Tài liệu SỰ PHÁT TRIỂN CÁC DÒNG TẾ BÀO MÁU - Pdf 10


SỰ PHÁT TRIỂN CÁC DÒNG
TẾ BÀO MÁU

I. ĐẠI CƯƠNG
Tạo máu là quá trình sinh sản và biệt
hóa của các tế bào tạo máu bắt đầu từ
tế bào gốc vạn năng cho đến các dòng
tế bào máu trưởng thành. Quá trình
này diễn ra liên tục từ thời kỳ phôi
thai đến lúc tuổi già và được điều hòa
bởi các cơ chế điều hòa tạo máu.

II. VỊ TRÍ TẠO MÁU
Vị trí tạo máu phụ thuộc vào giai
đoạn phát triển cá thể: thời kỳ phôi
thai, trẻ, già và hiện trạng của bệnh
tạo máu.
2.1. Thời kỳ phôi thai
2.2. Thời kỳ sau sinh

2.1. Thời kỳ phôi thai

Trong suốt quá trình phát triển trước sinh, vị
trí tạo máu thay đổi nhiều lần.

Đặc điểm sinh máu ở bào thai là một quá trình
biệt hóa không ngừng và mạnh mẽ. Lúc đầu
sinh máu lan tỏa: ở đâu có mảnh trung mô là ở
đó có sinh máu, về sau khu trú dần: lách, hạch
và tủy xương chiếm vị trí hàng đầu.

- Ở người trưởng thành, các tế bào gốc tạo máu cư
trú chủ yếu ở tủy xương. Một số ít cư trú ở lách
và một số rất ít lưu hành trong máu ngoại vi.

2.3. Khái quát về tủy tạo máu

Mỗi ngày, tủy xương sản xuất khoảng 6
tỷ tế bào máu (gồm 2,5 tỷ hồng cầu; 2,5
tỷ tiểu cầu và 1 tỷ bạch cầu hạt) cho
mỗi kilogram cân nặng cơ thể.

Tốc độ tạo máu thay đổi theo nhu cầu
của cơ thể, có thể rất thấp hoặc tăng
cao nhiều lần so với bình thường.

2.4. Vi môi trường tạo máu
- Gồm các tế bào đệm và chất đệm gian bào.
- Vi môi trường tủy xương tham gia điều hòa
tạo máu thông qua các hoạt động cơ bản sau:

Thông tin trực tiếp qua sự tiếp xúc chặt
chẽ giữa các tế bào với nhau.

Làm ổn định các yếu tố tăng trưởng qua
việc gắn với các chất đệm gian bào hoặc
protein màng tế bào.

Tạo ra cả chất kích thích và chất ức chế
tạo máu.


quay trở lại thành tế bào gốc vạn năng được.
- Tế bào gốc đa năng định hướng sinh tuỷ sẽ biệt
hoá để thành các tế bào gốc đơn năng định
hướng của một dòng tế bào máu như dòng
hạt- mono (CFU- GM), dòng hồng cầu (BFU-
E, CFU- E) và dòng mẫu tiểu cầu (CFU-
megakaryocyte).

III. TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU
3.2. Các tế bào gốc đa năng định hướng
(multipotential stem cells)
3.2.2. Tế bào gốc đa năng định hướng sinh lympho
- Phát triển thành hai dòng tế bào tiền thân rồi
sau đó biệt hoá thành lympho T và lympho B.
- Tế bào tiền thân dòng NK có lẽ cũng được sinh
ra từ tế bào gốc này.
- Giai đoạn thành thục sau cùng của lympho B và
T chỉ được hoàn thành tại cơ quan lympho
chuyên biệt ở ngoại vi

IV. Sinh máu dòng hồng cầu:

Từ tế bào nguồn đầu dòng (CFU-E), dưới
tác động của erythropoietin (EPO), tế bào
đầu dòng của hồng cầu được tạo ra, gọi là
tiền nguyên hồng cầu (proerythroblast).


Một tiền nguyên hồng cầu sinh ra 2 nguyên
hồng cầu ưa base I (erythroblast basophi I)

hồng cầu trưởng thành. Hồng cầu lưới ở
máu ngoại vi được coi là sự hiện diện của
khả năng sinh hồng cầu của tủy xương. Khi
hồng cầu lưới tăng nghĩa là tủy xương đang
tạo hồng cầu mạnh mẽ.

IV. Sinh máu dòng hồng cầu:

Hồng cầu trưởng thành có hình đĩa lõm 2
mặt, đường kính 7-8 μm, dày 1-3 μm,
không có nhân.Trên tiêu bản máu nhuộm
Giemsa, hồng cầu bắt màu đỏ hồng, ở giữa
có khoảng sáng tròn.

V.DÒNG TIỂU CẦU

Tiểu cầu là tế bào chức phận xuất hiện
ở máu ngoại vi, được sinh ra trong tuỷ
xương bởi các tế bào mẹ: mẫu tiểu cầu.

Khác với các dòng tế bào khác, mẫu
tiểu cầu có quá trình phân chia nội bào
nên càng trưởng thành càng có kích
thước lớn, đường kính đạt tới hàng
trăm µm đường kính.

V.DÒNG TIỂU CẦU
Quá trình sinh máu tiểu cầu:

Nguyên mẫu tiểu cầu (Megacaryoblaste )

trình bày chung trong dòng bạch cầu hạt
tung tính, và chỉ nêu lên những khác biệt
của hai dòng bạch cầu hạt ái toan và ái
kiềm mà thôi.

6.1 Dòng bạch cầu hạt trung tính:
Trong quá trình trưởng thành của dòng: nhân
tế bào thắt lại thành đoạn. Đây là đặc điểm
đặc trưng, chính hình ảnh nhân nhiều đoạn
mà người ta gọi tên một cách nhầm lẫn là
bạch cầu đa nhân.

Nguyên tuỷ bào

Tiền tuỷ bào

Tuỷ bào (Myelocyte)

Hậu tuỷ bào ( Metamyelocyte)

Bạch cầu hạt chia đoạn hay chia múi
(Segment)

Nguyên tuỷ bào:

Tế bào tròn đều hay không đều, đường
kính khoảng 20-25 µm.

Nhân hình tròn hoặc oval, lớn, chiếm
khoảng 6-8/10 tế bào, cấu trúc nhiễm sắc


Phản ứng soudan đen và peroxydaza
dương tính mạnh.

Hậu tuỷ bào ( Metamyelocyte):

Có tất cả các đặc điểm của tuỷ bào nhưng
ở mức độ trưởng thành hơn: kích thước
nhỏ hơn, nhân nhỏ lại và bắt đầu thắt
thành hình hạt đậu cho đến hình móng
ngựa với cấu trúc nhiễm sắc đậm đặc tụ
lại thành từng đám lớn. Nguyên sinh chất
chứa đầy các hạt đặc hiệu.

Đây là tế bào trẻ nhất của dòng có thể
xuất hiện ở máu ngoại vi trong tình trạng
bình thường, nhưng với tỷ lệ thấp (1-5%).

Bạch cầu hạt chia đoạn hay chia múi
(Segment):

Tế bào tròn, đường kính 12-14 µm.

Nhân thắt lại thành từng đoạn, lúc đầu chia
thành hai đoạn, sau đó tế bào càng già, càng
chia thành nhiều đoạn. Bình thường ở máu
ngoại vi nhân bạch cầu thường có 2-4 đoạn
(nhiều nhất 3 đoạn) ít khi trên 5 đoạn. Dựa
vào đặc điểm này người ta đưa ra công thức
Arneth và chỉ số biến động nhân Schilling để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status