thế
giới,
chiếm
khoảng
15%
tổng sản
lượng
toàn
thế
giới.
Nhật
Bản
trong
3
thập
kỷ
(60-80)
đã
đạt
được một mức tăng trường khá:
10%
trong
những
năm
60,
5%
trong
và
thị
trường
địa ốc.
Các cố
gắng
của
Chính phủ nhàm vực
lại
sự
tăng
trường
đã
đạt
một
số
kết
quả
nhất
định
tuy
còn
chịu
ảnh hường của sự
chững
lại
của
nền
kinh
tế
Nhật. Nhật
Bàn đứng hàng đầu trên
thế
giới
trong
ngành công
nghiệp
ô
tô,
các
thiết
bi
điện
tử,
máy công
cụ,
thép và kim
loại
khác,
đóng
tàu,
hoa
chất,
dệt
may và
chế
biến thực
phẩm. Ngày
nay,
robot
hàng hoa nháp khâu:
Trên nguyên
tắc,
ngoại trờ
một số
ít
mặt hàng,
thị
trường
Nhật
Bản là
tự
do
trong
lĩnh
vực
ngoại
thương.
Hiện nay,
hầu
hết
hàng
nhập khẩu
là các mặt
hàng
nhập khẩu tự
do mà không cần
xin
phép của Bộ
Kinh
loại
được quy định rõ
theo
Bộ Y
tế,
Lao động và Phúc
lợi);
- Súng (súng
lục,
súng
trường,
súng
máy ),
đạn dược cho
những
súng
trên,
và các bộ
phận
của súng;
- Các
loại tiền
kim
loại, tiền
giấy,
giấy
bạc
hoặc chứng
khoán
giả;
tên thương
mại,
quyền
tác
giả,
con
giống,
và
quyền
hoặc
thiết
kế
mạch
in.
(2)
Một số mặt hàng
nhập khẩu
cần có sự phê
chuẩn
của Bộ trưởng Bộ
Kinh
tế,
Thương mại và Công
nghiệp
ghi
trong
giấy
thông báo
nhập khẩu
phù hợp
bao gồm cá
voi,
sản
phần từ
cá
voi
và các
hải
sản
từ
các kim vực có
quy
định
đặc
biệt).
[35]
(3)
Một số hàng hoa
nhập khẩu
có
thế
có tác động tiêu cực đến ngành
công
nghiệp,
kinh
tế,
và vệ
sinh,
hoặc
an toàn xã
yêu
cầu
khác
(Điều
70
luật
Hải quan):
(a)
Luật kiểm
soát
ngoại hối
và
ngoại
thương
(b)
Luật
và
quy
định
liên
quan
đến hàng cấm:
-
Luật
về
săn
bắn
và
bảo
vệ động
bình ổn
giá đường.
-
Luật kiểm
soát
chất
nổ.
- Luật
điều chỉnh
việc
sản
xuất
và
kiểm
tra
hoa
chất.
-
Luật kiểm
soát
khí
áp
suất
cao.
(c)
Luật
và
quy
định
liên
(d)
Luật
và
quy
định
liên
quan
đến
chất
gây
nghiện:
-15-
-
Luật
kiểm
soát
cannabis
(ma
tuy
làm
từ gai dầu).
-
Luật
kiểm
soát
chất
kích
thích.
-
Luật
những
mặt hàng
thuộc diện
sau
được
"tự
do
nhập
khẩu",
không
cần
xuất
trình
giấy
phép
hay hoa
đơn cho
Hải quan:
-
Hàng
nhập khẩu
có
giá
trị
dưới
5
triệu
Yên, nhập khẩu
cho mục đích sờ
dụng
được
bốc
dỡ ờ
Nhật
Bản.
1.2.2.2. Thuế quan Nhát
Ban:
Nhật
Bản sờ
dụng
Hệ
thống
phân
loại
HS. Ờ
Nhật
Bán có
hai
loại
mức
thuế
quan
là
mức
thuế tự
định
(còn
gọi
là quốc
định),
- Mức
thuế
cơ
bản:
được
quy
định
trong
luật
thuế hải
quan.
Đây là mức
được
áp
dụng
trong
thời
gian
dài.
- Mức
thuế
tạm
thời:
được
quy
định
theo
luật
thuế
tạm
thuế
ưu
đãi:
là
mức
thuế
áp
dụng
đối với
hàng
nhập khẩu từ
các
nước
đang phát
triển.
Mức
thuế
này
thấp
hơn mức
thuế
nhập khẩu
từ các
nước
phát
triển.
(2)
Mức
thuế hiệp định:
là
trong
GATT là
loại
mức
thuế hiệp
định
duy
nhất
ở
Nhật
Bàn.
Mức
thuế hiệp
định
này
được
áp
dụng
một
cách tự động
đối với tất
cả các
nước thành viên cắa
GATT. Mức
thuế hiệp
định
cũng
được
áp
dụng
theo thứ
tự:
mức
thuế
ưu
tiên,
mức
thuế
WTO, mức
thuê tạm
thời
và
mức
thuế
chung.
Tuy nhiên
mức
thuế
ưu
tiên
chi
được
áp
dụng
khi thoa
mãn các
điều
kiện
trong
Chương
áp
dụng
cho
những
nước
không
phải
là thành viên cắa
WTO, mức
thuế
WTO áp
dụng
cho
những
nước
công
nghiệp
phương
Tây và mức
thuế
ưu
tiên
áp
dụng
cho các
nước
đang phát
triển.
Tất
nhiên nếu
quan
Nhật
Bản
được
Hội
đồng
hải
quan
thuộc
Bộ Tài
chính
quản
lý
căn cứ vào
Bảng
kế
hoạch
thuế
quan.
Trị giá hái
quan
là giá CIF
theo
giá
hàng.
Phần
lớn thuế
nhập
khẩu
tính
thông
thường,
được
áp
dụng
đối với
tất
cả mặt hàng bán
tại
Nhật
Bàn.
Loại thuế
này
phải
được
thanh
toán
ngay
khi khai
báo
hải
quan
hàng
nhập
khẩu.
Thuế tiêu
thụ
được tính trên
trị
giá CIF cắa hàng
thuế.
Theo
hiệp hội thuế
quan
Nhật
Bàn,
biếu thuế
áp
dụng
cho
các mặt
hàng
-17-
nhập
khẩu
vào
Nhật
Bản là một
trong
số
những
biểu
thuế thấp
nhất
trên
thế
giới.
Tuy nhiên, một số mặt hàng như đồ da và các sản phẩm nông
nghiệp
vân
vi
tính,
máy công
nghiệp
có
thuế suất
là 0%.
[38]
Chế độ
thuế
quan đặc
biệt:
Ngoài các
loại
thuế
và mực
thuế suất
trên
đây,
Nhật
Bản còn ban hành ba
loại
thuế
đặc
biệt.
Đó là:
-
Thuế
khẩn
cấp:
nhập
khẩu
đế đối
lại
các nhà sản
xuất
và
xuất
khẩu
nước ngoài được
hưởng
trợ
cấp của Chính
phủ.
Các
loại
thuế đối
kháng chỉ có
thể
được sử
dụng
với
một số
điều
kiện
hạn chế
và
khi
có
thiệt
khẩu
ở
mực giá
thấp
hơn giá thành hay
thấp
hơn giá
trị
thông thường của hàng hoa
đó
tại
nước
xuất
khẩu.
Nhìn
chung,
Nhật
Bản đã có đạo
luật
rõ ràng về
việc
áp
dụng
quy chế
thuế
quan
đặc
biệt
để bảo vệ
lợi
đàm phán liên chính phủ
được
tổ
chực
dưới
sự bảo
trợ của Hội
nghị-Thưcmg mại và Phát
triển
của Liên
' THƯViíHi
hợp
quôc (UNCTAD). Mục đíđỉpàiva
(hệ
h
thòng
này là tăng kim
ngạch
xuất
NG • ôi
THU13
«Ci
- 18-
kliẩu,
thúc đẩy công
nghiệp
hoa và đẩy
nhanh
tốc
độ tăng trưởng ờ các nước
hiệu
lực
đến ngày
31/3/2011.
Thuế
GSP thường
thấp
hơn
thuế
MFN từ lo đến
100%.
[23].
Hiện
nay,
Nhật
Bàn giành chế độ GSP cho 140 nước và 15 vùng lãnh
thố
đang và chậm phát
triển,
trong
đó có
Việt
Nam.
Theo
chế độ GSP,
với
các mặt hàng nông sản và hái sản (chương Ì đến
24 hệ
thống
HS),
hoãn quy
chế
ưu đãi cho
sản
phẩm này.
Hạu
hết
các sản phẩm công
nghiệp
(chương 25 đến 97 hệ
thống
HS) được
hưởng
ưu đãi không
chịu
thuế
nhập
khẩu
trừ
118 mặt hàng không được ưu
đãi gồm:
muối,
dạu
thô,
gelatin,
đồ
da,
lông
cừu, dê, thỏ
và các sản phẩm từ
VỚI thuế suất
MFN có hạn
ngạch
trạn
được tính cho mỗi năm tài chính.
[29]
Để
hàng hoa
nhập
khẩu
từ các
quốc
gia
được hướng GSP, chúng
phải
được
công
nhận
là có
xuất
xứ
tại
nước đó
theo
tiêu
chuẩn
xuất
xứ của chế độ
GSP
Nhật
Nhật.
Tuy nhiên, đối với hàng hoa vận
-19-
chuyển
qua lãnh
thổ
nước khác thì được hưởng ưu đãi nếu chì là
chuyển
tàu
hay
lưu kho tạm
thời
do yêu cầu vận tài
tại
khu vực
ngoại
quan
dưới
sự giám
sát
của hải
quan.
Tiêu
chuẩn
về
xuất
xứ: hàng hoa
phải
có
xuất
những
hạng
mục của
những
nguyên
vật
liệu
nhập
khẩu
trong biếu thuế
quan
chung
và
tỷ trọng
tệi
đa nguyên
vật
liệu
nhập
khẩu
là
40-50%
giá FOB).
Ngoài ra còn
hai
quy
tắc
khác là quy
tắc
cộng
Bản.
Hàng hoa
Việt
Nam có nguyên
liệu
thô
nhập
khẩu
từ
các nước
ASEAN
khác sẽ được
coi
là có
xuất
xứ
Việt
Nam.
Quy
tắc
bảo
trợ
áp
dụng
cho
những
nguyên
liệu
nhập
khẩu
phức
và
rất
máy móc. Hầu
hết
các
rắc
rệi
về
thủ tục hải
quan
thường
xảy
ra
ở
lần
đầu
tiên.
Nói
chung,
bất
kỳ
người
nào
muện
nhập
khẩu
hàng hoa
cũng
phải khai
khi
nhận
được
giấy
phép
nhập
khẩu.
Theo
cách này,
những
biện
pháp được
tiến
hành đế đàm bảo
những
yêu cầu
của việc
kiểm
soát
ngoại hệi
và
những
quy định khác liên
quan
đến
việc
nhập
khẩu
hàng
hoa.[38].