Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Đảng và
Nhà nước ta trong những năm qua đã thu được những thành tựu đáng kể, tốc
độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao và ổn định, thị trường trong nước và quốc tế
ngày càng được mở rộng. Để có được những kết quả như vậy là nhờ một phần
không nhỏ vào sự thành công của hoạt động thương mại quốc tế thông qua
việc thực hiện tốt chính sách kinh tế mở và tiến hành các biện pháp cải cách
kinh tế trên nhiều mặt theo xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá.
Trong quá trình thực tập tại chi ngân hàng ACB chi nhánh Bà Triệu,
em nhận thấy việc thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu bằng phương thức tín
dụng chứng từ được sử dụng rất rộng rãi và có vai trò hết sức quan trọng. Với
phương thức thanh toán này cả người bán và người mua đều đảm bảo được
quyền lợi của mình một cách tối đa nhất, người bán sẽ chắc chắn được thanh
toán và người mua đảm bảo nhận được hàng do có sự đảm bảo từ những điều
kiện chặt chẽ của L/C. Song trên thực tế hiệu quả sử dụng phương thức này
còn hạn chế do chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của khách hàng. Một mặt,
bản thân Ngân hàng chưa đáp ứng được những yêu cầu có tính phức tạp của
nghiệp vụ, do các thanh toán viên chưa nắm vững và vận dụng thành thạo tác
nghiệp. Mặt khác, về phía khách hàng các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng
chưa hiểu biết thấu đáo về phương thức thanh toán này. Dưới giác độ quản lí
vĩ mô, còn có nhiều vướng mắc liên quan đến cơ chế chính sách của Nhà
nước... Do đó, hiệu quả sử dụng phương thức thanh toán này đã bị hạn chế rất
nhiều.
Tìm kiếm giải pháp nhằm hoàn thiện phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ là một yêu cầu cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như
thực tiễn. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này và được sự chỉ bảo
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tận tình của Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc cũng như sự giúp đỡ của
các anh chị, cán bộ phòng thanh toán quốc tế chi nhánh ngân hàng ACB nên
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NHTM, theo luật Ngân hàng của
Pháp năm 1941 định nghĩa: “Ngân hàng được coi là những xí nghiệp hay cơ
sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay
hình thức khác những khoản tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ
chiết khấu, tín dụng hoặc nghiệp vụ tài chính”. Theo luật Ngân hàng của Ấn
Độ: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ
đầu tư”. Ở Việt Nam, để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các
Ngân hàng và Tổ chức tín dụng tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế
đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các cá nhân. Điều 20, Luật các Tổ chức
tín dụng Việt Nam có nêu: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập
theo quyết định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động
kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và
sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Mặc dù, có nhiều cách thể hiện khác nhau nhưng khai thác nội dung ta
có thể nhận thấy các ngân hàng đều có chung một tính chất đó là việc nhận
tiền ký thác, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp
vụ cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ kinh doanh khác của ngân hàng.
1.1.2. Đặc trưng của Ngân hàng thương mại.
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khác với doanh nghiệp, NHTM không trực tiếp tham gia vào quá trình
sản xuất và lưu thông hàng hoá nhưng nó góp phần phát triển nền kinh tế xã
hội thông qua việc cung ứng nguồn tín dụng cho nền kinh tế, thực hiện chức
năng là trung gian thanh toán và dịch vụ Ngân hàng. Đặc trưng hoạt động của
NHTM bao gồm:
- Là chủ thể thường xuyên nhận tiền và kinh doanh tiền gửi.
- Hoạt động của NHTM gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ
và hoạt động thanh toán của mối quốc gia.
- Hoạt động của NHTM đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn.
1.1.3.Các nghiệp vụ thanh toán quốc tế của NHTM.
này với tổ chức cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với tổ chức quốc
tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng có liên hệ.
1.2.2 Vai trò của thanh toán quốc tế.
Các hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ không bao giờ
tách rời nhau mà chúng thường có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Xuất khẩu là
hành vi nội tệ biến thành hàng nhập khẩu để lấy ngoại tệ và nhập khẩu lại
hành vi ngoại tệ chuyển hoá thành hàng nhập khẩu. Toàn bộ hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu của một nước tạo thành một chu kỳ khép kín, chu kỳ có
dạng: “Nội tệ - Ngoại tệ - Hàng nhập khẩu”. Đó là mối quan hệ giữa hàng hoá
xuất khẩu và hàng hoá nhập khẩu, giữa nội tệ và ngoại tệ. Các quan hệ hàng
hoá và tiền tệ nói trên chỉ có thể được thực hiên thông qua trao đổi quốc tế.
Để đảm bảo việc thu chi ngoại tệ có kết quả tốt, các nhà kinh doanh
đều phải thành thạo phương thức thanh toán quốc tế vì thanh toán quốc tế là
việc chi trả tiền tệ giữa các đối tác thuộc các nước khác nhau trong quan hệ
mua bán quốc tế.
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong buôn bán, dù tồn tại dưới bất kì hình thức nào cũng luôn tồn tại
một mâu thuẫn đó là người nhập khẩu muốn nhận được hàng hoá trước khi trả
tiền, còn người xuất khẩu lại muốn có tiền rồi mới giao hàng. Vì vậy trong
buôn bán quốc tế cũng vậy việc giải quyết mâu thuẫn này càng cần thiết hơn
vì khoảng cách về địa lý, thông tin, không gian giữa người nhập khẩu và
người xuất khẩu.
Thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ còn có một ưu điểm
là cả các doanh nghiệp mới bước vào kinh doanh xuất nhập khẩu và các
doanh nghiệp đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực này đều có thể sử dụng một
cách hiệu quả.
1.2.3. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu.
Trên thực tế có rất nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác nhau.
Dưới đây là một số phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu mà các NHTM
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán mà người bán
hoàn thành xong nghĩa vụ giao hàng thì lập hối phiếu gửi đến ngân hàng nhờ
thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu. Trong trường hợp này ngân hàng đóng vai
trò trung gian giúp thu hộ tiền và được hưởng tỉ lệ phần trăm trên số tiền thu
được. Có hai loại nhờ thu: nhờ thu phiếu trơn (Clean collection) và nhờ thu
kèm chứng từ (Documentary collection).
Nhờ thu trơn là phương pháp mà người bán nhờ ngân hàng thu hộ số
tiền hối phiếu ở người mua nhưng không kèm theo điều kiện gì cả. Phương
thức này không đảm bảo quyền lợi cho bên bán bởi vì giữa việc nhận hàng và
thanh toán của người mua không có một sự ràng buộc nào. Người mua có thể
nhận hàng rồi không chịu thanh toán hoặc kéo dài thời gian thanh toán.
Nhờ thu kèm chứng từ khác với nhờ thu trơn là phương thức thanh toán
mà người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng thì lập bộ chứng từ
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thanh toán nhờ thu (chứng từ gửi hàng và hối phiếu) và nhờ ngân hàng thu hộ
tiền tờ hối phiếu đó, với điều kiện là người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả
tiền thì ngân hàng mới trao toàn bộ chứng từ gủi hàng cho người mua để họ
nhận hàng, (nếu là phương thức D/P, Documentary against Payment - Trả tiền
trao chứng từ) hoặc ký chấp nhận trả tiền (nếu là phương thức D/A,
Documentary against Acceptance - Chấp nhận trả tiền trao chứng từ). Như
vậy, so với nhờ thu trơn, phương thức này đảm bảo quyền lợi cho bên bán
hơn vì đã có sự ràng buộc chặt chẽ giữa việc thanh toán tiền và việc nhận
hàng của người mua.
Nhược điểm của phương thức nhờ thu là người bán thông qua ngân
hàng mới chỉ khống chế được quyền định đoạt hàng hoá của người mua chứ
chưa khống chế được việc trả tiền của người mua, người mua có thể kéo dài
thời gian thanh toán bằng việc chưa nhận chứng từ sớm hoặc người mua gặp
những khó khăn về tài chính chưa thể thanh toán ngay hoặc người mua có thể
không trả tiền nếu tình hình thị trường bất lợi cho họ. Ngoài ra, việc trả tiền
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit - D/C)
được thực hiện thông qua một công cụ hết sức quan trọng đó là thư tín dụng
(Letter of Credit - L/C) nó quyết định đến sự ra đời tồn tại và phát triển của
phương thức thanh toán này. Trong “Quy tắc và thống nhất về tín dụng chứng
từ” bản sửa đổi năm 2006 số 600 của Phòng thương mại quốc tế (UCP 600)
L/C có những đặc điểm như sau:
- Hợp đồng mua bán là cơ sở để thiết lập thư tín dụng.
- Sau khi ra đời, thư tín dụng hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán.
Các bên tham gia trong Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Người xin mở thư tín dụng “The appicant for the credit” là nhà nhập
khẩu, người mua.
- Người hưởng lợi thư tín dụng (the beneficiary) là người bán, người
xuất khẩu do người xuất khẩu, người bán chỉ định.
- Ngân hàng phát hành thư tín dụng (The Issuring Bank, The Opening
Bank) là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, cung cấp tín dụng cho
người nhập khẩu. Ngân hàng phát hành thường có địa điểm tại nước người
nhập khẩu. Nó chịu trách nhiệm phát hành L/C và chịu trách nhiệm trả tiền
cho người thụ hưởng
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The Advising Bank) là ngân hàng
ở tại nước người thụ hưởng. Nó đảm bảo quyền lợi và đại diện quyền lợi cho
người bán.
Ngoài ra trong qúa trình thương lượng, phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ còn xuất hiện các bên:
+ Ngân hàng xác nhận L/C (The Confirming Bank) là ngân hàng đứng
ra xác nhận L/C do ngân hàng phát hành mở ra, xác nhận khả năng thanh toán
của ngân hàng phát hành hoặc xác nhận theo yêu cầu của người bán.
+ Ngân hàng thanh toán (The Paying Bank) xuất hiện khi ngân hàng
phát hành uỷ quyền cho nó và trách nhiệm của ngân hàng này cũng giống
phát hành L/C không có quyền được đòi lại tiền người hưởng lợi trong bất cứ
trường hợp nào. L/C này cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế.
* L/C chuyển nhượng: Là L/C không huỷ ngang, trong đó người hưởng
lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C
cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho những người hưởng lợi thứ
hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai nhận cho mình một phần của thương vụ.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* L/C giáp lưng: Là loại L/C mà sau khi nhận được L/C do người nhập
khẩu mở cho mình hưởng, nhà xuất khẩu căn cứ vào nội dung L/C này và
dùng đúng L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người khác hưởng với
nội dung gần giống như L/C ban đầu.
* L/C tuần hoàn: Là L/C không thể huỷ ngang mà sau khi đã sử dụng
hết giá trị của nó hay đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như cũ và
tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời hạn nhất định cho
đến khi tổng trị giá hợp đồng các bên được thực hiện.
* L/C dự phòng: Là loại L/C được mở ra để bảo vệ quyền lợi của nhà
nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu đã nhận được L/C, tiền đặt cọc
và tiền ứng trước, nhưng lại không có khả năng giao hàng, hoặc không
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong L/C, đòi hỏi ngân
hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành một L/C trong đó cam kết với nhà
nhập khẩu sẽ hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở L/
C cho nhà nhập khẩu.
* L/C đối ứng: Là loại L/C không thể huỷ ngang, chỉ bắt đầu có hiệu lực
khi L/C kia đối ứng với nó được mở ra. Trong L/C ban đầu thường phải ghi “L/
C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng với nó để
cho người mở L/C này hưởng” và trong L/C đối ứng phải ghi câu “L/C này đối
ứng với L/C số... mở ngày...tại ngân hàng ...” và thông báo cho người thụ hưởng
biết.
* L/C điều khoản đỏ: Là loại L/C mà ngân hàng phát hành cho phép
* Tên, địa chỉ các bên liên quan đến L/C.
Các bên liên quan đến L/C được chia làm hai bên:
+ Các thương nhân: người nhập khẩu (người yêu cầu mở L/C) và người
xuất khẩu (người hưởng lợi).
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Các ngân hàng liên quan: Ngân hàng mở L/C, Ngân hàng thông báo,
Ngân hàng xác nhận (nếu có).
* Số tiền của L/C:
+ Số tiền của L/C phải vừa phải được ghi bằng số vừa phải được ghi
bằng chữ và phải thống nhất với nhau.
+ Tên của đơn vị tiền tệ phải được ghi rõ ràng, chính xác.
+ Trị giá của L/C phải phản ánh trị giá của lô hàng giao theo hợp đồng.
Tuy nhiên, một điểm cần phải chú ý đó là khả năng thực hiện việc giao hàng.
Bởi lẽ, đối với một số mặt hàng rời như quặng, than, gỗ,... thì số lượng hàng
giao khó có thể chính xác như L/C đã qui định, vì vậy có thể ảnh hưởng đến
khả năng thanh toán của lô hàng nên để tránh tình trạng này, một L/C có thể
cho phép dung sai trong số tiền cũng như số lượng hàng giao.
Tuy nhiên, UCP 600 đã tránh tình trạng này bằng việc quy định đối với
các loại hàng rời, nếu L/C không quy định cụ thể thì số lượng hàng giao vẫn
được phép dung sai 5%, miễn là không vượt quá giá trị L/C.
Do đó, một L/C nên ghi số tiền tối đa và cho phép dung sai của nó thì
nhà xuất khẩu sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện L/C.
* Thời hạn hiệu lực, thời hạn xuất trình chứng từ, thời hạn trả tiền và
thời hạn giao hàng.
+ Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà Ngân hàng mở L/C cam kết
sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu nhà xuất khẩu xuất trình đầy đủ bộ chứng từ
thanh toán trong thời hạn đó và phải phù hợp với điều kiện của L/C. Thời hạn
hiệu lực của L/C bắt đầu từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C.
+ Thời hạn xuất trình bộ chứng từ là khoảng thời gian nhà xuất khẩu
của L/C. Chứng từ phải thoả mãn ba yêu cầu: số loại chứng từ, số lượng mỗi
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
loại và yêu cầu về việc ký phát chứng từ đó như thế nào. Thông thường một
bộ chứng từ bao gồm:
- Hối phiếu (Draft of Exchange).
- Hoá đơn (Commercial Invoice).
- Chứng từ vận tải (Bill of Lading).
- Hợp đồng bảo hiểm (Insurance Policy/ Certificate).
- Chứng nhận xuất xứ (Certificate of Original).
- Bản khai đóng gói hàng (Packing list).
-Giấy chứng nhận số lượng/ trọng lượng (Certificate of quantity/
weight).
- Giấy chứng nhận chất lượng (Certificate of quality).
- Các giấy chứng nhận phân tích (Certificate(s) of analysis)
- Các giấy chứng nhận kiểm dịch, kiểm nghiệm...
* Sự cam kết trả tiền của Ngân hàng mở L/C.
Đây là điều khoản ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C đối
với L/C này.
* Những điều khoản đặc biệt khác.
Ngoài những nội dung nêu trên, ngân hàng mở L/C và người nhập khẩu
có thể thêm những nội dung khác khi cần thiết như cho phép đòi hoàn trả
bằng điện, qui định thêm về đóng gói... Tuy nhiên, các ngân hàng mở L/C
được khuyến cáo rằng, không nên mở một L/C quá phức tạp bằng cách ghi
thêm quá nhiều điều khoản phụ vào L/C. Những điều khoản phụ được coi là
các điều khoản không chứng từ (non documents condition).
* Chữ ký trên L/C hay mã khoá.
L/C thực chất là cam kết trả tiền có điều kiện của ngân hàng mở L/C.
Do đó, người ký L/C phải là một người có đủ năng lực hành vi, năng lực pháp
lý để tham gia và thực hiện một quan hệ dân luật. Cho nên nếu L/C được mở
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2006 (Gọi tắt là UCP 600).
Ở Việt Nam việc áp dụng UCP 600 trong các tổ chức tín dụng, ngân
hàng được phép thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế của mình gần như
tuyệt đối mà không phải gặp bất kỳ sự điều chỉnh nào, chỉ đến khi có các vụ
việc phát sinh cụ thể thì toà án, trọng tài mới can thiệp. Cho đến nay, nước ta
vẫn chưa có văn bản quy định nào, hướng dẫn áp dụng UCP và các thông lệ
khác trong giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu bằng L/C để các NHTM áp
dụng vào thực tế. Các văn bản như vậy rất cần thiết không chỉ đối với ngân
hàng mà còn là cơ sở để toà án, trọng tài áp dụng khi xét xử các vụ án tranh
chấp giữa các đối tác trong giao dịch thanh toán tín dụng chứng từ.
2.4 Quy trình nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ.
Sơ đồ : Quy trình nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ.
Bước 1: Nhà nhập khẩu viết đơn xin mở thư tín dụng rồi gửi tới ngân
hàng phục vụ mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng.
Bước 2: Căn cứ vào yêu cầu và nội dung của đơn xin mở thư tín dụng,
ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu sẽ lập một L/C và thông báo qua ngân hàng
đại lý của mình ở nước ngoài để thông báo việc mở thư tín dụng và chuyển
thư tín dụng đến cho nhà xuất khẩu.
18
(6) (5) (3) (8) (7) (1)
(6
))
Ngân hàng
thông báo
Người xuất
đến ngân hàng nhận bộ chứng từ để đi nhận hàng.
Bước 8: Nhà nhập khẩu sẽ xem xét bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp thì
thanh toán cho ngân hàng hoặc chấp nhận thanh toán và nhận lại bộ chứng từ
để đi nhận hàng. Nếu phát hiện bộ chứng từ có sai sót thì lúc này nhà nhập
khẩu vẫn có quyền từ chối thanh toán cho ngân hàng.
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoàn thiện thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ của NHTM.
2.5.1. Những nhân tố chủ quan
a) Năng lực và đạo đức kinh doanh của các nhà xuất nhập khẩu.
Năng lực và đạo đức kinh doanh của các bên có ảnh hưởng nhiều đến
chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ. Nếu người mua và người bán có
kiến thức và kinh nghiệm trong thương mại quốc tế thì quy trình thanh toán
trở nên nhanh chóng và thuận lợi hơn. Ngược lại, nếu một trong hai bên hoặc
cả hai đều không có kinh nghiệm thì dễ bị đối phương lừa đảo hoặc dễ vi
phạm các quy định trong thanh toán tín dụng chứng từ, dẫn đến làm cản trở cả
quy trình thanh toán. Vì vậy, sự hiểu biết rộng, có kinh nghiệm và làm việc
nghiêm túc của cả người xuất khẩu và người nhập khẩu là những yêu cầu cần
thiết để thúc đẩy nhanh quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng
từ .
b) Trình độ của cán bộ Ngân hàng.
Có thể nói bản thân các ngân hàng tham gia có ảnh hưởng lớn đến sự
nhanh chậm của quá trình thanh toán trong đó trình độ chuyên môn nghiệp vụ
cũng như phong cách phục vụ khách hàng của cán bộ ngân hàng là yếu tố
quyết định. Đây là yếu tố phản ánh rõ nét nhất và ảnh hưởng sâu sắc nhất đến
chất lượng của dịch vụ thanh toán quốc tế của Ngân hàng.
c) Quan hệ đại lý của Ngân hàng.
Nếu ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu và ngân hàng phục vụ nhà xuất
khẩu có quan hệ đại lý với nhau thì sẽ giao dịch trực tiếp với nhau. Điều này
có tác động mạnh mẽ, chẳng hạn như việc ban bố chính sách hạn chế nhập
khẩu hay chính sách kiểm soát ngoại hối thắt chặt sẽ có tác động làm ảnh
hưởng lớn đến quá trình thanh toán.
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngoài ra, phương thức tín dụng chứng từ còn bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố bất khả kháng như bất kỳ một quan hệ kinh tế nào. Các hiện tượng như:
chiến tranh, đình công, khủng bố, thiên tai, các vụ tấn công nhà băng
2.6 Các rủi ro thường gặp trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
* Đối với nhà nhập khẩu
- Việc thanh toán của ngân hàng cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ
chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hoá, do đó sẽ không
có sự đảm bảo nào cho nhà nhập khẩu rằng hàng hoá sẽ không bị hư hại gì đồng
thời nhà nhập khẩu vẫn phải trả tiền đầy đủ cho ngân hàng phát hành.
- Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và
nhà nhập khẩu phải được tiến hành làm thủ tục sửa đổi bổ sung L/C làm kéo
dài thời gian giao dịch, tăng chi phí.
- Ngân hàng xác nhận hoặc một ngân hàng chỉ định khác có thể mắc sai
lầm khi đã thanh toán cho một bộ chứng từ có sai sót, có ghi nợ ngân hàng
phát hành.
- Nhà nhập khẩu chưa nhận được bộ chứng từ cho đến khi hàng đã cập
cảng vì vậy để được bảo lãnh nhận hàng nhà nhập khảu phải trả một khoản
chi phí cho ngân hàng.
- Nếu không quy định bộ vận đơn đầy đủ thì một người khác có thể lấy
được hàng hoá khi chỉ cần xuất trình một phần bộ vận đơn mà nhà nhập khẩu
đã trả tiền.
* Đối với người xuất khẩu.
- Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu, nhà
nhập khẩu phải tiến hành làm thủ tục sửa đổi bổ sung L/C.
- L/C huỷ ngang có thể được ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ sung hay
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Đối với ngân hàng thông báo, ngân hàng chỉ định,ngân hàng xác
nhận.
- Đối với ngân hàng thông báo: Phải chịu trách nhiệm về độ chân thật
của L/C bao gồm cả việc xác minh chính xác chữ ký, khoá mã, mẫu điện
trước khi gửi thông báo cho nhà xuất khẩu.
- Đối với ngân hàng chỉ định: Thường ứng trước cho nhà xuất khẩu với
điều kiện truy đòi nên ngân hàng này phải tự chịu rủi ro tín dụng đối với ngân
hàng phát hành hoặc nhà xuất khẩu.
- Đối với ngân hàng xác nhận: Nếu bộ chứng từ là hoàn hảo thì ngân
hàng xác nhận phải trả tiền cho nhà xuất khẩu bất luận là có truy hoàn được từ
ngân hàng phát hành hay không vì vâyn mà ngân hành xác nhận chịu rủi ro
tín dụng đối với ngân hàng phát hành cũng như rủi ro chính trị và rủi ro cơ
chế của nước ngân hàng phát hành. Nếu ngân hàng xác nhận trả tiền hay chấp
nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra một cách chính
xác bộ chứng từ để bộ chứng từ có lỗi, ngân hàng phát hành không chấp nhận
thì không thể đòi tiền ngân hàng phát hành.
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG Á CHÂU
184-186 BÀ TRIỆU
1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH ACB.
1.1. Sự hình thành và phát triển của chi nhánh ACB.
Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh về NHTM, hợp tác xã
tín dụng và công ty tài chính được ban hành vào tháng 5 năm 1990, đã tạo
dựng một khung pháp lý cho hoạt động NHTM tại Việt Nam. Trong bối cảnh