MỤC LỤC
- Tên cơ quan: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.......3
- Tên gọi tắt: Ngân hàng nông nghiệp.....................................................................3
- Tên viết tắt: NHNo&PTNT Việt Nam..................................................................3
- Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng anh: Viet Nam Bank of Agriculture and
Rural ...........................................................................................................................3
Development................................................................................................................3
- Địa chỉ: Số 2- Láng Hạ- Quận Ba Đình- Hà Nội..................................................3
ĐT: 84 04 8313 700 .........................................................................3
Fax: 84 04 8313 717..................................................................................................3
* Chi nhánh Hà Tĩnh..................................................................................................3
2.3.1. Công tác nguồn vốn ...................................................................................13
2.3.3. Hoạt động dịch vụ......................................................................................15
2.3.4. Kết quả tài chính........................................................................................15
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã tạo ra những cơ
hội mới thúc đẩy sự tăng trưởng của các ngành xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài.
Sự kiện này cũng đặt Việt Nam trước sự cạnh tranh quyết liệt toàn cầu. Và việc tự do
thương mại hóa và xóa bỏ các hàng rào thuế quan đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp
Việt Nam hoạt động kinh doanh ra thị trường quốc tế. Đồng thời các nhà đầu tư nước
ngoài cũng nhanh chóng nhảy vào nước ta kinh doanh nhiều hơn. Trong nền kinh tế
thị trường với môi trường cạnh tranh như ngày nay, khách hàng chính là chìa khóa để
mỗi doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Mọi doanh nghiệp đều nhận thấy rằng
việc duy trì và phát triển khách hàng chính là yếu tố quan trọng trong chiến lược của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn thu hút và duy trì khách hàng sử dụng sản
phẩm/dịch vụ của mình thì ngoài việc phát triển mạng lưới hoạt động, cải tiến chất
lượng sản phẩm/dịch vụ thì còn phải quản lý tốt mối quan hệ với khách hàng của
mình.
CRM đã áp dụng rộng rãi tại các công ty trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Mục
đích của việc áp dụng CRM không chỉ đơn thuần là tạo lập mối quan hệ với khách
Fax: 84 04 8313 717
* Chi nhánh Hà Tĩnh
- Tên cơ quan: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tĩnh
- Tên gọi tắt: Ngân hàng nông nghiệp Hà Tĩnh
- Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng anh: Viet Nam Bank of Agriculture and Rural
Development Ha Tinh branch.
- Tên gọi tắt bằng tiếng anh: Agribank
- Tên viết tắt tiếng anh: VBAND
- Địa chỉ: Số 01- Phan Đình Phùng- Thành Phố Hà Tĩnh- Tỉnh Hà Tĩnh.
ĐT: 84 039 851 077
Fax: 84 039 855 332
Webside: www.Agribank.com.vn hoặc www.VBAND.com.vn
3
1. Quá trình ra đời của NHNo&PTNT Hà Tĩnh
Năm 1976 Hà Tĩnh và Nghệ An hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh.
Ngày 26/03/1988 Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam được thành lập. Cùng
với toàn hệ thống Ngân hàng phát triển nông nghiệp toàn quốc, ngày 01/10/1988
NHPTNo Nghệ Tĩnh được thành lập và chính thức hoạt động..
Thực hiện Nghị quyết của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam về việc chia tỉnh
Nghệ Tĩnh thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Ngày 24/08/1991 thống đốc NHNN
Việt Nam ra quyết định số 115/NH-QĐ giải thể NHPTNo Nghệ Tĩnh thành lập
NHPTNo Nghệ An và NHPTNo Hà Tĩnh.
Trải qua hơn 15 năm hoạt động, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà
Tĩnh đã có nhiều chuyển biến và phát triển vượt bậc.
2. Các giai đoạn phát triển của NHNo&PTNT Hà Tĩnh
2.1. Giai đoạn 1991- 1996: Đây là giai đoạn ngân hàng ổn định và chuyển hoạt động
kinh doanh theo hướng thị trường.
Sau khi thành lập NHNo Hà Tĩnh ổn định và chuyển hướng hoạt động kinh doanh
theo hướng thị trường. Ngân hàng được tái lập trong điều kiện nền kinh tế đất nước
đang còn gặp nhiều khó khăn khi vừa mới thoát khỏi cơn khủng hoảng kinh tế đang
nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn trong dân cư nhằm ổn định và tự cân đối nguồn vốn
chủ động tăng trưởng dư nợ". Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề bởi nhu cầu tín dụng
trong giai doạn này rất lớn, trong khi thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn thấp,
khối lượng tiền tệ tích lũy để dành trong nhân dân hạn chế dẫn đến việc huy động vốn
gặp khó khăn,
Ngày 27/8/1993 NHNo Việt Nam ban hành văn bản 495D/NHNo-KH " về xây
dưng, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh trong hệ thống NHNo Việt Nam",đây là
bước đột phá chuyển từ điều hành kế hoạch hóa tập trung sang gắn kế hoạch hóa với
kinh doanh.
Để tự cân đối nguồn vốn NHNo Hà Tĩnh đã thực hiện nhiều giải pháp quan trọng
như: đa dạng hóa hình thức huy động vốn, mở thêm mạng lưới huy động, giao kế hoạch
5
huy động cho từng chi nhánh và cá nhân. Tăng cường huy động vốn có kỳ hạn dài
nhằm ổn định nguồn vốn; tranh thủ các nguồn vốn ủy thác đầu tư từ nước ngoài, năm
1995: 8.6 tỷ; năm 1996: 26.7 tỷ góp phần đa dạng hóa lạo hình đầu tư tín dụng.
Bên cạnh các hình thức huy động nguồn vốn truyền thống NHNo Hà Tĩnh đã
chuyển đổi cơ cấu nguồn vốn có kỳ hạn dài bằng cách phát hành kỳ phiếu có mục
đích với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên: năm 1993 đạt 14.4 tỷ, năm 1994 đạt 97 tỷ, năm
1995 đạt 64 tỷ, năm 1996 đạt 93 tỷ, loại hình thức huy động vốn này đảm bảo ổn định
nguồn vốn, chủ động về đầu tư tín dụng.
Giai đoạn này nền kinh tế chuyển hướng phát triển theo kinh tế thị trường nên thời
kỳ này nguồn vốn huy động trên địa bàn hàng năm tăng bình quân 40%, đến cuối năm
1996 đạt 219 tỷ đồng.
Giai đoạn 1995-1996 hoạt động tín dụng lại chuyển hướng đầu tư mới, đó là việc tách
tín dụng trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp ở nông thôn thành hai loại hình: ở nông
thôn có mức sống dưới trung bình. Về tổ chức, NHNo đã tách ra một tổ tín dụng độc lập
chỉ đạo cho vay người nghèo ở văn phòng NHNo tỉnh và đây chính là tiền đề để ra đời
ngân hàng phục vụ người nghèo ở nông thôn thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo
của Đảng và nhà nước, tiền thân của ngân hàng chính sách xã hội sau này. Nhờ những cố
gắng tích cực của NHNo Hà Tĩnh nên trong năm 1995 đã triển khai cho vay người nghèo
Đây là giai đoạn lịch sử hết sức quan trọng, giai đoạn bản lề giữa thế kỷ 20 và thế
kỷ 21, thời khắc chuyển giao thiên niên kỷ. Nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngân
hàng nói riêng khắc phục tồn tại, hướng tới tương lai trên bước đường phát triển và
hội nhập.
Thời kì này nền kinh tế Hà Tĩnh đã có bước tăng trưởng khá, GDP bình quân hàng
năm tăng 8%. Để đáp ứng nhu cầu cho vay, các ngân hàng thương mại như ngân hàng
ngoại thương, ngân hàng đầu tư áp dụng lãi suất huy động cao; bên cạnh đó kho bạc
nhà nước, ngành bưu điện huy đọng nguồn vốn cho ngân sách, các quỹ tín dụng nhân
dân huy động vốn để kinh doanh dẫn đến thị trường nguồn vốn bị cạnh tranh gay gắt,
làm cho công tác huy động vốn của NHNo hết sức khó khăn.
7
Nhằm tăng trưởng nguồn vốn phục vụ kinh doanh, NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã tích
cực chủ động huy động vốn bằng hình thức và kỳ hạn hấp dẫn, linh hoạt thay đổi lãi
suất để thu hút khách hàng tăng sức cạnh tranh nhưng đảm bảo đầu vào hợp lý.
Giai đoạn này NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã hoàn toàn chủ động nguồn vốn phục vụ
kinh doanh, hạ lãi suất đầu vào hợp lý đảm bảo độ chênh lệch tối thiểu 0.4%, đây là
giai đoạn đầu tiên thừa vốn điều về trung tâm điều hành: năm 1998 thừa 18 tỷ, năm
1999 thừa 30.5 tỷ, năm 2000 thừa 61.6 tỷ, năm 2001 thừa 116 tỷ, năm 2002 thừa 178
tỷ.
Nền kinh tế các nước châu Á đã thoát khỏi khủng hoảng, NHNo Việt Nam đổi tên
thành NHNo&PTNT Việt Nam đã xác định hướng đầu tư tập trung cao cho lĩnh vực
nông nghiệp nông thôn. Nhằm thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ 15,
nhiệm vụ đặt ra đối với NHNO&PTNT Hà Tĩnh là: chỉnh sửa những tồn tại về hoạt
động tín dụng giai đoạn trước đây, từng bước ổn định mở rộng hoạt động tín dụng
đáp ứng nhu cầu vốn cho việc đầu tư phát triển kinh tế đặc biệt trên lĩnh vực nông
nghiệp và nông thôn.
Cuối năm 1997, dư nợ là 210 414 triệu đồng. Năm 1998, dư nợ là 205 855
triệu đồng, cuối năm 1999, dư nợ là 214 326 triệu đồng. Dư nợ bình quân trong giai
đoạn này chỉ đạt bình quân 396 triệu đồng/đầu người, trong khi đó, bình quân dư nợ
toàn hệ thống NHNo&PTNT là 1200 triệu đồng/người. Nhờ có sự kết hợp giữa trong
cho vay hộ sản xuất kinh doanh, hộ nghèo ở thị trường nông nghiệp, nông thôn.
Thực hiện mở sổ đăng ký nhu cầu vay vốn của khách hàng, tổ chức họp dân tuyên
truyền cơ chế chính sách cho vay của NHNo, củng cố thành lập lại tổ vay vốn đối với
hộ sản xuất theo văn bản chỉ đạo số 480 của NHNo&PTNT tỉnh nên loại hình cho vay
hộ sản xuất kinh doanh tăng cả quy mô và tốc độ. Trong giai đoạn từ năm 1997-2002,
tổng doanh số cho vay hộ đạt 1532487 triệu đồng, trong đó có 338209 lượt hộ được
cho vay, dư nợ cuối năm 2002 đạt: 437069 triệu đồng, tăng 35.2 lần so với năm 1996.
Bên cạnh cho vay hộ sản xuất kinh doanh, công tác cho vay xoá đói giảm nghèo
được tiếp tục thực hiện có hiệu quả. Từ năm 1996 đến tháng 10/2002 có 131823 lượt
hộ nghèo vay vốn với doanh số cho vay 243910 triệu đồng, doanh số thu nợ 75074
9
triệu đồng. số hộ có dư nợ 79000 hộ với dư nợ 175800 triệu đồng, tăng gấp 5.7 lần
năm 1996.
Để chuyển tải vốn cho vay hộ sản xuất, kinh doanh NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã củng cố
mở rộng mạng lưới chuyển tải vốn đến thị trường nông nghiệp, nông thôn. Kết quả cuối
năm 2002 có 3400 tổ, với 52000 thành viên vay vốn, tổng dư nợ cho vay qua tổ 200000
triệu đồng, chiếm tỉ trọng 47% so tổng dư nợ hộ sản xuất kinh doanh.
Song song với việc mở rộng quy mô tín dụng đối với cho vay hộ SXKD, giai đoạn
này NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã có những tích cực thay đổi cơ cấu vốn cho vay trung
hạn từ 15% cuối năm 1996 lên 71% năm 2002, đây là một số cố gắng rất lớn của
NHNo&PTNT Hà Tĩnh. Tranh thủ nguồn vốn UTĐT từ 26731 triệu cuối năm 1996
lên 19266 triệu cuối năm 2002, nhờ đó đã có đủ nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu cho
vay trung hạn đối với hộ sản xuất.
Thực hiện chủ trương đa dạng hoá loại cho vay, NHNo&PTNT Hà Tĩnh đã chủ
trương mở rộng loại tín dụng cho vay cầm cố và tiêu dùng, không giới hạn tại địa bàn
thanh thị mà mở rộng tại địa bàn nông thôn. Kết quả đã đưa dư nợ cho vay tiêu dùng
18076 triệu cuối năm 1999 lên gần 100000 triệu đồng năm 2002; dư nợ cho vay cầm
cố từ 1952 triệu đồng cuối năm 1999 lên 5373 triệu đồng năm 2002.
Nhằm đầu tư khai thác thế mạnh kinh tế đồi, rừng đã khảo sát và phân loại 1200 trang
trại, thực hiện phân loại và tiến hành thiết lập quan hệ tín dụng với loại hình kinh tế này.
năm 2002); Đa dạng hoá loại hình đầu tư phục vụ phát triển các ngành kinh tế, thành
phần kinh tế góp phần khai thác mọi tiềm năng tự nhiên trên địa bàn Hà Tĩnh; chất
lượng tín dụng được nâng cao, nợ quá hạn từ chỗ 18.92% năm 1991 xuống 1.7% năm
2002. Bên cạnh đó đã cho 130700 lượt hộ nghèo vay vốn số tiền 261600 triệu đưa dư
nợ cuối năm 2002 đạt 190 tỷ đồng, vốn cho vay người nghèo mua sắm phương tiện
sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập giúp 14826 hộ xoá đói giảm nghèo vươn lên hoà
nhập cộng đồng. Nguồn vốn cho vay trực tiếp hộ sản xuất và người nghèo còn góp
phần hạn chế nạn bán lúa non, cho vay nặng lãi tồn tại từ bao đời nay trong nông thôn
11
Hà Tĩnh, làm ấm lên nghĩa xóm tình làng, góp phần khơi dậy, phục hồi, phát triển nền
văn hoá trong cộng đồng làng xã.
Năm 1991 toàn chi nhánh mới chỉ có 11.2% trình độ đại học, đến năm 2002 tỷ lệ
đại học đã lên đến 40%, 2 người tốt nghiệp sau đại học, nhiều cán bộ có 2 bằng đại
học, trình độ vi tính và ngoại ngữ năm 1991 gần như không có đến năm 2002 đã có
8% cán bộ có trình độ ngoại ngữ từ bằng A trở lên trong đó có 1 cử nhân ngoại ngữ.
Trình độ vi tính đã được phổ cập. Đời sống vật chất tinh thần của cán bộ Hà Tĩnh
bước đầu được cải thiện, từ năm 1991-2000 phải trợ cấp lương, từ năm 2001 đã đủ hệ
số lương theo mức tối đa TW cho phép.
Từ ngày chia tỉnh cơ sở vật chất nhỏ bé và lạc hậu, đến cuối năm 2002 toàn bộ trụ
sở làm việc đã xây dựng kiên cố, 100% nhà làm việc NH cấp II và một số NH cấp III
được xây dựng cao tầng, với trang thiết bị nội thất hiện đại. Từ chỗ chỉ có 1 máy vi
tính cũ từ ngày thành lập, đến cuối năm 2002 về cơ bản đã trang bị đủ nhu cầu máy vi
tính phục vụ cho công tác. 100% các nghiệp vụ được thực hiện trên máy vi tính góp
phần tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh doanh.
2.3. Giai đoạn 2003 đến nay: Đây là giai đoạn NHNo Hà Tĩnh có nhiều đổi mới và
phát triển không ngừng.
Giai đoạn này mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, dịch bệnh nhưng tình
hình kinh tế xã hội Hà Tĩnh tiếp tục ổn định và phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
8.7%, trong đó công nghiệp-xây dựng tăngn 21.5% , nông lâm ngư nghiệp giảm 1.3%,
thương mai dịch vụ tăng 11.1%. Hà Tĩnh đã triển khai nhiều dự án trọng điểm như:
được nguồn vốn kinh doanh năm 2007 NHNo&PTNT tỉnh Hà Tĩnh không khoán chi
tiêu tiết kiệm gửi góp đến người lao động.
- Ngoại tệ đạt 20969000 USD tăng 6821000USD so với năm 2006, tốc độ tăng 48%,
đạt 102% kế hoạch.
* Nguồn vốn các tổ chức kinh tế: 430 tỷ đồng, tăng 115 tỷ so với năm 2006, tốc độ
tăng 36.5%.
* Tiền gửi TCTD: 1 tỷ đồng
13
Cơ cấu nguồn vốn theo thời gian năm 2007
+ Tiền gửi không kỳ hạn 379 tỷ đồng, tăng 79 tỷ so với năm 2006, chiếm tỉ trọng
14.75%.
+ Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng 788 tỷ đồng, tăng 210 tỷ so với năm 2006, tốc
độ tăng 29.75%, chiếm tỉ trọng 54.6%.
+ Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng 1404 tỷ đồng, tăng 322 tỷ so với năm 2006, tốc độ tăng
29.75%, chiếm tỷ trọng 54.6%.
2.3.2. Hoạt động tín dụng
* Tổng doanh số cho vay 3391.8 tỷ đồng
* Tổng doanh số thu nợ 2522.2 tỷ đồng
* Tổng dư nợ đạt 2630 tỷ đồng, tăng 869 tỷ so với năm 2006, tốc độ tăng 49%, đạt
99.7% kế hoạch, chiếm 46% tổng dư nợ tất cả các ngân hàng và quỹ tín dụng trên địa
bàn. Trong đó:
- Dư nợ phân theo nguồn vốn:
+ Dư nợ ngắn hạn thông thường: 1397 tỷ đồng, tăng 454 tỷ so với năm 2006, tốc độ
tăng trưởng 56% chiếm 53% tổng dư nợ.
+ Dư nợ trung hạn thông thường 1247 tỷ đồng, tăng 280 tỷ so với năm 2006, tốc độ
tăng 29%, chiếm 35%.
- Phân theo thành phần kinh tế:
+ Dự nợ doanh nghiệp nhà nước 9.8 tỷ, tăng 4.5 tỷ so với năm 2006, chiếm tỷ trọng
0.38% tổng dư nợ.
+ Dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 466 tỷ đồng, tăng 169 tỷ so với năm
Trong đó dịch vụ chuyển tiền trong nước 2.04 tỷ đồng, tăng 628 triệu so với năm
2006.
- Doanh số mua ngoại tệ 13.8 triệu USD, doanh số bán 13.9 triệu USD.
- Thực hiện chi trả kiều hối 22620 món với tổng số tiền 25.9 triệu USD.
- Nghiệp vụ thẻ: Trong năm phát hành 2528 thể ATM, đưa số thể đã phát hành lên
4778 với số dư trên tài khoản là 5.1 tỷ đồng, số dư bình quân 1 triệu đồng/thẻ.
Nghiệp vụ đại lý chứng khoán: có 35 tài khoản lưu ký với số dư 1.658 tỷ đồng.
2.3.4. Kết quả tài chính
15
Bảng 1.1. Kết quả tài chính trong những năm qua
ĐVT: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
2003 2004 2005 2006 2007
1.Tổng thu
88 132 107 135 239 431 316 093 465 542
Trong đó
Thu từ kinh doanh 80 257 96 962 231 856 290 662 395 460
Thu ngoài kinh doanh 7 875 10 173 7 575 25 431 70 082
2.Tổng chi
85 977 203 593 201 375 261 058 401 611
Trong đó
Chi lương + PC 12 963 13 362 15 818 18 289 28 324
Chi ăn ca 1 524 1 532 1 617 1 965 2 299
Ngoài giờ 689 1 636 2 263 3 071 4 879
Công tác phí 957 1 144 1 766 1 597 1 552
Chi khác 1 978 1 870 2 275 2 514 3 404
3.Tổng chi chưa lương
73 013 190 231 242 769 373 287
4.Quỹ thu nhập
- Hệ số lương đạt 1.19 quỹ lương kế hoạch
17
II. Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của NHNo&PTNT Hà Tĩnh
1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Hà Tĩnh
Hình 1.1. Hệ thống chức năng của NHNo&PTNT Việt Nam NHNo&PTNT Hà Tĩnh là một chi nhánh của NHNo&PTNT Việt Nam, hoạt động
dưới sự quản lý của NHNo Việt Nam
18
TRỤ SỞ
CHÍNH
CÔNG TY
TRỰC
THUỘC
ĐƠN VỊ
SỰ
NGHIỆP
VĂN
PHÒNG
ĐẠI DIỆN
CHI
NHÁNH
CẤP 1
SỞ GIAO
DỊCH
CHI
NHÁNH
CHI
NHÁNH
trách tin học, thẻ, chứng khoán; phó giám đốc kế hoạch kinh doanh.
- Phó giám đốc: là người giúp việc cho giám đốc, trực tiếp phụ trách một số lĩnh vực
công việc và phòng nghiệp vụ theo sự phân công, ủy quyền của giám đốc. Do vậy phó
giám đốc là người đầu tiên trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật và giám đốc về
các quyết định của mình trong phạm vi công việc được giao.
Chi nhánh có 7 phòng ban: Phòng kế toán, Phòng kinh doanh ngoại tệ và thị trường
quốc tế, Phòng kiểm soát, Phòng tin học, Phòng kế hoạch kinh doanh, Phòng tổ chức
cán bộ, phòng hành chính.
19
GIÁM ĐỐC
PGĐ Kế toán ngân
quỹ&TT quốc tế
PGĐ phụ trách tin
học,thẻ,chứng khoán
PGĐ Kế hoạch
KD
P.Kế
toán
ngân quỹ
P.KD ngoại
tệ&TT quốc tế
P.Kiểm
soát
P.Tin học
P.Kế
hoạch KD
doanh
P.Tổ chức
cán bộ
P.Hành
20
định; Đề xuất và hoàn thiện hồ sơ đúng theo quy chế trong việc bổ nhiệm, miễn
nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ trong phạm vi phân cấp ủy quyền; Trực tiếp quản
lý hồ sơ cán bộ, hoàn tất hồ sơ cho cán bộ nghỉ việc, về hưu, nghỉ khác theo chế độ
của nhà nước; Tư vấn cho giám đốc về tuyển dụng, hợp đồng lao động, tranh chấp lao
động.
+ Phòng hành chính: Trung tâm đầu mối cho cán bộ liên hệ đi công tác, giao tiếp với
khách hàng đến làm việc; Lưu trữ các văn bản pháp luật về định chế có liên quan đến
ngân hàng và các văn bản chỉ đạo điều hành của NHNo&PTNT tỉnh; Thực hiện các
công tác thông tin, tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị theo chỉ đạo của ban giám đốc;
Đầu mối trong việc chăm lo đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần và thăm hỏi ốm đau,
hiếu, tử CBCNV.
+ Phòng tin học: Tổng hợp, lưu trữ số liệu có liên quan đến hoạt động của ngân hàng;
Xử lý các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hoạch toán kế toán, kế toán thống kê,
hoạch toán nghiệp vụ và tín dụng cùng các hoạt động khác phục vụ cho hoạt động
kinh doanh; Quản lý, bảo dưỡng và sửa chữa máy móc thiết bị tin học.
+ Phòng kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế: Thanh toán quốc tế qua mạng
SWIFT; Thanh toán đối với hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá xuất khẩu; Thanh toán
biện mậu và Chuyển tiền với nước ngoài.
+ Phòng kiểm soát: Nhằm tiến hành kiểm tra các hồ sơ nhằm hạn chế mức thấp nhất
các rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
Tổ chức bộ máy của ngân hàng không ngừng thay đổi trước thay đổi của môi
trường kinh doanh . Sự phát triển của các tổ chức tài chính mới, sự ra đời của các sản
phẩm ngân hàng, sự thay đổi về nhu cầu tiết kiệm hay vay mượn, sự phát triển của
công nghệ, quá trình đa dạng hóa, toàn cầu hóa tạo mối liên kết mới... đều dẫn đến sự
thay đổi bộ máy tổ chức cảu ngân hàng.
Tổ chức bộ máy nhằm mục tiêu chủ yếu là tăng hiệu suất công việc, dẫn đến tăng
thu nhập, giảm rủi ro cho ngân hàng. Mỗi chi nhánh, phòng ban tổ chức ra đều làm
gia tăng chi phí nhân công, chi phí quản lý, chi phí đầu tư... Hơn nữa, nếu phân định
nhiệm vụ không rõ ràng có thể dẫn đến trùng lặp giữa các phòng, các chi nhánh. Tổ
2. Khách hàng
22
Thị trường chủ yếu là nông nghiệp nông thôn nên khách hàng mà NHNo Hà Tĩnh
xác định trọng tâm vẫn là các cá nhân, hộ gia đình. Bên cạnh đó thì ngân hàng đang
chủ động mở rộng đối tượng khách hàng sang phía doanh nghiệp, cụ thể:
- Doanh nghiệp nhà nước
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư 100% nước ngoài
- Tổ chức kinh tế tập thể
- Tổ chức đoàn thể
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Hộ gia đình và cá nhân
3. Các sản phẩm
Trong nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra để trao đổi trên thị trường. Mỗi
sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định của người tiêu
dùng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và những tiến bộ
kinh tế xã hội, nhu cầu của con người về các loại sản phẩm ngày càng lớn về số
lượng, đa dạng về chủng loại, mẫu mã và yêu cầu cao hơn về chất lượng.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, hệ thống ngân hàng nông
nghiệp Hà Tĩnh đã phát triển và cung cấp cho khách hàng nhiều sản phẩm mới tiện
lợi.
Bảng 1.3. Hệ thống sản phẩm của ngân hàng
STT Sản phẩm dịch vụ STT Sản phẩm dịch vụ
A Lĩnh vực ngân hàng cá nhân B Lĩnh vực KD phục vụ DN
Sản phẩm tiền gửi cá nhân Sản phẩm tiền gửi KH là DN
1 Tài khoản vãng lai 15 Tài khoản vãng lai
2 Gửi tiết kiệm có kỳ hạn 16 Tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn
3 Tiết kiệm gửi góp 17 Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không
có kỳ hạn