thực trạng và giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vĩnh phúc - Pdf 10

Mở đầu
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu.
Để thúc đẩy tăng trởng kinh tế, tạo ra nhiều hàng hoá và dịch vụ, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc. Điều kiện cần thiết và quan trọng nhất là phải thu hút đợc các nguồn vốn
đầu t trong nớc cũng nh của nớc ngoài. Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay, Đảng ta xác định vốn trong nớc là quyết định nhng vốn đầu t nớc ngoài
cũng có vai trò hết sức quan trọng. Hơn nữa ngoài ý nghĩa về vốn, thì đầu t
trực tiếp nớc ngoài còn giúp cho chúng ta tiếp thu các công nghệ hiện đại và
những kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nớc phát triển.
Vĩnh Phúc là một tỉnh Trung du miền núi, điều kiện kinh tế xã hội còn
khó khăn, nguồn vốn đầu t cho phát triển kinh tế còn hạn hẹp, có thể nói là
thiếu vốn trầm trọng. ở các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh thiết
bị và công nghệ đều lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh
doanh thấp. Do vậy việc thu hút vốn đầu t nói chung, vốn đầu t nớc ngoài nói
riêng là vấn đề cấp thiết đối với tỉnh.
Kể từ khi có Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam (1987) đến nay, việc
thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc đã thu đợc những kết
quả khả quan. Đầu t trực tiếp nớc ngoài bớc đầu đã góp phần vào phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh, làm thay đổi hẳn cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên kết quả
đạt đợc còn rất hạn chế, cha tơng xứng với tiềm năng và thế mạnh của Tỉnh.
Đã đến lúc cần phải xem xét lại toàn bộ thực trạng đầu t trực tiếp nớc ngoài tại
Vĩnh Phúc, tìm ra các nguyên nhân yếu kém, trên cơ sở đó đa ra các giải pháp
phù hợp nhằm thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn quan trọng này.
Từ trớc đến nay cha có một đề tài nào đề cập một cách toàn diện về
công tác đầu t trực tiếp nớc ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc. Trong bối cảnh đó việc
nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và giải pháp tăng cờng thu hút đầu t trực
tiếp nớc ngoài ở Vĩnh Phúc", hy vọng sẽ góp phần nhất định vào việc giải
1
quyết những vấn đề cơ bản và cấp bách đặt ra trong việc thu hút vốn đầu t trực
tiếp nớc ngoài vào tỉnh Vĩnh Phúc.

- Trên cơ sở kinh nghiệm của một số địa phơng trong thu hút FDI rút ra
những bài học cho thu hút FDI ở tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đa ra một số nguyên tắc cơ bản trong thu hút FDI vào địa phơng, và
vận dụng vào thực trạng thu hút FDI ở Vĩnh Phúc từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm tăng cờng thu hút FDI vào tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn đợc kết cấu thành 3 ch-
ơng nh sau:
Chơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thu hút FDI
Chơng 2: Thực trạng thu hút FDI ở Vĩnh Phúc
Chơng 3: Một số giải pháp nhằm tăng cờng thu hút FDI vào tỉnh
Vĩnh Phúc
3
Chơng 1
Một số vấn đề lý luận cơ bản về thu hút FDI
1.1. Khái niệm và các hình thức của FDI
1.1.1. Khái niệm
Đầu t quốc tế hay còn gọi là đầu t nớc ngoài, là một quá trình kinh
doanh trong đó vốn đầu t đợc di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác
với mục đích sinh lời. Trong đầu t quốc tế thờng có 2 hoặc nhiều bên có quốc
tịch khác nhau cùng phối hợp với nhau, để triển khai một dự án đầu t nhằm
đem lại lợi ích cho tất cả các bên. Lợi ích do hoạt động đầu t quốc tế mang lại
thờng là lợi ích kinh tế, đồng thời có cả lợi ích chính trị, lợi ích văn hoá - xã
hội, lợi ích về bảo vệ môi trờng sinh thái. Đó là những lợi ích mà các nhà đầu
t nói riêng và các nớc đầu t trên thế giới nói chung đều hết sức quan tâm. Do
vậy ngày nay hoạt động đầu t quốc tế hình thành và phát triển với quy mô
ngày càng lớn.
Đầu t quốc tế có thể đợc thực hiện dới nhiều hình thức cụ thể khác
nhau. Trong đó ngời ta có thể phân loại nó theo nguồn vốn là đầu t của t nhân
(kể cả các doanh nghiệp), đầu t của Chính phủ và các tổ chức quốc tế hoặc có

tiếp nhận đầu t để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh theo kế hoạch của
dự án đầu t.
Nói chung FDI là một hoạt động quan trọng trong đầu t quốc tế, nó
ngày càng trở nên hết sức sôi động với quy mô ngày càng gia tăng. Đồng thời
trên thế giới cũng đang diễn ra những sự thay đổi lớn cả về lĩnh vực đầu t, về
chủ đầu t, về nơi tiếp nhận đầu t cũng nh nhiều hình thức đầu t trực tiếp
mới v.v. Để tìm hiểu sâu hơn về FDI chúng ta cần nghiên cứu về các hình
thức cơ bản của FDI.
5
1.1.2. Các hình thức của FDI
Trên thế giới có nhiều hình thức tổ chức FDI khác nhau nhng những
hình thức đợc áp dụng phổ biến là:
+ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hay còn gọi là hợp đồng hợp
tác kinh doanh
+ Doanh nghiệp liên doanh
+ Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
Tuỳ vào từng điều kiện cụ thể và tuỳ vào từng quốc gia khác nhau mà
các hình thức trên đây đợc áp dụng khác nhau
* Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là hình thức đầu t mà trong đó 2 hay nhiều bên tham gia hợp đồng
ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh
ở nớc nhận đầu t trên cơ sở quy định rõ đối tợng, nội dung kinh doanh, nghĩa
vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho từng bên tham gia.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh có đặc trng là không thành lập một pháp
nhân mới. Thời hạn hiệu lực của hợp đồng do các bên thoả thuận và đợc cơ
quan có thẩm quyền của các nhà đầu t chuẩn y. Tuy nhiên hợp đồng hợp tác
kinh doanh thờng có thời hạn không dài và nó không đòi hỏi vốn lớn nên
những nhà đầu t ít tiềm năng hay chọn hình thức này.
* Doanh nghiệp liên doanh
Đây là hình thức đầu t trong đó hai bên cùng nhau thoả thuận góp vốn

vốn là do bên nớc ngoài bỏ ra nhng bên nhận đầu t chịu trách nhiệm cung cấp
cho bên nớc ngoài các dịch vụ cần thiết nh điện, nớc và cho thuê đất đai, cho
thuê sức lao động Doanh nghiệp này thuộc sở hữu của nhà đầu t nớc ngoài
(có thể là tổ chức hoặc cá nhân ngời nớc ngoài) đợc thành lập dới hình thức
công ty TNHH, có t cách pháp nhân theo luật pháp của nớc chủ nhà. Loại hình
doanh nghiệp này do một hay nhiều tổ chức hoặc cá nhân ngời nớc ngoài
7
thành lập tại nớc chủ nhà, họ tự đứng ra quản lý, tổ chức điều hành sản xuất
kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh cuối cùng.
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài ngày càng đợc các chủ
đầu t lựa chọn nhiều hơn vì họ đợc tự mình quản lý, điều hành và hởng lợi
nhuận do kết quả đầu t mang lại sau khi đã làm tròn nghĩa vụ nộp thuế với nớc
chủ nhà. Đối với nớc chủ nhà, nhất là những nớc đang phát triển do trình độ và
kinh nghiệm quản lý còn hạn chế, nguồn vốn có hạn trong khi đó rất cần
những dự án có số vốn đầu t lớn, thời hạn thu hồi vốn dài mức độ mạo hiểm
cao thì việc để các nhà đầu t nớc ngoài đầu t 100% vốn là rất cần thiết.
Hình thức đầu t 100% vốn nớc ngoài còn có một vài dạng đặc biệt nh
+ BOT: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
+ BTO: Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
+ BT: Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
Những dạng hợp đồng đặc biệt này thờng đợc áp dụng đối với các công
trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Ngoài 3 hình thức chủ yếu trên, để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
đầu t, chính phủ nớc nhận đầu t còn lập ra các khu vực u đãi đầu t trong lãnh
thổ nớc mình nh: khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế
Trong đó, khu chế xuất là khu vực lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định do
chính phủ nớc nhận đầu t cho phép thành lập, trong đó có thể do một hoặc một
số xí nghiệp sản xuất hàng hoá phục vụ xuất khẩu hoặc thay thế hàng nhập
khẩu. Trong khu chế xuất, áp dụng chế độ tự do thuế quan, tự do mậu dịch.
Khu công nghiệp theo luật pháp Việt Nam quy định là khu chuyên sản xuất

hiện nh sau:
* FDI tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu t phát triển trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. Vốn cho đầu t phát triển, bao gồm
nguồn vốn trong nớc và nguồn vốn nớc ngoài. Đối với các nớc đang phát triển
9
nói chung và với Việt Nam nói riêng khi mà sản xuất còn ở trình độ thấp,
nguồn vốn viện trợ của các nớc XHCN không còn nữa, nguồn vốn đầu t từ
ngân sách còn eo hẹp, các DNNN gặp nhiều khó khăn, vốn tiềm ẩn trong dân
cha đợc huy động nhiều, vốn ODA còn hạn hẹp thì nguồn vốn FDI có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế của đất nớc.
Xét về mặt định tính, sự hoạt động của nguồn vốn FDI nh là một trong
những động lực gây phản ứng dây chuyền làm thúc đẩy sự hoạt động của đồng
vốn trong nớc. Một số chuyên gia kinh tế tính toán rằng cứ 1 đồng vốn FDI
hoạt động sẽ làm cho 4 đồng vốn trong nớc hoạt động theo. Nh vậy FDI còn
có vai trò giúp cho Việt Nam phát triển một nền kinh tế cân đối, bền vững
theo yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
* Nguồn vốn FDI đóng góp tích cực và ngày càng lớn vào duy trì nhịp độ
tăng trởng cao và ổn định nền kinh tế. Khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý ,
luôn là khu vực năng động nhất của nền kinh tế với tốc độ tăng trởng hàng
năm cao (khoảng 20% năm) đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp. Chẳng
hạn, năm 2004 tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực trong nớc
là 22,3% thì của khu vực FDI là 38,2%. Nói chung hoạt động của khu vực FDI
đạt hiệu quả cao, do đó doanh thu hàng năm của khu vực này đạt cao và đóng
góp vào GDP ngày càng tăng: Năm 1997 tỷ trọng trong GDP là 9,07%, năm
1998: 10,3%, năm 1999: 12,2%, năm 2000: 13,28%, năm 2004: 15,7% (theo
Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế Việt Nam và thế giới 2003 - 2004: Doanh
thu và đóng góp của khu vực FDI vào GDP thời kỳ 1997 - 2004).
* FDI làm tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, mở rộng nguồn thu ngân sách.
Cùng với hoạt động có hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh, khu vực
FDI thông qua việc sản xuất các loại hàng hoá có khả năng cạnh tranh cao đã

hàng công nghiệp trong đó các doanh nghiệp FDI chiếm xấp xỉ 100% sản
phẩm (dầu khí, ô tô, đèn hình, tổng đài điện thoại, tủ lạnh ), ngoài ra còn có
một số ngành hiện đại mà khu vực FDI chiếm trên 50% sản phẩm nh thép,
11
kính xây dựng Sự phát triển các lĩnh vực này làm cho nền kinh tế đợc
chuyển dịch theo xu hớng tích cực.
Đối với ngành nông nghiệp, FDI với trên 200 dự án còn hiệu lực đã góp
phần nâng cao năng lực sản xuất cho ngành nông nghiệp, chuyển giao cho
lĩnh vực này nhiều cây giống, con giống, tạo ra nhiều sản phẩm chất lợng cao,
góp phần thúc đẩy quá trình đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp cũng nh nâng
cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông, lâm sản.
* FDI đã góp phần giải quyết việc làm cho ngời lao động tham gia phát triển
nguồn nhân lực, nâng cao sức mua trong nớc.
Tính đến cuối năm 2004, các doanh nghiệp có vốn FDI đã thu hút
khoảng 73 vạn lao động trực tiếp là ngời Việt Nam. Bên cạnh đó còn có hàng
chục vạn lao động gián tiếp thông qua các hợp đồng xây dựng, cung ứng dịch
vụ có liên quan đến các dự án FDI. Hơn thế nữa số lao động làm trong hình
thức hợp đồng hợp tác kinh doanh lại tính vào cán bộ công nhân viên của khu
vực kinh tế Nhà nớc, do đó, tổng số lao động làm việc liên quan đến các dự án
FDI có thể lên đến hàng vạn ngời.
FDI tạo điều kiện cho ngời lao động thích nghi với điều kiện lao động
mới, góp phần làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, tạo nên một thị trờng
lao động với đầy đủ các yếu tố cung cấp và cạnh tranh. Qua đó thúc đẩy sự
quan tâm của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo, làm chuyển đổi cơ
cấu lao động và hình thành đội ngũ lao động lành nghề. Đồng thời FDI tạo
điều kiện cho ngời lao động Việt Nam tiếp thu công nghệ hiện đại, kinh
nghiệm quản lý tiên tiến, rèn luyện tác phong kỷ luật và kỹ năng lao động
công nghiệp, thích ứng nhanh với cơ chế thị trờng.
Thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp FDI cao hơn đáng kể so
với các khu vực khác, khoảng 30% đến 50% tuỳ thuộc từng ngành nghề trong

địa phơng.
13
Thông thờng các nhà đầu t nớc ngoài, đôi khi cả bên nhận đầu t (các
quốc gia nói chung và các địa phơng của quốc gia đó nói riêng), chỉ quan tâm
nhiều đến hiệu quả tài chính. Bởi đứng về lợi ích riêng của nhà đầu t thì hiệu
quả cao nhất là lợi nhuận thu đợc, nên họ chú ý đến những vấn đề thiết thực
nh doanh thu, chi phí thuế, tiền thuê đất , trong khi đó Nhà nớc khuyến khích
một hay nhiều dự án FDI không chỉ căn cứ vào hiệu quả tài chính, mặc dù đó
là một nhân tố làm tăng nguồn thu của ngân sách Nhà nớc, góp phần vào sự
phát triển của nền kinh tế. Nhng điều phải quan tâm nhiều hơn để đánh giá
một dự án FDI là hiệu quả kinh tế xã hội của nó và cần phải lấy hiệu quả kinh
tế xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phơng hớng, lựa chọn các dự án
và tính chất công nghệ
Trong điều kiện kinh tế xã hội của đất nớc kém phát triển nh hiện nay,
chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội của FDI nhìn tổng thể phải đáp ứng các yêu
cầu: vốn, công nghệ, tri thức và kinh nghiệm quản lý sản xuất, kinh doanh,
giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho ngời lao động, giải quyết thị trờng
tiêu thụ cho sản phẩm. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các chỉ tiêu trên
đều nhất thiết phải đợc hội tụ đủ trong một dự án cụ thể, trong điều kiện các
địa phơng của nớc ta, trớc mắt có lẽ nên coi trọng mục tiêu tạo công ăn việc
làm cho ngời lao động, giảm số ngời thất nghiệp và nâng cao đời sống nhân
dân ở các địa phơng. Điều đó có nghĩa là trong mối tơng quan thu hút vốn và
công nghệ của FDI thì tạm thời chúng ta phải chấp nhận thực tế là cha thể có
điều kiện tự do lựa chọn công nghệ tiên tiến nh ý muốn. Hơn nữa, lao động đ-
ợc coi là một vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa ph-
ơng và của toàn đất nớc, việc tạo ra công ăn việc làm cũng là biện pháp hữu
hiệu tích luỹ cho công nghiệp hoá, cho mua sắm công nghệ, tạo đà cho kinh
doanh phát triển .
Rõ ràng là mỗi địa phơng đều có chiến lợc và quy hoạch phát triển KT-
XH riêng phù hợp với điều kiện của địa phơng mình. Trong xu thế quốc tế hoá

- Chính sách đất đai:
15
+ Giải quyết kịp thời những khó khăn vớng mắc về đất đai, giải phóng
mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án. Thí điểm việc cho phép t nhân
trong nớc đã đợc cấp quyền sử dụng đất lâu dài, đợc cho nhà đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài thuê lại đất trong thời hạn đợc cấp quyền sử dụng đất.
+ Nghiên cứu cách giải quyết yêu cầu của doanh nghiệp đầu t thực hiện
dự án lớn ở Việt Nam cần thế chấp giá trị quyền sử dụng đất đã đợc giao hoặc
cho thuê dài hạn để vay vốn của các tổ chức tín dụng hoạt động ở nớc ngoài
trong trờng hợp tổ chức tín dụng ở Việt Nam không có khả năng đáp ứng nhu
cầu về vốn.
- Chính sách thuế và hỗ trợ tài chính: Chính sách thuế và những u đãi
tài chính gắn với hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài là một yếu tố chủ yếu cấu
thành tính hấp dẫn của môi trờng đầu t trực tiếp nớc ngoài. Chính sách thuế và
những u đãi tài chính sẽ tiếp tục hoàn thiện theo hớng có hệ thống, ổn định và
thích hợp với các nớc trong khu vực. Loại bỏ những hạn chế do chính sách
thuế và những u đãi tài chính gây ra. Phát huy tích cực tác dụng của chính
sách thuế và u đãi tài chính đối với các nhà đầu t.
- Chính sách cải cách hành chính: Đẩy mạnh cải cách hành chính liên
quan đến hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài. Nghiên cứu xây dựng cơ chế
quản lý và tổ chức quản lý theo hớng một cửa, một đầu mối ở trung ơng và địa
phơng để tạo thuận lợi cho hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài. Các bộ, ngành,
địa phơng quy định rõ ràng công khai các thủ tục hành chính, đơn giản hoá và
giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết, kiên quyết xử lý nghiêm
khắc các trờng hợp sách nhiễu, cửa quyền, tiêu cực và vô trách nhiệm của cán
bộ công quyền.
Các địa phơng muốn thu hút ngày càng nhiều FDI cần phải chấp hành
đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc, đồng thời vận dụng phù hợp với
điều kiện thực tế của mình. Bên cạnh đó các địa phơng cũng cần không ngừng
cố gắng cải thiện môi trờng đầu t của mình, cần xác định thông qua FDI mà

sản xuất kinh doanh trên nguyên tắc thoả thuận, tự nguyện, bình đẳng và cùng
17
có lợi. Theo đó lợi ích mà mỗi bên nhận đợc phải phù hợp với tơng quan và
khả năng của bên này và bên kia trong hợp tác. Lợi ích đó còn phải có lựa
chọn, so sánh với cái giá phải trả cho các đối tác khác nhau trong cùng một
mục tiêu và một thời điểm. Đồng thời còn phải có tính đến những điều kiện về
môi trờng đầu t, đảm bảo phát huy có hiệu quả lợi ích của mỗi bên (gồm chủ
đầu t nớc ngoài, các pháp nhân Việt Nam tham gia liên doanh và Nhà nớc
Việt Nam) trong đó quan trọng nhất đối với nhà đầu t nớc ngoài là kinh doanh
có hiệu quả và đợc đảm bảo an toàn vốn, lợi nhuận của họ.
Trong quá trình triển khai dự án FDI phải chú ý tới những nguyên nhân
dẫn đến những mâu thuẫn trong nội bộ liên doanh, mà thực chất những mâu
thuẫn đó xuất phát từ khác biệt về quan hệ sở hữu. Bên nớc ngoài là ngời sở
hữu thực sự tài sản mà họ đem góp vào liên doanh, cho nên từ quan niệm,
cách nhìn nhận cho đến hoạt động sản xuất kinh doanh đều thể hiện mục đích
tối thợng của họ là đạt đợc lợi nhuận tối đa. Trong khi đó bên Việt Nam chủ
yếu là các doanh nghiệp Nhà nớc, còn lạc hậu và yếu kém về mọi mặt, mục
đích của bên Việt Nam chủ yếu là học hỏi kinh nghiệm quản lý, tận dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Vì vậy trong quá trình hợp tác đầu t các bên
cần phải hết sức cân đối lợi ích của nhau để tránh mâu thuẫn, xung đột. Bên
Việt Nam không nên chỉ vì lợi ích của mình mà không xét đến những mặt trái
của các dự án đầu t, những vấn đề có hại cho đời sống tự nhiên, xã hội của địa
phơng, của đất nớc.
1.4. Kinh nghiệm (thành công và không thành công) của một số địa ph-
ơng (tỉnh, thành phố) trong thu hút FDI.
Vĩnh Phúc là một tỉnh mới thành lập, đang trên con đờng phát triển kinh
tế xã hội. Sự phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc gắn liền với sự phát triển của các
địa phơng khác tạo nên sự phát triển của đất nớc.
Trong quá trình phát triển của mình mỗi địa phơng đều đạt đợc những
thành công và không thành công riêng, cho nên để bù đắp cho nhau cùng phát

2004; nông nghiệp tăng từ 1,2% lên 2% và 2,8%. Về văn hoá xã hội của thành
19
phố cũng có nhiều tiến bộ: Thành phố tập trung chỉ đạo triển khai nhiều kênh
thông tin, tuyên truyền, phổ biến chủ trơng của Đảng và Nhà nớc; đẩy mạnh
công tác phòng chống tệ nạn xã hội và tạo thêm nhiều việc làm cho ngời lao
động. Bên cạnh đó hoạt động kinh tế đối ngoại đợc mở rộng, an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội đợc tăng cờng, đảm bảo giữ vững, ổn định chính trị xã
hội trong điều kiện quốc tế và một số địa phơng trong nớc có những vấn đề
phức tạp.
Nhìn chung tình hình phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội
trong thời gian qua là cơ sở đảm bảo cho một môi trờng vĩ mô ổn định, thuận
lợi đối với các nhà đầu t nớc ngoài. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi đó
thành phố còn gặp không ít những khó khăn, hạn chế nh: kinh tế tăng trởng tốt
nhng cha xứng với vị trí và tiềm năng của thủ đô, hoạt động xuất nhập khẩu
gặp nhiều khó khăn do giá xuất khẩu bất ổn, thị trờng bị thu hẹp, cạnh tranh
quốc tế ngày càng gay gắt, nhiều doanh nghiệp cha chủ động cho hội nhập
kinh tế quốc tế. Chi phí trung gian ở các ngành còn cao, nhất là sản xuất công
nghiệp nên giá trị sản xuất tăng cao nhng GDP không tăng tơng ứng, làm hạn
chế hiệu quả sản xuất. Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có chất l-
ợng cao còn chậm, cha có biện pháp đồng bộ kiểm soát sản xuất và tiêu thụ an
toàn. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật tuy đợc cải thiện song còn cha đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội của thủ đô, ùn tắc và tai nạn giao thông không
giảm. ý thức chấp hành kỷ cơng, pháp luật của một số cán bộ, nhân dân cha
tốt. Bộ máy hành chính các cấp còn cồng kềnh, kém hiệu quả, giấy tờ hội họp
còn nhiều Những khó khăn hạn chế này cần phải đợc khắc phục thì mới đa
nền KT-XH của thành phố ngày càng phát triển lên đợc. Những tồn tại này
không chỉ của riêng Hà Nội mà bất kỳ địa phơng nào cũng gặp phải. Do vậy
các địa phơng, tỉnh, thành phố cần phải phối hợp đa ra những biện pháp khắc
phục. Đó là vấn đề cần thiết trong giai đoạn CNH, HĐH và hoà nhập kinh tế
quốc tế của đất nớc hiện nay.

21
dựng các khu công nghiệp vừa và nhỏ là rất cần thiết cho việc phát huy nội lực
của địa phơng mình, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trở nên hấp dẫn hơn
đối với các nhà đầu t nớc ngoài, từ đó góp phần quan trọng vào sự phát triển
của địa phơng mình.
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nh hiện nay ngành công
nghiệp đợc Đảng và Nhà nớc ta đặc biệt chú trọng phát triển. Đi theo định h-
ớng của Nhà nớc, các tỉnh, thành phố cũng tập trung vào việc phát triển công
nghiệp của mình mà đóng góp một phần không nhỏ trong quá trình phát triển
công nghiệp của các địa phơng là vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài. Sự phát triển
các khu công nghiệp thu hút mạnh mẽ FDI góp phần tích cực vào việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của thành phố và từng quận, huyện, thúc đẩy quá trình
chuyển giao, nâng cao và đổi mới công nghệ.
Thành phố Hà Nội luôn luôn đi tiên phong trong quá trình phát triển kinh
tế, văn hoá, chính trị, khoa học kỹ thuật trong cả nớc. Do vậy những thành
công của Hà Nội trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng là những kinh nghiệm quý
báu mà các địa phơng, tỉnh, thành phố khác nên noi theo. Xét về lĩnh vực thu
hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài, Hà Nội đã có những thành công nhất định
mà nh đã nói ở trên thành công đầu tiên là việc xây dựng các khu công nghiệp
tập trung, các cụm - khu công nghiệp vừa và nhỏ. Nhng bên cạnh đó Hà Nội
cũng rất thành công trong thu hút FDI nhờ vào hệ thống cơ sở hạ tầng tơng đối
hiện đại và thuận lợi, đội ngũ lao động có tay nghề, chuyên môn vào bậc nhất
cả nớc. Với vị thế và tiềm năng sẵn có của mình, Hà Nội tạo ra một môi trờng
hấp dẫn cho việc thu hút FDI. Vấn đề cơ sở hạ tầng và trình độ lao động cũng
đóng vai trò quan trọng trong thu hút FDI. Các nhà đầu t luôn muốn rót vốn
vào những dự án thuận lợi, ít rủi ro, những dự án đó phải có tiền đề là cơ sở hạ
tầng hiện đại, thu hút đợc những ngời lao động, cán bộ công nhân viên có tay
nghề, chuyên môn cao. Ngày nay trình độ chuyên môn của lao động Việt
Nam ngày càng nâng cao, nhng đa phần những lao động có tay nghề lại tập
trung làm việc ở Hà Nội. Thiết nghĩ các địa phơng nên có những biện pháp,

23
Tận dụng lợi thế cơ sở hạ tầng của Hà Nội, các tỉnh giáp ranh đã xây dựng
những khu công nghiệp ở ngay gần ranh giới với giá đất và phí quản lý thấp
hơn nên nhiều nhà đầu t đã chuyển các dự án đến những khu công nghiệp này
thay vì đầu t vào các khu công nghiệp ở Hà Nội. Về cơ sở hạ tầng, việc cung
cấp điện, nớc cho các dự án đầu t còn cha ổn định, việc cung cấp điện không
ổn định là tình trạng phổ biến mà các doanh nghiệp phải gánh chịu, điều này
làm giảm phần nào lòng nhiệt tình và quyết tâm của các nhà đầu t vào địa bàn
Hà Nội.
Bên cạnh những tồn tại về khung pháp lý, về đất đai và cơ sở hạ tầng, ở
Hà Nội vẫn còn có những tồn tại về thủ tục hành chính, về dịch vụ cung cấp
thông tin cho các doanh nghiệp và về hoạt động xúc tiến đầu t Nói chung
thủ tục hành chính đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài rất rờm
rà, thời gian giải quyết kéo dài làm tăng chi phí của các doanh nghiệp trong
quá trình sản xuất kinh doanh và làm cho các nhà đầu t nản lòng khi tham gia
đầu t vào Hà Nội. Bên cạnh đó thông tin cho các doanh nghiệp đầu t còn thiếu
trong khi thông tin là một trong những yếu tố ngày càng trở nên quan trọng
trong việc củng cố và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong
thu hút FDI có một vấn đề đặc biệt quan trọng là vấn đề xúc tiến đầu t. Nếu
không có hoạt động này các nhà đầu t sẽ không biết đến tiềm năng và cơ hội
của địa phơng. Tuy nhiên trong thời gian qua hoạt động xúc tiến đầu t ở Hà
Nội vẫn cha tốt, bản thân ban lãnh đạo thành phố cũng vẫn cha thấy đợc tính
tất yếu của hoạt động này, cha dành cho công tác này sự quan tâm đúng mức,
vì vậy mà hiệu quả thu hút đầu t cha cao.
Trớc những mặt còn cha thành công của Hà Nội nh vậy các địa phơng
nên tìm hiểu và tìm cách khắc phục ở địa phơng mình, nên tạo cho địa phơng
mình có môi trờng đầu t thuận lợi với khung pháp lý cụ thể, rõ ràng; điều kiện
cơ sở hạ tầng, đất đai, thủ tục hành chính đảm bảo, thông thoáng; cung cấp
đầy đủ thông tin cho các doanh nghiệp và đặc biệt là cần hết sức chú trọng tới
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status