1
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI THUYẾT TRÌNH
MÔN CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI 2
ĐỀ TÀI:
CÁC QUY ĐỊNH VỀ TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT CỦA EU ĐỐI
VỚI HÀNG DỆT MAY: THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP
ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Giáo viên hướng
dẫn
:
Sinh viên thực hiện
:
Lớp
:
2
2
Hà Nội, tháng 11 – 2013
MỤC LỤC
3
3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ÐẦU
EU là một trong những đối tác thương mại và đầu tư quan trọng nhất của
Việt Nam. Xuất khẩu sang EU đóng góp 16% tổng GDP, đạt 14,9 tỷ USD (14%
4
4
5
Chương 2: Thực trạng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của EU đối với hàng
dệt may của doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3: Giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam vượt qua các tiêu chuẩn
kỹ thuật của EU đối với hàng dệt may
6
6
CHÝÕNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT VÀ CÁC QUY ÐỊNH HỆ
THỐNG TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT CỦA EU ÐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY
NHẬP KHẨU
1.1. Khái niệm những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
1.1.1. Khái niệm:
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật (rào cản kỹ thuật trong thương mại
quốc tế) là những quy định về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì
đóng gói, kỹ mã hiệu, dán nhãn, bảo vệ môi trường sinh thái,… đối với hàng hóa
trong thương mại quốc tế.
Trong thương mại quốc tế, các “rào cản kỹ thuật đối với thương mại”
(Technical Barriers to Trade - TBT) thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu hoặc quy trình đánh giá sự phù
hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó. Các
biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi
ích quan trọng như bảo vệ sự an toàn và lợi ích của người tiêu dung, bảo vệ môi
trường trong nước Tuy nhiên, trên thực tế, các biện pháp kỹ thuật có thể là những
rào cản tiềm ẩn đối với thương mại quốc tế bởi chúng có thể được sử dụng vì mục
tiêu bảo hộ cho sản xuất trong nước, gây khó khăn cho việc thâm nhập của hàng
hoá nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu. Do đó chúng còn được gọi là “rào
cản kỹ thuật đối với thương mại”.
1.1.2. Mục đích
- Đối với người tiêu dùng: dễ dàng lựa chọn và sử dụng những sản phẩm thích hợp có
quyết định tới sức cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường thế giới.
1.2.5. Hệ thống thực hành sản xuất tốt GMP (Good Manufacturing Practiecs)
Các nước lớn như Mỹ, EU, Nhât Bản, Australia…đều yêu cầu các sản phẩm
khi nhập khẩu vào thị trường nước họ phải được công nhận đã áp dụng GMP.
Chứng nhận GMP là một tiêu chuẩn bắt buộc đối với đơn vị sản xuất, GMP kiểm
soát tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành chất lượng.
1.3. Tác động của việc áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật
1.3.1. Đối với nước nhập khẩu
Rào cản kỹ thuật có thể bị sử dụng biến tướng như một công cụ bảo hộ của
8
8
Chính phủ nước nhập khẩu dùng để hạn chế sự thâm nhập của hàng hóa nước ngoài
khi thâm nhập vào thị trường nước mình.
Tác động tích cực
- Việc áp dụng các rào cản kỹ thuật đã làm nâng cao chất lượng của hàng hóa
nhập khẩu vào thị trường này, qua đó quyền lợi người tiêu dùng được nâng cao.
- Giảm sức cạnh tranh “sức ép” của hàng hóa nhập khẩu.
- Bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, giúp các nhà kinh doanh trong nước
tăng sức cạnh tranh trên thị tường nội địa.
- Tạo điều kiện hỗ trợ các ngành và mặt hàng xuất khẩu nâng cao khả năng
cạnh tranh trên thị trường nước ngoài.
- Sử dụng hợp lý các nguồn ngoại tệ, tạo điều kiện cân bằng cán cân thanh
toán quốc tế của quốc gia, cải thiện cán cân thương mại.
- Việc áp dụng các rào cản kỹ thuật giúp bảo vệ môi trường, bảo vệ an toàn
và sức khỏe của người tiêu dùng.
Tác động tiêu cực
- Ảnh hưởng đến việc mở rộng quan hệ quốc tế nói chung, quan hệ thương
mại nói riêng của quốc gia với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
- Tạo ra sự bảo thủ, trì trệ, ỷ lại của các nhà sản xuất kinh doanh vào Chính
Phủ, không tạo động lực cho nền sản xuất trong nước.
VIỆT NAM
2.1. Khái quát chung về thị trường tiêu thụ hàng dệt may EU
2.1.1. Quy mô thị trường tiêu thụ hàng dệt may EU
EU được xem là thị trường tiêu thụ hàng dệt may lớn trên thế giới, chiếm
50% tổng KNNK dệt may toàn cầu. Theo đánh giá, chi phí đầu người mua sắm
hàng may mặc ở EU rất cao, đặc biệt là ở các nước Bắc Âu, Anh, Pháp Tính đến
năm 2012, trong khối EU, Đức vẫn dẫn đầu về thị phần tiêu thụ hàng dệt may trong
khối với 18,5%, Ý chiếm 17,4%, Anh 16%, Pháp 12,7%, Tây Ban Nha 6,2%
Hàng may mặc được tiêu thụ ở EU chủ yếu thuộc 4 nhóm: hàng thiết kế cao cấp
chiếm gần 5%, hàng sản xuất theo xu hướng thời trang chiếm trên 30%, hàng xu
hướng theo mùa 45%, hàng giá rẻ, đáp ứng số đông chiếm 17%.
Trong giai đoạn 2005 – 2008, KNNK hàng dệt may của EU liên tục tăng, từ
67379 triệu EUR năm 2005 lên tới 79318 triệu EUR năm 2008 (tăng 17,7%) – Số
liệu Cơ quan Thống kê của Liên minh Châu Âu. Nguyên nhân là do chế độ hạn
ngạch dệt may toàn cầu đã được xóa bỏ từ ngày 1/1/2005, khiến các mặt hàng dệt
may từ các nước tràn về EU, đặc biệt là sự gia tăng mạnh của hàng dệt may Trung
Quốc vào EU.
Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, KNNK hàng dệt may của EU được
đánh giá là có sự suy giảm, mà nguyên nhân chính là do EU chịu tác động khá nặng
nề của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới khiến chi tiêu cho mua sắm nói chung
và cho hàng dệt may nói riêng của người dân EU có sự cắt giảm. Năm 2011, kim
ngạch nhập khẩu hàng dệt may của EU khoảng 260 tỷ USD, sang năm 2012 giảm
còn 240 tỷ USD, dự báo năm 2013 sẽ giảm còn 234 tỷ USD. Tuy nhiên, điều này
cũng không thể phủ định việc người dân EU luôn có nhu cầu cao đối với mặt hàng
dệt may.
11
11
2.1.2. Đối tác xuất khẩu hàng dệt may sang EU
Trong hơn 5 năm (kể từ năm 2005), đối với mặt hàng may mặc, Trung Quốc,
Thổ Nhĩ Kì, Ấn Độ và các nước ASEAN vẫn là những nhà cung cấp chính cho thị
dệt may của Việt Nam sang EU
Năm 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Giá trị tăng tuyệt đối kim ngạch
Xk hàng dệt may của Việt Nam
sang EU (triệu USD)
356 237 214 -53 269 650 -114
Tốc độ tăng kim ngạch XK hàng
dệt may của Việt Nam sang EU
( %)
39,7 18,9 14,4 -3,1 16,3 33,9 -4,4
Nguyên nhân là do Việt Nam gia nhập WTO năm 2005 (chính thức trở thành
thành viên thứ 150 vào tháng 11/2006) nên ngày càng mở cửa để hội nhập, kim
13
13
ngạch xuất khẩu nói chung và kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may nói riêng cũng
tăng lên hàng năm. Song trong tiến trình hội nhập thì các quy định hay các tiêu
chuẩn về hàng nhập khẩu của EU cũng ngày một khắt khe hơn. Như vậy với khả
năng thích nghi sản xuất và thay đổi theo yêu cầu của đối tác còn thấp như Việt
Nam thì tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu ngày càng giảm là điều dễ hiểu. Mặt khác,
năm 2008, EU sẽ bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho Trung Quốc. Điều này sẽ ảnh
hưởng đáng kể đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường này. Việt
Nam và các nước dệt may khác sẽ phải cạnh tranh gay gắt với ngành dệt may Trung
Quốc là nước có sức cạnh tranh cao, chủ động được nguyên phụ liệu và có khả năng
đáp ứng nhiều loại phẩm cấp hàng hoá.
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU tăng
trưởng âm ( kim ngạch giảm) từ 1704 triệu USD năm 2008 xuống 1651 triệu USD
năm 2009. Điều này là do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2008 đã
làm cho nền kinh tế các nước Châu Âu cũng như Việt Nam đứng trước những khó
khăn, làm cho nhu cầu tiêu dùng cũng như sức mua của người dân EU giảm, dẫn
đến giảm nhu cầu/ đơn hàng nhập khẩu, làm hạn chế khả năng sản xuất của Việt
định vị trí và tên tuổi tại các thị trường lớn như Đức, Pháp. Trong cơ cấu mặt hàng
xuất khẩu, có bốn chủng loại hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn là áo thun, áo jacket, áo
sơ mi các loại và quần may sẵn.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, trong năm 2008 các chủng loại mặt
hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh là: áo jacket, quần, áo sơ mi, áo thun, áo
khoác, quần short,… và giảm xuất khẩu ở một số mặt hàng như: áo len, đồ lót,
khăn, quần jacket…Xét về giá trị, mặt hàng quần là chủng loại mặt hàng có kim
ngạch xuất khẩu tăng cao nhất, tăng tới 81 triệu USD so với năm 2007, đạt 205 triệu
USD. Đứng thứ hai là mặt hàng áo jacket với mức tăng 63 triệu USD. Tuy nhiên xét
theo tổng kim ngạch xuất khẩu thì áo jacket là mặt hàng có kim ngạch xuất nhập
khẩu cao nhất, đạt 246 triệu USD.
Song cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU chưa
hợp lý. Trong các chủng loại hàng may mặc xuất khẩu sang EU, hầu hết các doanh
nghiệp may mới chỉ tập trung vào một số sản phẩm đơn giản hoặc các mặt hàng
15
15
nóng như áo jacket, áo sơ mi,…còn các mặt hàng có yêu cầu kỹ thuật phức tạp và
chất lượng cao như áo da, váy, vesting, comple, áo khoác,…các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam vẫn sản xuất ở tỷ lệ rất nhỏ. Nhìn chung, các mặt hàng dệt may của
Việt Nam sang EU còn ít về số lượng và chủng loại hàng cũng hạn chế. Điều này sẽ
gây khó khăn trong công tác bán hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng
dệt may trên thị trường EU.
2.2.3 Cơ cấu thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong EU
Biểu đồ 2: Tỷ trọng thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong
các nước EU năm 2009 (%)
Từ trước đến nay Đức vẫn là thị trường truyền thống số một của dệt may
Việt Nam trong các nước thành viên EU. Đức luôn dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may của Việt Nam. Bên cạnh đó, Pháp là bạn hàng lâu năm của Việt Nam,
vài năm trở lại đây thì mức nhập khẩu sụt giảm đáng kể, từ chỗ đứng thứ hai trong
các nước EU nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam thì đến năm 2009 đã tụt xuống
những lợi thế trong ngành công nghiệp dệt may Việt Nam, hàng dệt may Việt Nam
hoàn toàn có thể cạnh tranh với hàng hóa của Trung Quốc hay Thái Lan. Bên cạnh
đó, quy mô của ngành còn chưa thực sự tương xứng với những gì mà chúng ta có.
Hàng dệt may Việt Nam chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong kim ngạch nhập khẩu hàng dệt
may của EU. Đây là điều đáng tiếc của dệt may Việt Nam khi mà nhu cầu của EU
rất lớn nhưng hàng của Việt Nam chưa thể thâm nhập được nhiều.
Thứ hai, Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu sang EU chưa phong phú, chất
lượng chưa đồng đều.Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu sang EU những mặt hàng
chất lượng trung bình, phục vụ tầng lớp khách hàng trung lưu và thấp hơn. Chúng ta
còn thiếu nhà sáng tạo, thiết kế mẫu mã mang tính độc đáo, riêng biệt.
17
17
Thứ ba, Khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam tuy đã được nâng
cao hơn trước nhưng vẫn còn thấp
- Về chất lượng: Người tiêu dùng EU đánh giá hàng hóa qua hệ thống tiêu
chuẩn quốc tế như: ISO 9000, ISO 14000, SA 8000… Hiện nay ngành dệt may Việt
Nam chỉ có gần 100 doanh nghiệp đạt được chứng chỉ ISO 9000, khoảng 30 doanh
nghiệp có chứng chỉ SA8000, 10 doanh nghiệp có chứng chỉ ISO 14000. Đây là con
số quá khiêm tốn.
- Về thương hiệu sản phẩm: Việt Nam chưa có những thương hiệu nổi tiếng.
Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu mới làm gia công cho nhà nhập khẩu EU, hàng
làm xong rồi được xuất dưới các thương hiệu nổi tiếng khác.
- Về giá cả: Hàng dệt may Việt Nam vẫn còn có giá khá cao so với các đối
thủ cạnh tranh trên thị trường EU.
Thứ tư, Hình thức xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sang
thị trường EU còn quá đơn giản. Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang EU chủ
yếu qua 2 hình thức: xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu qua trung gian ( trong đó gia
công xuất khẩu và xuất khẩu qua trung gian chiếm 79% giá trị xuất khẩu). Các
doanh nghiệp chưa có sực liên kết hợp tác kinh doanh, do đó doanh nghiệp dệt may
Việt Nam chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường EU.
Vấn đề này không chỉ được quan tâm từ phía chính phủ mà còn được nhận thức
mạnh mẽ bởi người tiêu dùng đặc biệt là các quốc gia phía Bắc EU( Đức, Hà
Lan…). Do vậy các doanh nghiệp dệt may Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường
EU cần phải hiểu và thực hiện đúng các yêu cầu về hàng rào kỹ thuật.
Nói đến quy định REACH: quy định về “ đăng ký, đánh giá, cấp phép và
hạn chế sử dụng hóa chất” có hiệu lực từ ngày 1/6/2007. REACH yêu cầu phải đăng
kí chất trong sản phẩm trong trường hợp sau:
- Tổng lýợng của chất có trong mặt hàng výợt quá 1 tấn/nãm/nhà sản xuất hoặc nhà
nhập khẩu.
- Bất kỳ loại sản phẩm nào có chứa hóa chất trong nhóm nguy hại cao với nồng ðộ
0,1% trên tổng trọng lýợng thì các nhà cung cấp cần phải cho ngýời nhận sản phẩm
ðó ðầy ðủ thông tin, tối thiểu là tên hóa chất ðể họ có thể sử dụng sản phẩm một
cách an toàn.
Đối với tiêu chuẩn về chất lượng: EU dựa trên bộ tiêu chuẩn về chất lượng
theo tiêu chuẩn quốc tế ISO9000 đã đưa ra các tiêu chuẩn ISO14001, EMAS…để
các nhà sản xuất tuân thủ. Đối với bộ tiêu chuẩn EMAS chủ yếu được áp dụng cho
các công ty tại EU và được áp dụng rộng rãi ở Đức. Hệ thống EMAS đặt ra các yêu
19
19
cầu cao đối với các doanh nghiệp và tốn nhiều chi phí để đánh giá, chứng nhận, vì
vậy các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nên áp dụng chấn nhận ISO14001.
Về sản xuất và xử lý nguyên liệu : các nguyên liệu chính sử dụng trong sản
xuất các sản phẩm may mặc thông thường là bông và sợi nhân tạo, vì vậy mà trong
quá trình sản xuất nhiều chất độc hại được thải ra. Đặc biệt là trong quá trình trồng
trọt nguyên liệu và sản xuất vải. Trong quá trình chế biến hoàn thiện vải sau khi đi
qua nhiều công đoạn xử lý khác nhau sẽ thải ra một lượng lớn các chất độc hại như
oxygen, chất biocide, nhiều chất độc không thể hủy bằng phương pháp vi khuẩn
cũng như có thể tìm thấy trong quá trình giặt tẩy chính là nguyên nhân gây lên các
vấn đề môi trường.
Công đoạn in và nhuộm: theo quy định của EU tỷ lệ phần trăm không cố
Việc ghi nhãn tự nguyện ðýợc sử dụng ở nhiều quốc gia EU. Ghi nhãn tự nguyện sử
dụng 5 loại biểu týợng là mã màu, các biểu týợng liên quan ðến tính bền vững của
màu sắc, ổn ðịnh về kích cỡ, ảnh hýởng của cloren trong chất tẩy, nhiệt ðộ ủi an
toàn nhất và một vài ðặc tính khác.
Ngoài ra EU cũng khuyến khích gắn nhãn sinh thái, hiện có 4 nhãn quan
trọng đang được áp dụng đó là EU Ecolabel, OkO-Tex, SKAL EKO và nhãn SG:
+ Nhãn EU Ecolabel: được áp dụng cho ga trải giường, áo thu, áo thun dệt
kim, áo thun trơn, áo cổ tròn, áo tay ngắn hoặc tay dài, được thiết kế để mặc ngoài
trời….
+ Nhãn OKO-Tex: không kiểm tra toàn bộ quá trình xử lý sản phẩm mà chỉ
tập trung vào sản phẩm cuối cùng, được sử dụng phổ biến ở Đức.
+ Nhãn SKAL EKO : được SKAL (SKAL là một cơ quan kiểm định quốc tế
độc lập đối với các phương pháp sản xuất hữu cơ và cơ quan này sở hữu dấu xác
nhận nhận đăng ký chính thức EKO. SKAL được Chính phủ Hà Lan và Đức ủy
quyền theo quy định ECC 2092/91) giám định tập trung vào dây truyền sản xuất và
kiểm tra nhằm xác minh xem gia đoạn nào được cho phép và giai đoạn nào không
cho phép. Những tiêu chuẩn mà hệ thống cho phép xử lý ở công đoạn hoàn thiện là:
xử lý không co, phủ láng mặt ngoài, tạo độ bền, thấm nước hoặc không thấm
nước…
+ Nhãn SG: quy định giới hạn cho phép đối với các chất nguy hiểm
formaldehyde, pentachlorophenol, chlorified phenols…
21
21
2.3.1.3. Các điều kiện lao động
Bên cạnh các nhãn hiệu sinh thái trên sản phẩm, EU cũng thực hiện những
chương trình với nội dung cải thiện các điều kiện lao động trong ngành công nghiệp
dệt may. Các chiến dịch, quy tắc được xây dựng như “chiến dịch quần áo sạch”, quy
tắc đạo đức điển hình là quy tắc thương mại công bằng cho ngành may mặc trong
đó xem xét vấn đề về:
- Thanh toán lương thực.
2.3.3. Xu hướng tiêu dùng hàng dệt may tại thị trường EU
Thị trường EU là nơi tập hợp của các nước có nền kinh tế phát triển nhất trên
thế giới. Hiện nay, EU gồm 27 nước thành viên với trên 500 triệu dân, cho nên nhu
cầu về hàng hóa là rất đa dạng, đặc biệt là hàng dệt may – mặt hàng có tính chất
mùa vụ và thời trang. Thị trường EU chỉ thống nhất về mặt kỹ thuật, còn trong thực
tế là nhóm thị trường quốc gia và khu vực, mỗi nước có một bản sắc và đặc trưng
riêng, do vậy nhu cầu tiêu dùng hàng dệt may của họ cũng khác nhau.
Về tập quán tiêu dùng, đa phần các nước trong khối EU đều nằm ở khu vực
Tây và Bắc Âu, trình độ phát triển kinh tế của những nước này khá đồng đều nên
người dân EU có một số điểm chung về sở thích thói quen tiêu dùng. Đối với mặt
hàng dệt may, khách hàng EU rất quan tâm đến chất lượng và thời trang (do đó yếu
tố này có khi lại quan trọng hơn yếu tố về giá cả).
+ Về chất lượng: do mức sống của người dân trong cộng đồng EU tương đối
đồng đều và ở mức cao nên tiêu dùng của họ rất cao cấp, yêu cầu khắt khe về chất
lượng và độ an toàn. Người dân EU đòi hỏi sản phẩm dệt may phải an toàn cho
người sử dụng không gây dị ứng, tạo cảm giác khó chịu cho người mặc không có
một số hoá chất mà hiệp hội dệt may Châu Âu cấm sử dụng. Thị trường Châu Âu
còn sử dụng những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng rất khắt khe như: tiêu chuẩn ISO
9000 và ISO 14000.
Bên cạnh đó, người tiêu dùng EU cũng không thích sử dụng những sản phẩm
có giá thành hạ mà trong quá trình sản xuất làm xâm hại đến môi trường, sử dụng
lao động trẻ em, hoặc làm ra từ việc bóc lột công sức người lao động. Vì thế để
được lòng thị trường, các nhà thu mua ở EU đã đưa thêm các tiêu chí trên vào điều
23
23
kiện đơn hàng. Thống kê mới đây cho thấy, 77% người tiêu dùng EU quan tâm đến
điều kiện môi trường, 72% chú trọng đến các dịch vụ liên quan sản phẩm và 51%
chú ý đến chất lượng.
+ Về tính thời trang: EU là nơi hội tụ của những kinh đô thời trang thế giới
nên họ đòi hỏi khắt khe về kiểu dáng và mẫu mốt. Sản phẩm dệt may tiêu thụ ở thị
sản phẩm mới.
(3) ISO 9003:1987 mô hình đảm bảo chất lượng trong kiểm tra cuối cùng và
thử nghiệm được bảo hiểm chỉ kiểm tra cuối cùng của sản phẩm hoàn thành, không
quan tâm đến cách thức sản phẩm được sản xuất.
Hiện nay, vẫn còn tồn tại tình trạng một số DN đặt ra mục tiêu chính là có
chứng chỉ, không coi trọng xây dựng hệ thống quản lý dẫn đến không thực sự nâng
25
25