Tài liệu Luận văn Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Nhà máy sợi II - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
Luận văn
Đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực tại Nhà
máy sợi II
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 3
Phần I: Ý nghĩa của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong
doanh nghiệp
5
I. Ý nghĩa của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh
nghiệp
5
1. Khái niệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
5
2. Tác dụng của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
6
3. Mục tiêu, ý nghĩa của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
7
II. Tổ chức công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong
doanh nghiệp
9
A. Đào tạo và phát triển công nhân kỹ thuật
9
1. Xác định nhu cầu đào tạo
9

4. Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty 3 năm gần đây
24
II. Quá trình hình thành và phát triển của Nhà máy sợi II
26
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
1. Chức năng, nhiệm vụ của nhà máy
27
2. Cơ cấu tổ chức của nhà máy
29
3. Tình hình hoạt động sản xuất
29
4. Nguồn nhân lực
34
5. Điều kiện lao động
44
6. Tổ chức lao động
46
Phần III: Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nhà máy
sợi II
48
I. Tầm quan trọng của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nhà
máy sợi II
48
1. Sự thay đổi quy trình công nghệ
48
2. Bù đắp vào chỗ bị thiếu hụt năng lực
49
3. Nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng tính cạnh tranh trên thị

64
LỜI MỞ ĐẦU
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
Để hội nhập với khu vực và thế giới, việc trang bị kiến thức cho đội ngũ
lao động ở nước ta là rất cần thiết và cấp bách. Cùng với sự phát triển nhanh
chóng của khoa học kỹ thuật, trình độ của người lao động chưa theo kịp với
sự thay đổi của công nghệ. Cách duy nhất để nâng cao trình độ cho người lao
động chính là đào tạo và phát triển kỹ năng làm việc cho họ.
Trong nhiều năm qua, Nhà nước ta luôn coi trọng việc đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng ta khẳng định: Con
người luôn được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển.
Trước đây, người ta chỉ chú trọng đầu tư máy móc, hiện đại hoá công
nghệ. Hiện nay, người ta đã nhận thấy những kiến thức do chất lượng nguồn
nhân lực chưa tương xứng với trình độ phát triển. Vì vậy các doanh nghiệp
tập trung hướng vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đem lại lợi ích lâu dài cho
người lao động, doanh nghiệp và xã hội. Trong quá trình đào tạo, mỗi người
sẽ được bù đắp những thiếu hụt trong học vấn, được truyền đạt những khả
năng và kinh nghiệm thiết thực trong lĩnh vực chuyên môn, được cập nhật hoá
kiến thức mới và mở rộng tầm hiểu biết để không những có thể hoàn thành tốt
công việc được giao mà còn có thể thích ứng với những biến đổi của môi
trường xung quanh.
Thực tế đã chứng minh, một doanh nghiệp phát triển tốt, ổn định, trước
hết phải có đội ngũ lao động có trình độ tay nghề cao. Việc quan tâm đầu tư
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một trong những điều kiện để doanh
nghiệp ổn định và phát triển.
Nhận thức được thực trạng và yêu cầu của tình hình trên, trong thời gian
thực tập tại Nhà máy sợi II - Công ty Dệt may Hà Nội (Hanosimex) doanh
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
PHẦN I
Ý NGHĨA CỦA ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG DOANH NGHIỆP
I . Ý NGHĨA CỦA ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một nguồn vốn đem lại giá trị thặng dư cho doanh
nghiệp. Nhưng để trở thành vốn nhân lực,con người nào cũng cần phải có giá
trị, chính là giá trị sức lao động. Giá trị sức lao động cao hay thấp phụ thuộc
vào trình độ lành nghề của nhân lực. Nói một cách khác, để người lao động có
thể trở thành vốn nhân lực không thể có con đường nào khác ngoài công tác
đào tạo nghề cho họ.
Trước đây, người ta chỉ coi trọng máy móc thiết bị, coi công nghệ là trung
tâm của sự phát triển, nên chỉ hướng vào hiện đại hoá máy móc công nghệ.
Hiện nay, người ta mới nhận thấy những khiếm khuyết do chất lượng nguồn
nhân lực không tương xứng với trình độ phát triển, và vì vậy người ta xem xét
lại chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực, hướng vào việc đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một "Loại hoạt động có tổ chức,
được điều khiển trong một thời gian xác định và nhằm đem đến sự thay đổi
nhân cách". Có 3 loại hoạt động khác nhau theo định nghĩa này: Đào tạo,
giáo dục và phát triển liên quan đến công việc, cá nhân con người và tổ chức.
Đào tạo: Là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện
chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ.
Giáo dục: Là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai; có

cách chính xác vì nó biểu hiện ở năng suất, chất lượng sản phẩm về sau.
Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là cần thiết cho sự thành
công của doanh nghiệp và phát triển tiềm năng của người lao động. Ngày nay,
nền kinh tế nước ta mở cửa hội nhập với thế giới, cơ cấu công nghệ thay đổi,
sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng sâu đòi
hỏi trình độ chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo của người lao động ở mọi lĩnh vực
phải được nâng cao. Để cập nhật với trình độ phát triển chung đó, nguồn nhân
lực phải được đào tạo thường xuyên, liên tục với cơ cấu thích hợp và những
biện pháp khác nhau đối với từng ngành nghề cụ thể.
2. Tác dụng của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Đào tạo và phát triển có tác động đến sự phát triển của tổ chức và trình
độ lao động của người lao động. Nó sẽ có tác dụng tốt nếu được quan tâm
đúng mức và ngược lại.
Tác dụng đối với tổ chức
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
- Giảm được sự giám sát, vì đối với người lao động được đào tạo, họ có
thể tự giám sát.
- Giảm bớt những tai nạn, vì nhiều tai nạn xảy ra là do những hạn chế
của con người hơn là do những hạn chế của trang thiết bị hay những hạn chế
về điều kiện làm việc.
- Sự ổn định và năng động của tổ chức tăng lên, chúng đảm bảo giữ
vững hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Tác dụng đối với người lao động
- Đào tạo nghề để ổn định và phát triển, người lao động được đào tạo
nghề có công việc và thu nhập ổn định sẽ yên tâm làm việc và gắn bó với
nghề mình đã lựa chọn.
- Có cơ hội thăng tiến, được làm việc ở vị trí mong muốn sau khi được
đào tạo và khả năng được cất nhắc trong tương lai.

- Nghiên cứu về nhân lực, chuẩn bị những số liệu về cơ cấu lao động và
lĩnh vực có liên quan.
- Tạo thuận tiện cho thông tin nội bộ giữa các bộ phận quản lý và người
lao động. Thông tin ngược liên quan đến bộ phận, động cơ của người lao
động và tương tự.
3.2 Ỳ nghĩa của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Sự phát triển của một tổ chức phụ thuộc vào các nguồn nhân lực của tổ
chức đó. Vì vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chính là điều kiện để
phát triển tổ chức.
Hơn nữa, người lao động cũng có nhu cầu được học tập, được đào tạo để
phát triển
+ Con người sống hoàn toàn có năng lực để phát triển. Mọi người trong một
tổ chức có khả năng phát triển và sẽ cố gắng thường xuyên phát triển để giữ
vững sự phát triển của doanh nghiệp cũng như của cá nhân họ.
+ Mỗi người đều có giá trị riêng. Vì vây, mỗi người là một con người cụ thể,
khác với những người khác và đều có khả năng đóng góp những sáng kiến.
+ Khi nhu cầu cơ bản của họ được thừa nhận và bảo đảm, các thành viên
trong tổ chức sẽ phấn khởi trong công việc.
Các doanh nghiệp tiến hành đào tạo và phát triển nguồn nhân lực vì 3 lý do
sau đây:
+ Đáp ứng yêu cầu công việc của tổ chức:
- Bù đắp và chuẩn bị vào những chỗ bị thiếu, bị bỏ trống. Sự bù đắp và bổ
sung này diễn ra thường xuyên nhằm làm cho doanh nghiệp hoạt động trôi
chảy.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
- Chuẩn bị cho người lao động thực hiện những trách nhiệm và nhiệm vụ
mới do có sự thay đổi trong mục tiêu, cơ cấu, cơ chế, môi trường kinh doanh,
luật pháp, chính sách và kỹ thuật - công nghệ mới tạo ra.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
H: Hệ số hoàn thành mức trong năm.
Hoặc có thể căn cứ vào số máy móc, mức đảm nhận của công nhân và hệ số
ca làm việc để xác định nhu cầu công nhân kỹ thuật theo công thức:

M
Nc = x K
P
Trong đó:
M: Số máy móc thiết bị.
P: Số máy một công nhân phục vụ.
K: Số ca làm việc của máy móc thiết bị.
Trường hợp không có sẵn mức phục vụ, số lượng công nhân kỹ thuật theo
từng nghề có thể tính theo công thức:
S
1
x I
m
x I
k
Nc =
I
W
Trong đó:
Nc: Nhu cầu số công nhân kỹ thuật thuộc một nghề nào đó trong
doanh nghiệp ở kỳ báo cáo.
S
1
: Số công nhân thực tế của nghề nào đó trong doanh nghiệp ở kỳ

loại lao động với trình độ thực tế của người lao động ở từng nghề, từng loại
lao động để xác định nhu cầu đào tạo. Cần nêu rõ những yêu cầu về trình độ
kiến thức, kỹ năng kỹ xảo, sức khoẻ, thái độ làm việc của người lao động
sau đào tạo.
2. Xác định mục tiêu của khoá đào tạo
Ngoài 5 mục tiêu chung của doanh nghiệp trong công tác đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực còn có những mục tiêu cụ thể cần đạt được của mỗi
khoá đào tạo. Đó là yêu cầu cần đạt được của học viên sau đào tạo. Người
học sau khi được đào tạo phải thoả mãn các yêu cầu về trình độ kiến thức, kỹ
năng kỹ xảo, thái độ làm việc đồng thời trong công việc cần thoả mãn yêu
cầu về kỹ thuật, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Thời gian học phải
đủ để học viên nắm bắt và thành thạo kỹ năng cần đào tạo, phù hợp với quá
trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo thời gian theo hợp đồng của khách hàng
về số lượng và chất lượng sản phẩm.
3. Lựa chọn đối tượng đào tạo
Để học viên đạt kết quả tốt, nắm bắt được kỹ năng đào tạo cần chọn
những người có trình độ cần thiết, có nguyện vọng được đào tạo. Trước hết,
nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu và động cơ đào tạo của từng cá nhân. Xem xét
thực sự người đó có cần được đào tạo hay không? Nghiên cứu tác dụng đào
tạo đối với người đó (khả năng phát triển, cơ hội thăng tiến). Nguyện vọng
được học tập của người đó có chính đáng? Sau đó nghiên cứu tác dụng của
đào tạo đối với anh ta. Người quản lý cần phải hiểu rõ vấn đề này để lựa chọn
đối tượng đào tạo cho phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp và phù hợp với
học viên.
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
4. Chương trình và phương pháp đào tạo
Phương pháp đào tạo phụ thuộc vào chương trình đào tạo. Với mỗi
chương trình đào tạo sẽ có phương pháp và địa điểm khác nhau. Tuỳ theo yêu

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
- Giao việc làm thử sau khi đã nắm được những nguyên tắc và phương
pháp làm việc, người học nghề bắt tay làm thử dưới sự kiểm tra uốn nắn của
người hướng dẫn.
- Giao việc hoàn toàn cho người học nghề. Khi người học nghề có thể
tiến hành công việc độc lập được, người hướng dẫn giao hẳn công việc cho
người học nghề nhưng vẫn phải thường xuyên theo dõi, giúp đỡ.
Muốn cho hình thức này đạt kết quả tốt, việc kèm cặp trong sản xuất
phải được tổ chức hợp lý, có chế độ đồng kèm cặp giữa người dạy học và
người học, giữa xí nghiệp và người dạy.
Hình thức đào tạo này có ưu điểm:
- Có khả năng đào tạo được nhiều công nhân cùng một lúc ở tất cả các
doanh nghiệp, phân xưởng. Thời gian đào tạo ngắn. Đây là biện pháp đảm
bảo tái sản xuất sức lao động lành nghề với tốc độ nhanh, đáp ứng kịp thời
nhu cầu công nhân kỹ thuật trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Do đào tạo trực tiếp tại cơ sở sản xuất, nên không đòi hỏi có điều kiện
về trường sở, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý và thiết bị thực tập
riêng. Vì vậy, doanh nghiệp nào cũng có thể tổ chức được và tiết kiệm chi phí
đào tạo.
- Trong quá trình học tập, học viên còn trực tiếp tham gia lao động, góp
phần hoàn thành kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp. Đồng thời, quá trình
học tập gắn liền với quá trình sản xuất đã tạo điều kiện cho học viên nắm
vững kỹ năng lao động.
Tuy nhiên, hình thức đào tạo này còn có một số nhược điểm:
- Học viên nắm kiến thức lý luận không theo trình tự từ thấp đến cao
và không có hệ thống.
- Đối với hình thức này, thời gian học tập ngắn, chủ yếu vừa sản xuất
vừa học tập. Người dạy nghề không chuyên trách nên thiếu kinh nghiệm, việc
tổ chức lý thuyết có nhiều khó khăn, nên kết quả học tập bị hạn chế.

Để đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên cơ sở kỹ thuật
hiện đại, Bộ hoặc các ngành cần tổ chức các trung tâm dạy nghề, các trường
dạy nghề tập trung, quy mô tương đối lớn, đào tạo công nhân có trình độ lành
nghề cao. Khi tổ chức các trường dạy nghề, cần phải có bộ máy quản lý, đội
ngũ giáo viên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo. Để nâng cao
chất lượng đào tạo của các trường, cần đảm bảo các điều sau đây:
- Phải có kế hoạch và chương trình đào tạo. Đối với các nghề phổ biến,
chương trình phải do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục-Đào
tạo xây dựng và ban hành. Chương trình đào tạo phải bao gồm hai phần lý
thuyết và thực hành, không coi nhẹ phần nào.
- Phải có đội ngũ giáo viên dạy nghề đủ khả năng, chuyên môn và kinh
nghiệm giảng dạy.
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
- Phải được trang bị các máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học
tập, các phòng thí nghiệm, xưởng trường. Những nơi có điều kiện, nhà trường
cần tổ chức các phân xưởng sản xuất vừa phục vụ cho việc giảng dạy, vừa sản
xuất của cải vật chất cho xã hội . Đối với những trường hợp không có điều
kiện tổ chức xưởng sản xuất riêng, nên để ở gần các doanh nghiệp lớn của
ngành, tạo điều kiện cho giảng dạy và học tập được thuận lợi. Các tài liệu
giảng dạy và sách giáo khoa phải biên soạn thống nhất cho các nghề, các
trường. Như vậy, muốn cho việc đào tạo có chất lượng phải đi từ những vấn
đề cơ bản của công tác dạy nghề, như định rõ nhiệm vụ, mục tiêu của mỗi
trường, lớp; tăng cường trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho việc giảng
dạy, học tập; đào tạo đội ngũ giáo viên lý thuyết và thực hành cho các nghề;
ban hành những chế độ, chính sách cần thiết như quy chế trường, lớp, tiêu
chuẩn giáo viên, tiêu chuẩn tuyển sinh vào các trường.
Hình thức này có những ưu điểm:
- Học sinh được học tập một cách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý

định.
5. Dự tính chi phí đào tạo
Chi phí đào tạo (giá thành đào tạo) được tính theo các yếu tố: Tiền
lương của giáo viên dạy nghề (lý thuyết và thực hành); tiền lương của giáo
viên hướng dẫn tay nghề; học bổng của học sinh; chi phí quản lý và các loại
chi phí khác. Với các lớp học chuyên đề, học thêm nghề hai, phải tính cả tiền
lương của học viên theo cấp bậc công việc của họ.
Ngoài ra còn chi phí cơ hội (chi phí gián tiếp). Chi phí này rất khó tính
vì người giáo viên và học viên có thể kiếm được nhiều tiền hơn hoặc có cơ
hội làm việc tốt hơn.
Việc tính toán chi tiết cụ thể chi phí đào tạo đối với mỗi hình thức đào
tạo sẽ giúp việc đánh giá hiệu quả kinh tế của đào tạo chính xác hơn (bằng
việc so sánh chi phí đào tạo và kết quả thu được sau khi đào tạo).
Chi phí đào tạo thuộc loại đầu tư đặc biệt. Kết quả của đầu tư biểu hiện
bằng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm được nâng cao.
6. Lựa chọn và đào tạo giáo viên
Với mỗi loại hình đào tạo và chương trình học khác nhau phải lựa chọn
và đào tạo giáo viên để phù hợp với chương trình, đặc điểm công nghệ và phù
hợp với trình độ học viên. Đào tạo tại nơi làm việc đòi hỏi công nhân dạy
nghề phải có trình độ văn hoá, trình độ nghề nghiệp và có phương pháp sư
phạm nhất định. Cách diễn đạt của người dạy nghề phải đơn giản, dễ hiểu để
người học dễ tiếp thu.
7. Đánh giá chương trình đào tạo
Đây là bước quan trọng trong việc tổ chức thực hiện chương trình đào
tạo. Tính toán hiệu quả kinh tế của việc đào tạo công nhân kỹ thuật là một
việc cần thiết nhưng phức tạp, cần được nghiên cứu hoàn thiện hơn. Đánh giá
chương trình đào tạo sau mỗi khoá học để kiểm điểm lại các bước trên có
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ

cho họ mà có thể thông qua tổ chức các lớp học, huấn luyện ngắn ngày nhằm
hoàn thiện nghề cơ bản, bổ sung thêm kiến thức về một nghề có liên quan,
đồng thời có thể nâng bậc nghề cho công nhân. Việc mở lớp chuyên đề, lớp
học thêm nghề thứ hai, lớp học phương pháp lao động tiên tiến, những buổi
tham quan, nghe báo cáo về khoa học kỹ thuật hiện đại cũng là các biện
pháp nâng cao trình độ lành nghề cho công nhân.
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
B. ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN CÁN BỘ CHUYÊN MÔN
Cán bộ chuyên môn là những người được đào tạo ở các trường đại học,
cao đẳng và trung học chuyên nghiệp có trình độ học vấn cao, có khả năng
lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo một chuyên môn nghiệp vụ nào đó.
Việc đào tạo cán bộ chuyên môn được tiến hành dưới nhiều hình thức
khác nhau như:
- Đào tạo chính quy dài hạn.
- Đào tạo tại chức dài hạn.
- Đào tạo từ xa
Việc xác định số lượng cán bộ chuyên môn được đào tạo hàng năm
được căn cứ vào các cơ sở sau:
- Nhu cầu về cán bộ chuyên môn của từng nghề.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở đào tạo.
- Vốn đầu tư cho đào tạo.
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
C. PHÁT TRIỂN LAO ĐỘNG QUẢN LÝ
Lao động quản lý bao gồm các tổ trưởng sản xuất, trưởng ca, đốc công,
phân xưởng trưởng, giám đốc và cán bộ chỉ huy, lãnh đạo. Ngoài trình độ
chuyên môn vững vàng họ phải được phát triển các kỹ năng quản lý như: kỹ

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
kỹ năng giải quyết công việc lúc đầu giờ cũng giúp phát triển thêm kỹ năng
cho lao động quản lý.
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Bích Nụ
PHẦN II
SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
DỆT MAY HÀ NỘI VÀ NHÀ MÁY SỢI II
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY DỆT MAY HÀ
NỘI
1.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Dệt may Hà Nội
Công ty Dệt may Hà nội là một công ty thuộc khối doanh nghiệp nhà
nước sản xuất và xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng sợi, dệt và các sản
phẩm may. Công ty có trụ sở chính đặt tại địa bàn quận Hai Bà Trưng- Hà
nội.
Tháng 4 năm 1978, công ty Xuất - nhập khẩu thiết bị toàn bộ Việt Nam
(Techno import) ký một hợp đồng thương mại với công ty Unionmatex Cộng
hoà liên bang Đức về việc cung cấp thiết bị công nghệ và phụ tùng cho một
nhà máy kéo sợi với một sản lượng 100.000 cọc.
Ngày 16 tháng 4 năm 1978, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định cho
phép xây dựng Nhà máy sợi Hà nội. Nhà máy được xây dựng từ tháng 2 năm
1979 trên tổng diện tích 13,6 ha tại thôn Mai Động, xã Hoàng Văn Thụ,
Thanh Trì - Hà nội. Thiết bị lắp đặt của các nước Cộng hoà liên bang Đức, Bỉ,
Italia với năng lực sản xuất theo thiết kế là 8000 tấn sợi các loại/ năm.
Ngày 21 tháng 11 năm 1984, nhà máy chính thức đi vào hoạt động, với
hai dây chuyền kéo sợi. Sản phẩm chủ yếu của nhà máy là các mặt hàng sợi
bông, sợi pha được sản xuất theo kế hoạch cấp trên giao.
Nhà máy vừa sản xuất, vừa hoàn thiện và mở rộng sản xuất. Ngày 31

triển khá trong nhiều năm. Ngày 1 tháng 8 năm 1995, Bộ trưởng Bộ công
nghiệp nhẹ quyết định chuyển đổi tổ chức và hoạt động của Xí nghiệp liên
hợp thành Công ty Dệt Hà nội, tên giao dịch quốc tế là Hanoi- Textile-
Company, viết tắt là Hanosimex. Trụ sở đặt tại số 1 Mai Động- quận Hai Bà
Trưng- Hà nội.
Ngày 29 tháng 2 năm 2000, Công ty Dệt Hà nội được Bộ trưởng Bộ
công nghiệp nhẹ quyết định chuyển đổi tổ chức và hoạt động cho phù hợp với
tình hình mới thành công ty Dệt may Hà nội. Công ty gồm 9 nhà máy thành
viên.
1. Tại phường Mai Động- Hai Bà Trưng- Hà nội:
- Nhà máy sợi I
- Nhà máy sợi II
- Nhà máy cơ điện
- Nhà máy may I
- Nhà máy may II
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status