Tài liệu Đề tài: Giao Tiếp Trong Khoa Công Nghệ Trường Đại Học công Nghiệp TP Hồ Chí Minh cơ Sở Thanh Hóa potx - Pdf 10

Luận văn
Đề tài: Giao Tiếp Trong Khoa
Công Nghệ Trường Đại Học
công Nghiệp TP Hồ Chí Minh
cơ Sở Thanh Hóa
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giao tiếp là đặc trưng quan trọng nhất trong hành vi của con người, nó không những
là điều kiện quan trọng bậc nhất của sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách
mà còn giúp cho con người đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả trong mọi lĩnh vực
hoạt động.
Đối với ngành công nghệ, giao tiếp không những có vai trò quan trọng trong sự
nghiệp hình thành và phát triển nhân cách nhân viên kỹ thuật mà còn là bộ phận cấu thành
hoạt động kỹ thuật, là thành phần chủ đạo trong cấu trúc năng lực xã hội của người làm kỹ
thuật. Giao tiếp là phương thức, công cụ cơ bản nhất để tổ chức hoạt động làm việc. Nếu
không có giao tiếp thì không thể hướng hoạt động công việc của các nhân viên vào việc đạt
được mục đích công việc. Do đó, vấn đề đặt ra đối với nhiệm vụ đào tạo ngành công nghệ
là mỗi sinh viên phải được chuẩn bị và chủ động chuẩn bị cho mình về năng lực giao tiếp.
Trường Đại Học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh là một trong những nơi đào
tạo nghề cho những kỹ sư và cử nhân tương lai phục vụ công tác xây dựng nguồn nhân lực
đáp ứng nhu cầu của xã hội. Hành trang của sinh viên Đại Học Công Nghiệp Thành Phố Hồ
Chí Minh ngoài tư cách, phẩm chất, đạo đức, nhiệt huyết với công việc còn phải vững mạnh
về chuyên môn và giỏi về nghiệp vụ kỹ thuật( hay còn gọi là tay nghề đối với công nhân kỹ
thuật nói chung), trong đó có năng lực giao tiếp. Vì vậy, việc rèn luyện năng lực giao tiếp
mà cụ thể là kỹ năng giải quyết tình huống giao tiếp cho sinh viên công nghệ là vấn đề thiết
yếu.
Khoa công nghệ cơ sở Thanh Hóa của Trường Đại Học Công Nghiệp Thành Phố Hồ
Chí Minh là nơi đào tạo đội ngũ kỹ sư,cử nhân Kỹ thuật công nghiệp cho các ngành nghề
kỹ thuật đang rất phổ biến hiện nay như cơ khí ô tô, điện tử - điện lạnh,kỹ thuật điện,hóa lọc
dầu,công nghệ môi trường…. Với đặc điểm của thế kỷ 21 là công nghệ đang trên đà phát
triển rất nhanh,công nghệ mới được tạo ra qua một thời gian lại đã lỗi thời.Do đó việc giao

Phương pháp luyện tập giải quyết tình huống giao tiếp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
5.2. Tìm hiểu nhu cầu giao tiếp, thực trạng kỹ năng giao tiếp và giải quyết tình huống
giao tiếp của sinh viên khoa Công Nghệ trường Đại Học Công Nghiệp Thành Phố
Hồ Chí Minh cơ sở Thanh Hóa.
5.3. Xây dựng hệ thống bài tập thực hành để luyện tập kỹ năng giải quyết tình huống
giao tiếp cho sinh viên Khoa Công Nghệ trường Đại Học Công Nghiệp Thành Phố
Hồ Chí Minh cơ sở Thanh Hóa.
6. Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian, những tình huống giao tiếp nói chung là vô hạn nên trong
phạm vi đề tài của mình tôi chỉ xây dựng những bài tập tình huống điển hình, phù hợp với
nhu cầu giao tiếp của sinh viên Khoa Công Nghệ cũng như phù hợp với những kỹ năng
thiết yếu trong giao tiếp.
7. Các phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này được dùng trong suốt quá trình thực hiện, nghiên cứu đề tài, từ
việc xây dựng đề cương nghiên cứu vấn đề đến việc xác định cơ sở lý luận của giao
tiếp và xây dựng hệ thống bài tập tình huống. Số lượng tài liệu tham khảo là trên 10
sách và tư liệu có liên quan (xem phần Tài liệu tham khảo)
7.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu lý thuyết về giao tiếp để xây dựng những
bài tập tình huống phù hợp nhất.
7.3. Phương pháp quan sát
Qua quan sát những biểu hiện trong các mặt hoạt động để tìm hiểu thực trạng nhu
cầu giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của sinh viên.
7.4. Phương pháp trao đổi, trò chuyện
Qua trao đổi trò chuyện với sinh viên, với cán bộ Đoàn, cán bộ lớp để tìm hiểu tâm
tư, nguyện vọng của sinh viên, thái độ của họ trong khi trả lời các phiếu điều tra, từ
đó phát hiện ra yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu giao tiếp và kỹ năng giao tiếp.

báo thiết lập, sự tiếp xúc và trao đổi thông tin.
L.X. Vưgôtxki (nhà tâm lý học Liên Xô) cho rằng: Giao tiếp xem như là sự thông
báo hoặc quan hệ qua lại thuần tuý giữa con người, như là sự trao đổi quan điểm và xúc
cảm (L.X.Vưgôtxki).
Ngày nay, cùng với việc xây dựng một cách tích cực và khoa học hệ phương pháp
nghiên cứu giao tiếp thì bản chất, hiện tượng giao tiếp cũng được lý giải ngày càng đầy đủ
và rõ ràng. Ở một khái niệm chung nhất chúng ta có thể hiểu: Giao tiếp là sự tác động qua
lại giữa con người với con người, mà trong quá trình của nó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý,
được thể hiện ở sự trao đổi thông tin, sự ảnh hưởng lẫn nhau, sự rung cảm lẫn nhau, sự
hiểu biết lẫn nhau, và cuối cùng là những quan hệ qua lại giữa con người với con người
được thực hiện, được thể hiện và được hình thành.
1.1.2. Vai trò của giao tiếp
Ngày nay, giao tiếp trở thành vấn đề rộng lớn, có ý nghĩa quan trọng trong khoa học
và cuộc sống.
Người ta không thể nghiên cứu con người với tính cách là đơn vị độc lập, không phụ
thuộc vào môi trường xã hội xung quanh vì: “Bản chất con người không phải là trừu tượng
vốn có của một cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng
hoà của tất cả những mối quan hệ xã hội” (Mác – Anghen “Tuyển tập” – Nhà xuất bản sự
thật Hà Nội, 1971)
Cơ sở của quan hệ phụ thuộc lẫn nhau là những nhu cầu của con người biểu thị mối
liên hệ của con người với những người khác cũng như với những đối tượng và những hoàn
cảnh có ý nghĩa quan trọng sống còn đối với họ và quy định vị trí cá nhân trong môi trường
xã hội. Nói cho thật đúng thì tất cả những nhu cầu của một người riêng lẻ đều chỉ có thể
thoả mãn khi tính đến những nhu cầu của những người xung quanh. Đồng thời cơ cấu nhu
cầu càng phức tạp thì quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa người này với người khác càng tăng.
Chẳng hạn chúng ta khó mà tưởng tượng là nhu cầu muốn được người khác tôn trọng lại có
thể thoả mãn ngoài mối liên hệ với những người xung quanh.
Giao tiếp là điều kiện quan trọng nhất của sự hình thành bản thân con người như là
con người xã hội, đồng thời là điều kiện tất yếu của sự tồn tại con người. Chính vì vậy mà
nhiều nhà bác học thuộc lĩnh vực tâm lý học cũng quan tâm đến vấn đề giao tiếp. Chẳng

tin) của giao tiếp: Qua giao tiếp, con người trao đổi cho nhau những thông tin nhất định.
Những thông tin này sẽ có ý nghĩa về nhiều mặt như kiến thức, tâm lý, cảm xúc. Sự thiếu
thông tin sẽ làm cho con người cảm thấy lạc lõng và cô đơn, mất đi tính cộng đồng vốn có.
Trong xã hội, con người luôn hoạt động trong một hay nhiều tổ chức nhất định. Đó
có thể là gia đình,lớp học, trường học, công ty,… Và trong một tổ chức, một công việc
thường do nhiều bộ phận, nhiều người cùng thực hiện. Để có thể hoàn thành công việc một
cách tốt đẹp, những bộ phận, những con người này phải thống nhất với nhau, tức là phối
hợp với nhau một cách nhịp nhàng. Muốn vậy họ phải tiếp xúc với nhau để trao đổi, bàn
bạc, phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận, từng người, phổ biến quy trình, cách thức thực
hiện công việc và trong quá trình thực hiện cũng phải có những “tín hiệu” để mọi ngươi
hành động một cách thống nhất. Đây chính là chức năng tổ chức phối hợp hành động của
giao tiếp.
Chức năng điều khiển được thể hiện ở khía cạnh tác động ảnh hưởng qua lại của giao
tiếp. Trong giao tiếp, chúng ta ảnh hưởng, tác động đến người khác và ngược lại, người
khác cũng tác động, ảnh hưởng đến chúng ta bằng nhiều hình thức khác nhau như: Thuyết
phục, ám thị, bắt chước. Đây là một chức năng rất quan trọng của giao tiếp.
Trong xã hội, mỗi con người là một chiếc gương. Giao tiếp với họ chính là chúng ta
soi mình trong chiếc gương đó. Từ đó chúng ta thấy được những ưu điểm, những thiếu sót
của mình và tự sửa chữa, hoàn thiện bản thân. Chức năng phê bình và tự phê bình này có ý
nghĩa quan trọng trong việc phát triển toàn diện của con người, đặc biệt là trong thời kỳ đổi
mới hiện nay của xã hội.
1.1.3.2. Chức năng tâm lý
Bên cạnh nhóm chức năng xã hội, giao tiếp còn mang những chức năng tâm lý nhất
định.
Chức năng động viên khích lệ của giao tiếp liên quan đến lĩnh vực cảm xúc trong đời
sống tâm lý của con người. Trong giao tiếp, con người còn khơi gợi ở nhau những cảm xúc,
tình cảm nhất định; chúng kích thích hành động của họ. Một lời khen chân tình được đưa ra
kịp thời, một sự quan tâm được thể hiện đúng lúc có thể làm người khác tự tin, cảm thấy
phải cố gắng làm việc tốt hơn.
Giao tiếp không chỉ là hình thức biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con

người có thể truyền đi bất cứ một thông tin nào, như diễn tả tình cảm, ám chỉ, miêu tả sự
vật… Ở phương tiện này, sự giao tiếp thường dựa vào những yếu tố sau đây:
- Nội dung ngôn ngữ:
Tức là ý nghĩa của lời nói, của từ. Ở đây chúng ta cần lưu ý đến vai trò của ý cá nhân
của ngôn ngữ trong giao tiếp. Một từ hay một tập hợp từ đều có một hay vài ý nghĩa nhất
định. Ý nghĩa của ngôn ngữ có hai hình thức tồn tại: Khách quan và chủ quan. Khách quan
bởi nó không phụ thuộc vào sở thích, ý muốn của một cá nhân nào. Chẳng hạn, không ai
dùng từ “cái túi” để chỉ “cái cây” và ngược lại. Tính chủ quan thể hiện ở chỗ, có những từ
vô thưởng vô phạt, nhưng trong qua trình sử dụng gây ra những phản ứng, những cảm xúc
tích cực hay tiêu cực nào đó. Đây chính là ý cá nhân của ngôn ngữ. Ví dụ: từ “ma tuý” đối
với người nghiện hút thì không gợi lên cảm giác tiêu cực như ở những người bình thường.
Ngay trong một nhóm người, đôi khi cũng có những quy định riêng cho một số tập
hợp từ. Tiếng “lóng” là một ví dụ. Mỗi cá nhân, mỗi nhóm người từ cộng đồng địa phương
đến đẳng cấp dân tộc đều có những sắc thái riêng trong cách sử dụng ngôn ngữ. Hiểu được
ý cá nhân là cơ sở tạo nên sự đồng điệu trong giao tiếp, còn được gọi là sự đồng cảm.
- Tính chất của ngôn ngữ:
Trong giao tiếp, tính chất của ngôn ngữ như nhịp điệu, âm điệu, ngữ điệu…cũng
đóng vai trò quan trọng. Có người trông vẻ ngoài hình thức khá hoàn hảo khiến mọi người
thích thú, nhưng khi họ thốt ra những tiếng chát chúa hay the thé làm cho ta cảm thấy thất
vọng ngay. Cũng có người nhờ tiếng nói ấm áp, dịu dàng, quyến rũ làm cho người nghe
cảm tình ngay, mặc dù dung mạo không lấy gì làm khả ái.
Trong khi nói, chúng ta cần chú ý tới giọng điệu, ngữ điệu. Lời nói có được rõ ràng,
khúc triết hay không, phụ thuộc nhiều vào cách nhấn giọng. Nhờ cách nhấn giọng người nói
có thể làm cho người nghe chú ý đến những lời nói của mình. Muốn nhấn giọng cho đúng
phải hiểu rõ mình nói những gì và suy nghĩ, đắn đo từng lời một. Biết nhấn mạnh những lời
quan trọng và để những lời nói phụ lướt nhẹ đi.
Hai yếu tố khác có thể thay đổi ý nghĩa của lời nói là cách uốn giọng và ngữ điệu.
Trong lúc nói phải có lúc lên giọng, xuống giọng, lúc nhặt, lúc khoan, lúc nói nhẹ, lúc gằn
từng tiếng thì lời nói mới nổi bật lên. Trước và sau khi nói ra những lời quan trọng phải
ngừng một lúc, để cho người nghe chú ý.

Dân gian có câu nói: “Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn” bởi lẽ cặp mắt là điểm khởi đầu
cho tất cả mọi nghiên cứu quan sát, tìm hiểu qua ánh mắt con người có thể nói lên nhiều
thứ. Ánh mắt phản ánh trạng thái cảm xúc, bộc lộ tình cảm, tâm trạng và ước nguyện của
con người ra bên ngoài.
Trong giao tiếp, ánh mắt còn đóng vai trò “đồng bộ hoá” câu chuyện, biểu hiện sự
chú ý, tôn trọng, sự đồng tình hoặc là phản đối. Ánh mắt trong giao tiếp cũng phụ thuộc vào
vị trí xã hội của mỗi bên. Người có địa vị xã hội cao hơn (hoặc tự cho mình là người có vai
trò cao hơn) thường nhìn vào mắt của người kia nhiều hơn, kể cả khi nói, lẫn khi nghe.
Ánh mắt của một người còn phản ánh cá tính của người đó: Người có óc thực tế
thường có cái nhìn lạnh lùng, người ngay thẳng nhân hậu có cái nhìn thẳng và trực diện,
người nham hiểm đa nghi có cái nhìn soi mói, lục lọi,…
- Các cử chỉ:
Các cử chỉ gồm các chuyển động của đầu (gật đầu, lắc đầu,…), của bàn tay (vẫy,
chào, khua tay), của cánh tay,… Vận động của chúng có ý nghĩa nhất định trong giao tiếp.
Thật vậy, chuyển động của đầu có thể là “đồng ý” hay “không đồng ý”, của bàn tay là lời
mời, sự từ chối, chống đối hay van xin,…
Người ta cũng có thể dùng cử chỉ để điều khiển cuộc giao tiếp, chẳng hạn như một
số vận động của tay và đầu có ý nhắc người đối thoại nói nhanh, chậm, dừng lại hay giải
thích thêm.
Mũi cũng là phương tiện truyền thông, bởi vì khi nhìn người khác với cái vẻ coi
khinh người ta thường nhìn xuống mũi của mình. Khi động tác này đi kèm với một cái hít
vào khinh khỉnh thì thái độ phủ nhận lại càng được gia tăng. Ngoài ra, lưỡi, cằm, cử chỉ của
bàn tay, vị trí của đôi chân, … cũng nói lên nhiều điều.
- Tư thế:
Tư thế cũng là một trong các phương tiện giao tiếp. Nó có liên quan mật thiết với vai
trò, vị trí xã hội của cá nhân. Thường thường, một cách vô thức, nó bộc lộ cương vị xã hội
mà cá nhân đang đảm nhận. Ví dụ, tư thế ngồi thoải mái, đầu hơi ngả ra phía sau là tư thế
của bề trên, của lãnh đạo. Tư thế ngồi hơi cúi đầu về phía trước, tựa hồ lắng nghe là tư thế
của người cấp dưới.
Tư thế có vai trò biểu cảm, có thể nhìn thấy qua tư thế trạng thái tinh thần thoải mái

nghe và xử lý thông tin trên cơ sở đó mà chúng ta có những tác động phản hồi đối với mọi
người.Hình 1.1. Biểu đồ thời lượng sử dụng các kỹ năng
1.3.1.1. Để có thể lắng nghe tốt
Trong quan hệ giao tiếp, việc lắng nghe tích cực thường diễn ra khi ta thật sự quan
tâm đến vấn đề nào đó và vì thế, tất nhiên khi có quan hệ, tác động ta hướng tất cả sự chú ý
vào vấn đề. Tuy nhiên có những trường hợp ngược lại: Do công việc yêu cầu, do thái độ
ứng xử đối nghịch của đối phương gây cho chúng ta sự ức chế về mặt tâm lý, đòi hỏi sự tự
kiềm chế khá căng thẳng.
Để có thể vượt qua tình thế như vậy và có thể lắng nghe có hiệu quả cần tự điều
chỉnh để tự thích ứng với tình hình, và hình thành được thái độ sau:
Thái độ tự thấu cảm: Ta tự đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của người nói, thử đặt
mình vào tình cảnh như vậy, từ đó mà tạo ra sự thấu hiểu thông điệp cả từ hai phía: Phía
công khai và những gì tiềm ẩn bên trong các thông điệp đó. Trong phần lớn trường hợp
người truyền thông tin thường có mong muốn ta thấu hiểu họ một cách đầy đủ cả hai khía
cạnh ấy, nhất là ở phía “ý tại ngôn ngoại”, tiềm ẩn bên trong.
Sự tập trung, chú ý vào nội dung thông tin với thái độ khách quan là không thể thiếu.
Cần hết sức chăm chú nắm bắt thông tin, sẵn sàng phản hồi bằng ngôn ngữ, bằng tín hiệu,
bằng biểu cảm (thái độ) ví dụ như: Gật gù tỏ vẻ hiểu, hưởng ứng, mỉm cười tán đồng. Tất
nhiên để bộc lộ thái độ khách quan như vậy, ta phải hết sức tự kiềm chế, kiên nhẫn với thái
độ tự tin để duy trì sự giao lưu, tiếp xúc diễn ra một cách thuận lợi. Đôi lúc có thể kiểm tra
ngược lại hoặc để tâm xem lại những điều mình đã nắm được, ta có thể xen kẽ bằng những
câu nhắc lại những gợi ý khéo như: “Theo anh nên hiểu vấn đề ấy như thế nào?” hoặc gợi
mở thêm sự giao lưu được tiếp tục kiểu như “Hình như anh cũng cảm thấy khó xử…” thậm
chí có thể tỏ thái độ trung lập với những gợi ý vô thưởng vô phạt như “Tôi hiểu anh trong
trường hợp này…”. Tác dụng của những câu đưa đẩy ấy sẽ duy trì được sự giao lưu, tiếp
xúc và nếu có dụng ý ta sẽ gián tiếp hiểu được thái độ đích thực của đối tượng giao tiếp.
1.3.1.2. Những trở ngại trong việc lắng nghe

vui thú đối với người khác. Hãy sử dụng nghệ thuật lắng nghe để tạo hứng thú ở đối tượng
cung cấp thông tin.
Khi muốn khai thác thông tin, bạn hãy bắt đầu bằng một câu hỏi dễ. Những câu hỏi
dễ sẽ giúp người khác có cơ hội trả lời đúng một cách dễ dàng. Chúng làm cho đối tượng
thoải mái, bớt căng thẳng và tự tin hơn. Nói chung, trước hết cần phải làm nóng cuộc nói
chuyện để khi người đối thoại thấy được sức cuốn hút thì anh ta sẽ say sưa trút bầu tâm sự.
Sau khi đã làm cho người khác cảm thấy thoải mái, bạn cần biết đặt những câu hỏi
để có được những tin tức đầy đủ và chính xác. Có rất nhiều loại câu hỏi để bạn có thể sử
dụng, tuỳ vào từng hoàn cảnh và dụng ý sử dụng.
- Câu hỏi hẹp:
Đó là những câu hỏi nhằm thu hẹp vấn đề để tranh thủ những thông tin chính xác,
ngắn gọn. Ví dụ: “Ai thực hiện việc này?”, “Tên anh là gì?”. Những câu hỏi hẹp có ích khi
bạn cần những dữ kiện rõ ràng, thẳng thắn. Hầu hết các cuộc gặp gỡ đều có những câu hỏi
hẹp ở một thời điểm nào đó.
- Câu hỏi trực tiếp:
Tức là hỏi thẳng vào vấn đề mà mình cần tìm hiểu. Loại này có ưu điểm là thu thập
thông tin một cách nhanh chóng và thường tạo ra yếu tố bất ngờ ở đối tượng. Hỏi trực tiếp
thường để lộ mục đích tìm hiểu, làm cho đối tượng không được tự nhiên.
- Câu hỏi gián tiếp:
Tức hỏi về một vấn đề này để suy ra vấn đề mình cần tìm hiểu. Loại câu hỏi này
thường dùng để khai thác những yếu tố tế nhị mà không thể hỏi trực tiếp.
- Câu hỏi gợi mở:
Là loại câu hỏi mà không thể trả lời có hoặc không được, chúng đòi hỏi phải có lời
giải thích tại sao. Nhờ câu hỏi này mà chúng ta bước vào một giai đoạn mới của cuộc đàm
phán độc thoại chuyển thành đối thoại. Loại câu hỏi này làm dễ dàng cho người đối thoại.
Mục đích của loại câu hỏi này chủ yếu là thu thập thông tin sâu hơn mà câu hỏi hẹp không
làm được.
- Câu hỏi để suy nghĩ:
Mục đích của câu hỏi này nhằm xây dựng bầu không khí thân thiện, hiểu biết lẫn
nhau. Chúng đặc biệt có lợi khi nhắc lại một phần các ý kiến đã phát biểu. Câu hỏi này sẽ

Trước hết hãy tạo một không khí bình đẳng, thân thiện gây thoải mái cho người đối
thoại. Đây là một bước quan trọng, ảnh hưởng khá nhiều đến kết quả thuyết phục. Sau khi
đã tạo được một không khí cởi mở nhất định, chúng ta cần tìm hiểu, lắng nghe để hiểu tâm
lý người đối thoại. Muốn thuyết phục ai đó về một vấn đề nào đó. Trước hết hãy tìm hiểu
quan điểm cá nhân của họ về vấn đề, những vướng mắc, bận tâm khiến họ lo ngại, từ chối.
Chúng ta không thể đưa ra cách giải cho một bài toán khi chưa biết đề bài. Hãy vận dụng
hết khả năng lắng nghe trong bước này.
Bất kỳ ai cũng đều mong muốn có được sự đồng cảm, chia sẻ của người khác với
những ý kiến, lo lắng của mình. Hãy chứng tỏ sự cảm thông với những vướng mắc đó, coi
vướng mắc của người đối thoại cũng chính là vướng mắc của người thuyết phục.
Và cuối cùng, khi đứng trên quan điểm của người đối thoại đồng thời trên quan điểm
của người đưa ra được cách giải quyết những vướng mắc ấy, chúng ta cần dùng lý lẽ để giải
tỏa lo ngại và bận tâm của người đối thoại.
1.3.4. Kỹ năng thuyết trình
Trong cuộc sống, có những khi đối tượng chúng ta cần trình bày quan điểm, suy nghĩ
về vấn đề nào đó, không chỉ là một hay hai người, mà có thể là mười người, hai mươi
người, một trăm người, hay hơn thế nữa. Đó chính là lúc chúng ta thực hiện một bài thuyết
trình. Thuyết trình hay còn gọi là diễn thuyết, là nói chuyện trước nhiều người về một vấn
đề nào đó một cách có hệ thống.
1.3.4.1. Các bước thuyết trình
Một bài thuyết trình thành công bao giờ cũng đi qua ba bước: Chuẩn bị thuyết trình,
tiến hành thuyết trình và kết thúc thuyết trình.
- Chuẩn bị thuyết trình
Bất kỳ một nhà diễn thuyết chuyên nghiệp nào cũng có lúc lúng túng, e ngại, căng
thẳng. Để có thể đường hoàng, tự tin, chúng ta và cả những nhà diễn thuyết chuyên nghiệp
cũng đều phải có sự chuẩn bị chu đáo cho buổi nói chuyện của mình.
Khi được mời thuyết trình về một vấn đề nào đó, chúng ta cần cân nhắc hai vấn đề. Đó là:
Chúng ta có am hiểu vấn đề, có đủ thông tin để trình bày hay không? Con người và cương
vị của người nói có được người nghe chấp thuận hay không? Nói cách khác, tầm quan trọng
của vấn đề phải ngang tầm với người diễn thuyết, nếu không người nghe sẽ thiếu tin tưởng.

chạc cũng thể hiện sự đường hoàng, tự tin của người thuyết trình, không nên đi quá nhanh
nhưng cũng đừng chậm chạp, ung dung, thong thả quá. Khi bước ra chào, cần tiếp xúc bằng
mắt và mỉm cười với người nghe.
Khi đứng trên bục, người thuyết trình cần đứng thẳng người với tư thế tự nhiên,
không bỏ tay túi quần, mắt nhìn thẳng xuống người nghe, ánh mắt nhẹ nhàng, tôn trọng và
quan tâm. Trước khi nói chuyện, cần tự giới thiệu về bản thân, những lời giới thiệu này nên
ngắn gọn, không rườm rà, dài dòng.
Khi nói, giọng nói cần to, rõ ràng đủ cho người ngồi xa nhất cũng có thể nghe thấy.
Thêm vào đó, cần thay đổi tốc độ nói, nhịp độ nói: Khi lên, khi xuống, khi trầm, khi bổng,
khi nhanh, khi chậm, khi lướt qua, khi nhấn mạnh, tuỳ thuộc vào nội dung trình bày. Trong
quá trình trình bày, thường xuyên đưa mắt xuống người nghe, bao quát tất cả những người
có mặt trong phòng, đừng để ai đó có cảm giác bị “bỏ rơi”.
Ngoài ánh mắt, người thuyết trình cần chú ý sử dụng cả phương tiện phi ngôn ngữ
khác như nét mặt, cử chỉ, động tác. Tuy nhiên, cần sử dụng chúng một cách tự nhiên, hợp
lý. Người diễn thuyết có thể đi lại trong khi nói chuyện, song không nên rời khỏi tầm nhìn
của một nhóm người nghe nào đó quá lâu. Chẳng hạn, trong khi giảng bài, có những giáo
viên đi xuống cuối lớp và dừng lại ở đó trong một khoảng thời gian. Trong trường hợp này,
những học sinh ngồi ở dãy bàn đầu dễ phân tán chú ý và sẽ khó tiếp thu bài giảng hơn.
1.3.5. Kỹ năng đọc và tóm tắt văn bản
1.3.5.1. Kỹ năng đọc
Đọc là hoạt động nhận thức có từ lâu đời, nó xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước công
nguyên. Đọc là một kỹ năng. Để đọc có hiệu quả, chúng ta cần được dạy cách đọc và không
ngừng rèn luyện để biến kỹ năng thành kỹ xảo. Để đọc có hiệu quả, cần chú ý một vài khía
cạnh sau:
Khi đọc một đoạn văn bản, chúng ta cần nắm được thông tin chứa đựng trong đó.
Trở ngại lớn nhất cho sự lĩnh hội là khi đọc, người đọc không được tiếp xúc trực tiếp với
người viết. Vì vậy, điểu cốt lõi khi đọc là người đọc phải thực hiện một cuộc đối thoại trong
tưởng tượng với người viết, tức là phải tập trung tư tưởng cao độ đặt câu hỏi, phân tích, và
tự tìm lời giải đáp cho những câu hỏi đó. Đó là đọc tích cực.
Tốc độ đọc cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của việc đọc. Các kết quả nghiên cứu cho

Gia đình xét trên quan điểm của tâm lý học là một tập thể nhỏ, trong đó mọi người
quan tâm đến nhau, chú ý đến những nhu cầu, hứng thú của nhau. Giao tiếp trong gia đình
là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển nhân cách của mỗi con người.
Không khí tươi vui, lành mạnh trong gia đình là một “tiểu khí hậu” thuận lợi cho sự
phát triển đầu đời của mỗi chúng ta. Trong một gia đình đầm ấm, yêu thương thì ngay từ
những ngày đầu tiên, con trẻ đã được phát triển dưới ảnh hưởng của sự giao tiếp thường
xuyên với cha mẹ, ông bà, anh chị em. Sự giao tiếp thường xuyên và tích cực này không chỉ
gắn kết các thành viên trong gia đình lại với nhau, mà còn xây dựng một nền tảng vững
chắc cho việc hình thành kỹ năng giao tiếp sau này của trẻ.
Mỗi một cá nhân sống trong gia đình đều có vị trí nhất định, họ mang trên mình
nhiều chức danh. Ví dụ: Người phụ nữ trong gia đình có thể là vừa là người vợ, người mẹ,
người con, người em,… Với mỗi một chức danh họ lại có những tiêu chuẩn đạo đức, văn
hoá, cách giao tiếp khác nhau. Làm sao đảm bảo trong gia đình có đầy đủ lễ nghĩa, có trên
có dưới để trở thành một gia đình văn hoá.
Thời gian sống trong gia đình của mỗi con người là rất lớn, vì vậy mà thời gian giao
tiếp cũng như các tình huống giao tiếp xảy ra trong gia đình cũng vô cùng phong phú và
khá phức tạp. “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, mỗi gia đình đều có những truyền
thống, những đặc điểm riêng, vì vậy mà những tình huống phát sinh trong các gia đình khác
nhau là khác nhau.
Tình huống giao tiếp trong gia đình nảy sinh do nhiều nguyên nhân như: Truyền
thống đạo đức, khác biệt giữa các thế hệ, bất đồng về tính cách giữa các thành viên,…
Những tình huống này có khi chỉ là tình huống giao tiếp xã giao thông thường như: Mời,
chào, hỏi,… Nhưng có khi nó lại là những tình huống giao tiếp có mâu thuẫn nảy sinh mà
muốn giải quyết được, các thành viên trong gia đình phải có những kỹ năng giao tiếp và xử
lý tình huống nhất định.
Xử lý tốt các tình huống giao tiếp nảy sinh trong gia đình sẽ mang đến không khí yên
vui, hạnh phúc. Góp phần làm nền tảng tinh thần và vật chất của mỗi thành viên thêm vững
chắc.
1.4.2. Tình huống giao tiếp trong nhà trường
Sau gia đình, nhà trường được xem như môi trường giao tiếp quan trọng thứ hai, bởi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status