189
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012 THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ
NƯỚC CỦA TỈNH QUẢNG BÌNH
Nguyễn Quang Minh
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Tóm tắt. Đối với tỉnh Quảng Bình, phát triển khu vực doanh nghiệp ngoài nhà
nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế
địa phương, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân và tăng
nhanh lượng hàng xuất khẩu. Nghiên cứu này phân tích tình hình phát triển doanh
nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua. Nguyên nhân của
những thành công và hạn chế về phát triển doanh nghiệp ngoài nhà nước được xác
định bào gồm các yếu tố thuộc về doanh nghiệp ngoài nhà nước và các yếu tố
thuộc về môi trường chính sách và kinh doanh. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải
pháp định hướng đề phát triển khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước của tỉnh
Quảng Bình.
1. Đặt vấn đề
Trong nền kinh tế địa phương, sự lớn mạnh của doanh nghiệp (DN) đặc biệt là
khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (DNNNN) có vai trò tích cực đến nguồn thu
ngân sách và đóng góp vào GDP hàng năm. Trong những năm qua, các DNNNN trên
địa bàn Quảng Bình đã góp phần duy trì độ tăng trưởng ổn định ở mức cao, đồng thời
còn có những tác động tích cực đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như cải thiện
tình hình kinh tế xã hội của địa phương.
DNNNN ở tỉnh Quảng Bình, làm rõ thành công và hạn chế cũng như những nguyên
nhân của những thành công và hạn chế đó. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải
pháp định hướng nhằm tiếp tục thúc đẩy sự phát triển khu vực DNNNN tỉnh Quảng
Bình trong giai đoạn công nhiệp hoá, hiện đại hoá. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu
được thu thập từ Cục thống kê Quảng Bình. Ngoài ra tác giả còn tham vấn ý kiến của
một số nhà DN, phỏng vấn chuyên gia và các nhà lập chính sách để có thêm thông tin
đa chiều về thực trạng phát triển DN khu vực ngoài nhà nước tỉnh Quảng Bình.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Khái quát tình hình phát triển DNNNN ở Quảng Bình
Khu vực DNNNN thời kỳ 2006 – 2010 tạo ra thu nhập cho người lao động ở
mức khá cao so với các khu vực khác. Năm 2006, thu nhập bình quân của người lao
động ở khu vực DNNNN là 1.028.000đồng/tháng và năm 2010 là 2.411.700đồng/tháng,
kết quả cho ta thấy sự phát triển của khu vực DNNNN đã giải quyết được nhiều công ăn
việc làm dài hạn cũng như thời vụ, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức thu
nhập, đời sống cho cộng đồng dân cư.
Tính đến thời điểm 31/12/2010, Quảng Bình có 2.270 DNNNN, tăng so với thời
điểm 31/12/2006 là 1.222 DN, tăng gấp 2,16 lần, bình quân tăng 21,32%/năm. Theo kết
quả thống kê năm 2006 đến 2010, quy mô nguồn vốn bình quân của một DNNNN là
8,48 tỷ đồng. Nếu xét về cơ cấu nguồn vốn theo khu vực kinh tế năm 2010, tổng nguồn
vốn khu vực DNNNN là 19.22,5 tỷ đồng thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu chiếm 41,2%, nợ phải
trả chiếm 58,8%. Tuy số lượng DNNNN hoạt động trên địa bàn Quảng Bình đông
nhưng phần lớn là DN vừa và nhỏ, nguồn vốn tự có ít, chủ yếu vốn vay ngân hàng nên
khi có biến động về thị trường, thay đổi về cơ chế, chính sách của nhà nước thì
DNNNN chậm thích ứng, lúng túng, không có nguồn vốn cho chiến lược sản xuất kinh 191
doanh dài hạn.
Số lượng DNNNN tăng trưởng không đồng đều giữa các huyện, thị và thành phố.
năng lực sản xuất thực tế còn thấp. DN tăng nhanh nhưng chủ yếu tập trung hoạt động ở
ngành cần ít vốn đầu tư, sử dụng ít lao động, công nghệ sản xuất không cao như ngành
thương mại, dịch vụ tư vấn và xây dựng.
Quy mô nguồn vốn nhỏ có nghĩa năng lực tài chính của DN thấp, sức cạnh tranh
không cao, tiềm ẩn nhiều yếu tố thiếu an toàn trong sản xuất kinh doanh. Đi kèm với
quy mô nguồn vốn nhỏ là mức độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa học
công nghệ thấp. Đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh, mặc dù mức 192
trang bị vốn sản xuất bình quân một DN tương đối cao so với các ngành còn lại, tuy
nhiên, hầu hết công nghệ sản xuất của DN là công nghệ đã qua sử dụng của nước ngoài,
được tân trang và chuyển giao với giá tương đối mềm. Do đó, trong quá trình sử dụng
gặp nhiều sự cố, chi phí sửa chữa, bảo dưỡng cao.
Đa số DNNNN chưa có chiến lược dài hạn: Một thực tế là DN đăng ký thành
lập mới hàng năm trên địa bàn tỉnh khá lớn, tuy nhiên số DN tạm dừng kinh doanh hoặc
giải thể cũng rất nhiều. Một cá nhân có thể thành lập một vài ba DN để thuận lợi cho
việc hợp lý hoá đơn, chứng từ, thế chấp tài sản để vay vốn tín dụng. Đa số DN vừa và
nhỏ trên địa bàn tỉnh ít có bộ máy tổ chức hoàn chỉnh, chủ DN chỉ điều hành một cách
cảm tính, thiếu chuyên nghiệp. Điều này đã thể hiện rõ nét về chiến lược kinh doanh của
bộ phận lớn DNNNN trên địa bàn tỉnh đang có vấn đề.
Biểu 2. Quy mô nguồn vốn chia theo loại hình kinh tế thời kỳ 2006-2010.
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2006 Năm 2010
Tốc độ tăng
bình quân năm
(%)
Tổng số 9.535.981
1.398.995
65,14
- DN tư nhân 345.377
1.479.520
43,87
- Công ty Hợp doanh 0
180
100,00
- Công ty TNHH 2.522.330
10.437.102
42,62
- Công ty Cổ phần 746.463
5.936.740
67,93
3. Khu vực kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài
số DNNNN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ít quan tâm đến các luật cơ bản như: Luật DN,
Luật thuế, Luật Kế toán, Luật thống kê… Một bộ phận khác thành lập DN theo phong
trào, ngẫu hứng, thiếu hiểu biết về tài chính DN cũng như các quy định của nhà nước
liên quan đến DN.
Trình độ quản trị điều hành DNNNN thấp: Mặc dù thời gian gần đây, chất lượng
quản trị điều hành trong các DNNNN đã được cải thiện đáng kể nhưng nhìn chung vẫn
còn nhiều yếu kém, bất cập. Phần lớn DNNNN có quy mô nhỏ, chủ yếu thành lập trên
cơ sở góp vốn của nhiều người trong gia đình, người chủ sở hữu thường đồng thời là
người quản lý, giám đốc, quản đốc Do vậy hình thức quản trị điều hành còn mang
nặng tính gia đình.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế: Về trang bị máy tính, trong
tổng số DNNNN, 21,78% DN có mạng cục bộ (LAN); 68,71% DN có kết nối internet;
3,89% DN có website riêng, tuy nhiên chỉ 1,21% số DN có giao dịch điện tử [Trang 41,
2]. Như vậy có thể thấy việc trang bị máy tính mặc dù có chú trọng quan tâm nhưng ứng
dụng công nghệ thông tin, viễn thông phục vụ trực tiếp cho sản xuất kinh doanh của
DNNNN vẫn còn hạn chế.
Việc thực hiện chế độ báo cáo tài chính, báo cáo thống kê không chuyên nghiệp:
Trong quá trình đôn đốc chế độ báo cáo đối với DN, Cục thuế Quảng Bình còn nhận
thấy tình trạng một bộ phận lớn DNNNN không có cán bộ làm công tác kế toán, thống
kê. Đến cuối năm, DN thuê dịch vụ kế toán, hợp lý hoá chứng từ sổ sách sao cho phù
hợp với mức thuế khoán của cơ quan thuế. Thực trạng này cũng thể hiện phần nào về
chất lượng và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của DNNNN.
2.2.2. Thách thức về môi trường kinh doanh
Cơ chế và tiếp cận vốn tín dụng chưa thuận lợi: Một số chủ DN cho rằng trong
giao dịch tín dụng vẫn còn sự phân biệt đối xử giữa DN lớn và DN nhỏ, giữa DN nhà
nước và DNNNN. Qua trao đổi một số chủ DNNNN, để làm được một hợp đồng vay
vốn hết sức khó khăn, ngoài các điều khoản cam kết về mặt pháp lý thì DN phải có khối
lượng tài sản thế chấp gấp 1,3 đến 1,5 lần khoản vay tín dụng. Có thể nói, vấn đề tiếp
cận vốn đối với những DN lớn hoặc DN nhà nước thông thoáng hơn DN nhỏ và
DNNNN.
xây dựng nông thôn mới.
Giải pháp về vốn: Việc hỗ trợ lãi suất vay vốn đối với DNNNN trong tình hình
hiện nay là hết sức cần thiết để giúp DN có thể đứng vững. Bên cạnh đó, các cấp chính
quyền ban ngành tỉnh cần phối hợp kiểm tra, kiểm soát về chính sách cho vay của các
ngân hàng thương mại nhằm đảm bảo công bằng, không phân biệt đối xử với các khu
vực DN. Đồng thời, cần xây dựng môi trường tài chính linh hoạt, năng động để
DNNNN dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn, loại hình tín dụng. Về bản thân DN, chủ DN
cần thay đổi nhận thức nhằm quản lý và sử dụng đồng vốn hiệu quả, tránh đầu tư dàn
trải mang tính cơ hội gây thất thoát và lãng phí vốn.
Ưu đãi đầu tư: Ban Quản lý Khu kinh tế của tỉnh cần thường xuyên nghiên cứu
sửa đổi, bổ sung quy chế ưu đãi đầu tư trong từng thời kỳ để phù hợp với điều kiện kinh
tế địa phương. Hiện tại cần bổ sung, sửa đổi Quyết định số 21/2007/QĐ-UBND, ngày
17 tháng 9 năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định chính sách 195
ưu đãi và hỗ trợ đầu tư áp dụng tại tỉnh Quảng Bình [5] . Thực hiện chính sách ưu đãi
đầu tư tạo cơ hội và điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư, ưu đãi
về phạm vi, thời hạn miễn giảm thuế đất, tài nguyên, thuế thu nhập DN… Chuẩn bị tốt
các điều kiện hạ tầng về hạ tầng điện, nước, giao thông cho nhà đầu tư.
Tạo điều kiện về mặt bằng sản xuất kinh doanh của DN, xây dựng đồng bộ cơ sở
hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế: Tập trung rà soát để điều chỉnh các dự án quy hoạch
tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất tạo điều kiện thuận lợi cho DNNNN
tiếp cận đất đai để làm mặt bằng sản xuất. Rà soát lại quỹ đất, lập kế hoạch chi tiết sử
dụng đất đến cấp xã, phường; thực hiện công khai, minh bạch giúp DN có đất và địa
điểm phục vụ sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, cần quy hoạch mạng lưới điện, nước đồng
bộ trong các khu công nghiệp trên địa bàn. Về giao thông đường bộ, cần tranh thủ để
đầu tư mở rộng, nâng cấp và xây dựng thêm một số tuyến giao thông mới, nơi có các dự
án đầu tư lớn như xã Châu Hoá (Dự án Nhà máy Xi măng bột đá siêu mịn), xã Văn Hoá
đồng DN và nhà nước, chưa là cầu nối giữa chính quyền nhà nước và DN. Vì vậy, để
phát huy vai trò của Hiệp hội DN, tỉnh cần hỗ trợ vật chất và kinh phí để Hiệp hội hoạt
động, tăng cường tổ chức những cuộc gặp gỡ, đối thoại và tiếp xúc giữa lãnh đạo tỉnh
và DN để trực tiếp bàn cách tháo gỡ khó khăn cho DN, tôn vinh các DN có đóng góp
nhiều thành tích cho sự phát triển của tỉnh nhà [3].
3. Kết luận
Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đang mở ra nhiều cơ hội và cũng không ít
thách thức đối với khu vực DNNNN, phát triển DN là một yêu cầu bức thiết là động lực
phát triển nền kinh tế tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung. Quảng Bình đang là một
tỉnh nghèo, sự phát triển và lớn mạnh của DN trong đó có khu vực DNNNN phụ thuộc
rất lớn vào sự quan tâm, tạo điều kiện về tất cả mọi mặt của các cấp, ban, nghành chính
quyền tỉnh. Hơn lúc nào hết, Quảng Bình đang cần những doanh nhân có tâm huyết, có
tầm, có khát vọng làm giàu trên mảnh đất miền trung nghèo khó. Cùng với sự đồng
hành của các cấp chính quyền, hy vọng rằng với một số giải pháp đã được đề nghị trên,
khu vực DNNNN tỉnh nhà sẽ có bước phát triển mới, xứng đáng với vai trò to lớn về
kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chỉ thị số 13/CT-UBND của UBND tỉnh Quảng Bình về việc xây dựng Kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015.
2. Niên giám thống kê Doanh nghiệp Quảng Bình thời kỳ 2006 đến 2010.
3. Quyết định số 952/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình đến năm 2020.
4. Quyết định số 1798/QĐ-UBND về việc ban hành Chương trình phát triển Công nghiệp
tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2015.
CHALLENGES AND MEASURES TO DEVELOP NON-STATE ENTERPRISES
IN THE PROVINCE OF QUANG BINH
Nguyen Quang Minh