Chính sách kinh tế đối ngoại 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI II
Đề tài :
Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Lớp
Khóa
:
:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI CỦA
HOA KỲ VÀO VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
Hà Nội, 10/2013
Nhóm 10 – KTQT52A Page 1
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhóm 10 – KTQT52A Page 2
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
Trong xu thế toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển
mạnh mẽ, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đóng một vai trò quan trọng trong sự phát
triển của mỗi quốc gia nói chung, nhất là những quốc gia đang phát triển như Việt
Nam nói riêng. Bởi hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang đến cho quốc gia tiếp
nhận một nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế, điều mà tất cả các quốc gia đang phát
triển hiện đang thiếu. Quốc gia nào thu hút được nhiều và sử dụng có hiệu quả nguồn
khảo, bài nghiên cứu được kết cấu thành 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam
Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam
đến năm 2020
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI
Nhóm 10 – KTQT52A Page 4
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
1.1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm, tác động của FDI
1.1.1. Khái niệm và bản chất của FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là hoạt động di chuyển vốn giữa các quốc gia,
trong đó nhà đầu tư nước này mang vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào khác sang
nước khác để tiến hành hoạt động đầu tư và trực tiếp nắm quyền quản lý cơ sở kinh
doanh tại nước đó.
Bản chất của FDI: FDI là một loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để
xây dựng hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trở
thành chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý điều hành hoặc
tham gia quản lý điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Đồng thời, họ
cũng chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả sản xuất kinh doanh của dự án.
Nguồn vốn FDI được thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn tư nhân, vốn của các
công ty nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao hơn thông qua việc triển khai hoạt
động sản xuất ở nước ngoài.
1.1.2. Đặc điểm của FDI
Mức vốn đầu tư trực tiếp: Tỷ lệ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn
pháp định của dự án phải đạt mức độ tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước quy
định. Ví dụ, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 quy định chủ đầu tư nước
ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án, ở Hoa Kỳ quy định 10% và
một số nước khác quy định là 20%.
Mức độ tham gia quản lý vốn: Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia
đi đầu tư các công nghệ lạc hậu hoặc không phù hợp với nền kinh tế trong nước, dễ bị
Nhóm 10 – KTQT52A Page 6
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
thua thiệt do giá chuyển nhượng nội bộ từ các công ty quốc tế gây ra (công ty đa quốc
gia, xuyên quốc gia) dẫn đến.
Các lĩnh vực và địa bàn được đầu tư phụ thuộc vào sự lựa chọn của các nhà đầu
tư nước ngoài, nhiều khi không theo ý muốn của nước tiếp nhận. Điều đó gây khó
khăn cho nước tiếp nhận trong việc chủ động bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành và vùng
lãnh thổ.
Giảm số lượng doanh nghiệp trong nước, ảnh hưởng tới cán cân thanh toán của
nước tiếp nhận.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
1.2.1. Các yếu tố thuộc về môi trường nước nhận đầu tư
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Một quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi cho
việc giao lưu, vận chuyển…là một yếu tố mang tính chất lợi thế để thu hút FDI. Cũng
như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của nước tiếp nhận đầu tư cũng là một yếu tố thu
hút FDI. Điều kiện tự nhiên có thể là điều kiện về khoáng sản, đất, rừng, nước, khí
hậu hay không gian của nước nhận đầu tư. Nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến
yếu tố đầu vào mà còn quyết định tính chất đầu ra.
Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội: Các nhà đầu tư thường coi yếu tố
chính trị là yếu tố hàng đầu để xem xét có nên đầu tư vào một quốc gia nào đó hay
không. Sự ổn định về môi trường kinh tế - chính trị - xã hội là một điều kiện tất yếu
để phát triển kinh tế, từ đó thu hút đầu tư trong và ngoài nước để phát triển. Nền kinh
tế càng ổn định thì sự an toàn và sinh lợi của đồng vốn đi đầu tư càng được đảm bảo.
Luật pháp và cơ chế chính sách: Hệ thống luật pháp bao gồm các văn bản
luật, các quy định, các văn bản quản lý hoạt động đầu tư…phản ánh một cách rõ ràng
môi trường đầu tư của nước sở tại. Điều mà nhà đầu tư quan tâm chủ yếu là liệu có sự
đảm bảo về pháp luật đối với các tài sản tư nhân và môi trường cạnh tranh có lành
mạnh hay không? Các quy định về thuế, các mức thuế và quy định về phân chia lợi
nhuận như thế nào. Hệ thống luật pháp cũng có thể tạo thuận lợi cũng có thể làm hạn
trao đổi về tài chính, tiền tệ có thể tiến hành liên tục bất kể thời gian và không gian.
Bên cạnh tính quốc tế hóa cao nền kinh tế thế giới là sự hình thành các liên kết kinh tế
khu vực. Đây là một trong những sản phẩm của quá trình liên kết kinh tế toàn cầu.
Cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ: Thể kỉ 20 là thể kỉ của
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, nhất là giai đoạn sau đã khiến cho
khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra bước ngoặt trong sự phát triển
của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả của nền sản xuất xã
hội, đồng thời tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống, khiến cho phân công lao
động ngày càng mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, quan hệ sản xuất ngày càng tiến bộ.
Xu hướng tăng cường vai trò của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc
gia: Hiện nay, phần lớn lượng FDI nằm trong tay các MNCs. Tận dụng nguồn lực đầu
vào phong phú với chi phí thấp, một thị trường sẵn có nhiều tiềm năng của các nước
đang phát triển đang và sẽ là những địa điểm hấp dẫn các MNCs trong mạng lưới toàn
cầu của mình.
1.3. Xu hướng cơ bản trong hoạt động FDI trên thế giới hiện nay
Hiện nay, FDI trên thế giới đang diễn ra theo xu hướng khác với trước đây.
Điều này được thể hiện ở những mặt sau:
- FDI vẫn vận động chủ yếu trong nội bộ các nước phát triển với nhau.
Hầu hết dòng vốn FDI chủ yếu chảy trong khối OECD là khu vực tương đối
nhiều vốn của thế giới. Ngày nay, 80% tổng số vốn FDI hướng vào các nước có nền
kinh tế phát triển. Chẳng hạn, Mỹ đã trở thành quốc gia nhập khẩu vốn lớn nhất thế
giới và cũng trở thành con nợ lớn nhất thế giới.Tính hết tháng 12/2009, tổng nợ nước
Nhóm 10 – KTQT52A Page 9
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
ngoài của Mỹ đã lên đến 3689 tỷ USD (số liệu trên website www.forbes.com ngày
12/03/2010- Nguồn Bộ Tài chính Hoa Kỳ)
- Dòng FDI chảy nhiều nhất trong nội bộ khu vực, do những ưu thế về khoảng
cách địa lý và các điều kiện tương đồng, đặc biệt là các nước Đông Á. Các nước NICs
là chủ đầu tư lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Hiện nay, đại bộ phận vốn đầu tư
ra nước ngoài của các nước NICs Châu Á tập trung vào các nước láng giềng thuộc khu
chế biến và chế tạo sang các ngành dịch vụ có hàm hàm lượng vốn và công nghệ cao
như viễn thông, giao thông, ngân hàng…vì đó là những khu vực mới phát triển và có
khả năng thu lợi nhuận cao.
1.4. Tầm quan trọng của tăng cường thu hút FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam
FDI nói chung và FDI từ Hoa Kỳ nói riêng là những nguồn vốn đóng vai trò
quan trọng trong toàn cục diện nền kinh tế Việt Nam. FDI giúp cải thiện cơ sở hạ tầng,
tạo thêm việc làm và gia tăng thu nhập cho người lao động, gia tăng xuất khẩu, cải
thiện tình trạng cán cân thương mại, giúp những lợi thế của Việt Nam được khai thác
có hiệu quả hơn.
FDI từ Hoa Kỳ là một nguồn vốn đầy triển vọng trong tương lại cho sự phát
triển nền kinh tế Việt Nam. Nguồn FDI từ Hoa Kỳ chủ yếu đến từ các công ty đa quốc
gia và xuyên quốc gia MNCs. Đây là những tổ chức kinh tế có tiềm lực vốn lớn, sở
hữu công nghệ nguồn và những thương hiệu mạnh, trình độ quản lý tiên tiến. Khi các
MNCs đầu tư vào Việt Nam, họ đồng thời cũng mang đến Việt Nam những công nghệ
hiện đại mà Việt Nam đang mong muốn cùng đội ngũ quản lý trình độ cao. Điều này
giúp Việt Nam cải thiện trình độ nguồn nhân lực và từng bước tiến gần hơn đến những
công nghệ tiên tiến của thế giới.
Nhóm 10 – KTQT52A Page 11
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI CỦA HOA KỲ
VÀO VIỆT NAM
2.1. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và các chính sách thu hút FDI của Việt
Nam
2.1.1. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ được manh nha ngay từ cuối thế kỷ XIX khi vua
Tự Đức cử một đại sứ đặc mệnh toàn quyền sang Hoa Kỳ để cầu viện chống Pháp. Tuy
nhiên, mối quan hệ này đã chuyển sang thế đối đầu suốt nhiều năm dài trong thế kỷ
tiếp theo với sự kiện Hoa Kỳ phát động cuộc chiến tại Việt Nam. Ngay sau khi cuộc
chiến này kết thúc năm 1975, Hoa Kỳ đã áp dụng lệnh cấm vận với Việt Nam. Suốt
những năm sau chiến tranh, lệnh cấm vận được thực thi nghiêm ngặt: không có bất kỳ
về thăm quê, gửi ngoại hối, đầu tư hay xúc tiến các quan hệ kinh tế - thương mại ở
Việt Nam cũng ngày càng tăng. Việt Nam hiện có hơn 13.000 sinh viên, thực tập sinh
đang theo học tại Hoa Kỳ, tăng gấp 6 lần trong thập kỷ qua, đứng thứ 9 trong số các
nước có nhiều sinh viên theo học nhất tại Hoa Kỳ và dẫn đầu trong ASEAN.
Mối quan hệ chính trị ổn định cùng sự hợp tác tích cực trong các lĩnh vực xã
hội đã tạo môi trường thuận lợi để phát triển về hợp tác đầu tư giữa hai quốc gia.
2.1.1.2 Về kinh tế
Đây là lĩnh vực thành công nhất trong quan hệ Việt - Mỹ. Điều này nằm trong
chủ trương, chính sách của Việt Nam khi bắt đầu xúc tiến các quan hệ với Mỹ là lấy
nội dung hợp tác kinh tế - thương mại làm trọng điểm, trọng tâm của các mối quan hệ
Việt - Mỹ. Trên thực tế từ sau khi bình thường hoá quan hệ, các quan hệ kinh tế -
thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Mỹ bắt đầu phát triển khá nhanh. Hai nước đã ký
kết nhiều Hiệp định, Thoả thuận về kinh tế như Hiệp định Thương mại song phương
Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA-ký ngày 13/7/2000, có hiệu lực ngày 10/12/2001), Hiệp
định Dệt – may (có hiệu lực từ 1/5/2003),…
Nhóm 10 – KTQT52A Page 13
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
Trên thực tế từ sau khi BTA có hiệu lực, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên lĩnh
vực này tiến rất nhanh và nhanh hơn so với các quan hệ kinh tế song phương với các
nước khác của Việt Nam. Về thương mại, kể từ sau hiệp định này có hiệu lực, Hoa Kỳ
nhanh chóng trở thành đối tác thương mại hàng đầu và là thị trường xuất khẩu lớn nhất
của Việt Nam. Năm 2012, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia đã đạt hơn
24,494 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất siêu hơn 19,667 tỷ USD. Đầu tư cũng đạt
được nhiều thành tựu đáng kể với số lượng các dự án đầu tư FDI của Hoa Kỳ vào Việt
Nam không ngừng tăng qua các năm.
Hiện nay, Việt Nam và Hoa Kỳ tiếp tục thúc đẩy mở rộng khuôn khổ hợp tác về
kinh tế tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng hơn cho doanh nghiệp hai nước giao
thương và đầu tư, thông qua Hiệp định đầu tư song phương (BIT), củng cố hợp tác
trong khuôn khổ Thỏa thuận khu về thương mại và đầu tư (TIFA), đàm phán lập khu
vực mậu dịch tự do thông qua Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình
tối đa (nhưng một số ngành nghề thì có). Trong khi đó ở nhiều nước khác trong khu
vực, khi tham gia liên doanh, chủ đầu tư nước ngoài chỉ được góp vốn cổ phần nhỏ
hơn hoặc bằng 49%, 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ.
• Về thời hạn đầu tư, thời hạn hoạt động của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không
quá 20 năm nhưngchưa quy định thời hạn cho hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
• Về chính sách đất đai, có nhiều văn bản pháp lý liên quan đến Luật đầu tư nước ngoài
như: nghị định 18/CP ngày 13/02/1995, quyết định số 1477/TC/TCĐN ngày
13/12/1994 của Bộ Tài Chính… Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập trong đền bù và giải
tỏa kéo dài.
• Về thủ tục cấp phép đầu tư,giới hạn thời gian tối đa là 3 tháng thì cơ quan cấp phép
đầu tư phải trả lời nhà đầu tư việc việc cấp giấy phép đầu tư.
Ngoài ra còn một số chính sách liên quan đến lĩnh vực được phép đầu tư, những
biện pháp bảo đảm đầu tư, ngân hàng và quản lý ngoại hối, quy định về lao động
Tuy vậy nhìn chung, chính sách thu hút FDI trong giai đoạn này còn một số bất
cập:
Nhóm 10 – KTQT52A Page 15
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
• Chính sách liên quan tới FDI thường xuyên thay đổi và không rõ ràng làm ảnh hưởng
tới kế hoạch kinh doanh và gây thiệt hại cho các nhà đầu tư; thiếu những văn bản pháp
lý tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư; nhiều quy chế chưa được thể chế hoá bằng
luật hoặc chậm sửa đổi. Bên cạnh đó, việc tồn tại hai giá đối với các dịch vụ cũng là
điều bất hợp lý và thiếu bình đẳng giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp
trong nước
• Các thủ tục hành chính rườm rà theo hướng "trên lỏng, dưới chặt" việc phân quyền
quản lý hoạt động của các dự án FDI sau giấy phép tiến hành chậm, không rõ ràng,
gây không ít khó khăn cho các nhà đầu tư. Quá trình cải cách thủ tục hành chính chưa
có chuyển biến rõ rệt. Lấy ngành sản xuất dược phẩm làm ví dụ: nếu là doanh nghiệp
trong nước, khi nhập khẩu nguyên liệu, bao bì hoặc xuất khẩu sản phẩm chỉ cần xin
phép Bộ Y tế, trong khi đối với doanh nghiệp FDI, ngoài giấy phép của Bộ Y tế, còn
phải được Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) phê duyệt rồi mới được triển khai.
pháp luật đầu tư cũng quy định đơn giản hơn nhiều và trách nhiệm thẩm tra của các
bộ, ngành liên quan đến dự án đầu tư cũng được quy định cụ thể hơn so với trước đây;
điều đó tạo thuận lợi cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý trong việc xem xét
cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
Bên cạnh đó, nhiều chính sách để hỗ trợ đầu tư cũng được triển khai như chính
sách về hỗ trợ chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đào tạo, hỗ trợ đầu tư phát triển và dịch
vụ đầu tư, hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao. Các chính sách về ưu đãi đầu tư cũng được cải thiện để
tạo điều kiện thuận lợi hơn trong thu hút vốn FDI.
Nhóm 10 – KTQT52A Page 17
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
2.2. Tình hình thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam từ 1987 đến nay
Kể từ khi Việt Nam - Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, FDI từ Hoa
Kỳ vào Việt Nam đã góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, tuy nhiên chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của hai nước. Để làm rõ
vấn đề này chúng ta cần đi vào thực trạng của các hoạt động đầu tư trực tiếp của Hoa
Kỳ tại Việt Nam trong thời gian qua từ đó có thể đưa ra một số khuyến nghị về chính
sách nhằm tăng cường thu hút vốn FDI gắn với công nghệ nguồn, công nghệ cao từ
Hoa Kỳ trong thời gian tới.
2.2.1. Quy mô FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam
2.2.1.1. Giai đoạn 1987- 2006
Theo những báo cáo của Hoa Kỳ thì lượng vốn FDI vào Việt Nam trong thời
gian này tương đối thấp, mặc dù các công ty của Hoa Kỳ đầu tư hoạt động trong khá
nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó, số liệu báo cáo còn cho thấy chỉ
có một sự gia tăng nhỏ trong FDI từ Hoa Kỳ sau BTA mặc dù trước khi ký kết hiệp
định song phương cả hai bên Việt Nam, Hoa Kỳ đều dự kiến sẽ có một tác động đáng
kể đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam .
Để giải thích cho điều này Cục đầu tư nước ngoài (FIA), Bộ kế hoạch và đầu tư
Hoa Kỳ đã điều tra và nghiên cứu cụ thể hơn về các công ty, doanh nghiệp đầu tư tại
Việt Nam. Lý do dẫn đến sự sai lệch về lượng FDI sau đó đã được giải thích do một số
Vốn ĐK
sau khi cấp
mới
1988-98 142 1807 2425 97 1141 1322
1999 21 143 139 18 100 96
2000 21 115 120 16 81 86
2001 29 160 216 28 120 151
2002 45 426 612 40 164 217
2003 33 72 104 27 58 90
2004 35 129 138 31 69 78
2005 66 307 307 61 262 263
1 -6/2006 26 1051 1051 24 41 444
(Nguồn Bộ kế hoạch đầu tư - Cục đầu tư nước ngoài Hoa Kỳ
Biểu đồ 2.1:Số liệu FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam phân theo số liệu báo cáo và
tính cả lượng FDI thông qua nước thứ 3 giai đoạn 1988-T6/2006
Nhóm 10 – KTQT52A Page 19
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
(Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư – Cục đầu tư nước ngoài Hoa Kỳ)
Từ Bảng 2.1 và Biểu đồ 2.1có thể thấy, lượng FDI từ Hoa Kỳ tính cả từ một
nước thứ ba và không qua nước thứ ba có chiều hướng biến động tăng giảm không đều
trong toàn giai đoạn nghiên cứu. Hiện tượng này cũng xảy ra đối với số lượng dự án
tính cả thông qua một nước thứ ba và không thông qua một nước thứ ba. Lượng FDI
của Hoa Kỳ (tính cả thông qua nước thứ 3) lớn hơn nhiều so với số liệu báo cáo FDI
thông thường trong khoảng thời gian khi BTA có hiệu lực vào năm 2001 và giai đoạn
2005-2006. Xu hướng này rõ ràng cho thấy hiệp định đã có tác động tích cực đối với
FDI của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Dòng chảy trung bình hàng năm của FDI từ khi BTA có
hiệu lực gần như cao gấp đôi so với trước khi có BTA. Trong sáu tháng đầu năm 2006,
riêng lượng đầu tư của Intel đã chiếm tới 42% tổng lượng FDI của Hoa Kỳ vào Việt
Nam. Không phải sự gia tăng mạnh mẽ của quy mô nguồn FDI từ Hoa Kỳ vào Việt
Nam đều nhờ có BTA, nhưng rõ ràng lượng vốnFDI đăng ký của Hoa Kỳ (tính cả
ký kết hiệp định BTA.
2.2.1.2. Từ năm 2007 đến nay
Kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào ngày 11/1/2007 đến nay, môi
trường đầu tư của Việt Nam đã được cải thiện một cách đáng kể thông qua việc thực
hiện, tuân thủ nghiêm túc các quy định được đề ra của tổ chức, đồng thời cải tổ bộ máy
luật pháp và ban hành các chính sách đầu tư hợp lý. Nhìn chung việc gia nhập WTO đã
Nhóm 10 – KTQT52A Page 22
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
giúp Việt Nam thu hút một lượng vốn FDI vô cùng lớn từ các quốc gia trên thế giới. Về
tổng thể, lượng vốn FDI chảy vào Việt Nam đạt 12 tỷ USD trong 2006 khi còn đang
trong quá trình đàm phán thì đến 2007 đã lên tới 21 tỷ USD, 2008 đạt kỷ lục 72 tỷ
USD…. Trong đó chúng ta không thể không kể đến sự đóng góp quan trọng của nền
kinh tế lớn Hoa Kỳ.
Biểu đồ 2.4: FDI Hoa Kỳ vào Việt Nam giai đoạn 2007-2012
(Nguồn: Bộ kế hoạch & đầu tư – Cục đầu tư nước ngoài Việt Nam)
Từ Biểu đồ 2.4 có thể thấy, cả lượng vốn đăng kí, vốn điều lệ và số dự án FDI từ
Hoa Kỳ vào Việt Nam nhìn chung có sự gia tăng trong toàn giai đoạn 2007 – 2012.
Tính đến 31/12/2011, cả nước có 601 dự án FDI của Hoa Kỳ còn hiệu lực, với tổng số
vốn đăng ký đạt hơn11,6tỷ USD.Dòng vốn FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam không ổn
định qua các năm. Từ năm 2006 đến nay, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành
viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tác động mạnh mẽ tới môi
trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam theo hướng mở cửa, hội nhập với kinh tế thế
giới, dòng vốn FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam tiếp tục gia tăng. Tuy vậy, dòng vốn FDI
chịu tác động mạnh mẽ bởi khủng khoảng tài chính năm 2008, khủng khoảng nợ công
Châu Âu vào đầu năm 2010, làm cho nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, vốn FDI
Nhóm 10 – KTQT52A Page 23
Chính sách kinh tế đối ngoại 2
đã sụt giảm mạnh, tổng số vốn đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam năm 2010 đạt giá trị
1,96 tỷ USD. Đặc biệt, tổng số vốn đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam năm 2011 thấp kỷ
lục trong vòng gần 10 năm trở lại đây, chỉ đạt giá trị 253,99 triệu USD.
2013. Điều đáng lo ngại ở đây là khi nghiên cứu về cơ cấu đầu tư FDI của Hoa Kỳ sẽ
cho thấy những ngành đầu tư của Hoa Kỳ ở Việt Nam hầu hết tập trung vào các dịch vụ
ăn uống, khách sạn và các lĩnh vực khác thay vì đi cùng với mục tiêu thu hút công nghệ
nguồn, hoàn thiện và phát triển các ngành công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ như
Nhà nước và các cơ quan ban ngành đã đề ra khi thực hiện thu hút FDI. Với sự kiện
cuộc họp kinh tế cấp cao giữa Nhật Bản và Việt Nam trong thời gian gần đây và việc
Việt Nam thúc giục phía các doanh nghiệp FDI Nhật Bản chuyển giao công nghệ
nguồn thì rõ ràng FDI của Hoa Kỳ chỉ là một trong những trường hợp tương tự trong
việc đầu tư tại Việt Nam không đem lại lợi ích như các nhà kinh tế trong nước mong
muốn.
Nhóm 10 – KTQT52A Page 25