Xuất khẩu hàng dệt may việt nam sang hoa kỳ thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng về tiêu chuẩn lao động - Pdf 10

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIÊN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: Chính sách đối ngoại 2
ĐỀ TÀI: XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG HOA KỲ-
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG
TIÊU CHUẨN VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
GV hướng dẫn:
Lớp:
Nhóm 12:
HÀ NỘI – NĂM 2013
2
MỤC LỤC
3
LỜI MỞ ĐẦU
Hoa Kỳ là thị trường quan trọng nhất của ngành dệt may có giá trị xuất khẩu lớn nhất của
Việt Nam. Tuy nhiên, các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam vẫn chưa khai thác
được hết tiềm năng của thị trường này. Đặc biệt măt hàng này, đang phải đối mặt với rào
cản kỹ thuật về sử dụng lao động. Vì vậy, đề tài: “Xuất khẩu hang dệt may Việt Nam sang
thị trường Hoa Kỳ-Thực trạng và giải pháp nâng cảo khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ
thuật về sử dụng lao động của Hoa Kỳ”, nhằm phân tích tình hình doanh nghiệp dệt may
Việt Nam và từ đó đưa ra giải pháp khắc phục những tình trạng này để đẩy mạnh xuất
khẩu dệt may sang thị trường Hoa Kỳ.
Mục tiêu nghiên cứu: Thứ nhất, tìm hiểu hệ thống rào cản kỹ thuật về sử dụng lao động
áp dụng đối với mặt hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ. Thứ hai,
đánh giá tình hình xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ và thực trạng
vượt qua các rào cản kỹ thuật đó khi thâm nhập thị trường Hoa Kỳ. Thứ ba, tìm hiểu và
phân tích sự hạn chế trong việc vượt qua rào cản kỹ thuật về sử dụng lao động của sản
phẩm dệt may Việt Nam. Thứ tư, đề xuất các giải pháp khắc phục những hạn chế trên.
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp định tính như phương pháp

trưởng, do đó nền kinh tế sẽ phát triển. Hàng hóa dù có chất lượng cao hay vừa đều có
thể bán trên thị trường Mỹ vì các tầng lớp dân cư ở nước này đều tiêu thụ nhiều. Riêng
đối với các nước đang phát triển như Việt Nam khi xuất hàng vào thị trường Mỹ cần phải
lấy sự đa dạng làm yếu tố quan trọng, mẫu mã có thể không quá cầu kỳ nhưng phải đa
dạng và hợp thị hiếu.
Theo quy định của Mỹ, các sản phẩm dệt may được chia thành 167 mã hàng riêng lẻ
trong đó riêng hàng may mặc có tới 106 mã hàng.Trong số 38 mã hàng dệt may Việt Nam
bị khống chế hạn ngạch tổng cộng 35 mã hàng may mặc (chiếm 33% tổng số mã hàng
may mặc vào thị trường Mỹ) và chỉ có 3 hang dệt (chiếm 4,9 % tổng các mã hàng dệt ).
Tính chung tổng số mã hàng bị khống chế của Việt Nam chỉ chiếm 22,7 %.Như vậy còn
tới 129 mã hàng Việt nam vẫn có thể xuất tự do vào Mỹ mà các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam có thể tận dụng.
1.1.2.Một số nét về văn hóa và lối sống ăn mặc của người Hoa Kỳ
Ở Mỹ, với những đồ dùng cá nhân như quần áo, may mặc và giày dép, họ thích sự giản
tiện nhưng hiện đại và hợp mốt với yếu tố khác biệt thì càng được ưa thích và mua nhiều.
Mọi người có thể mặc gì họ thích: tại thành phố nam giới thường mặc comple, nữ giới
6
mặc váy hoặc juyp đi làm; trong khi đó nông thôn thì thường ăn mặc khá xuyềnh xoàng:
quần jean và vải thô rất phổ biến. Tuy vậy hầu hết người Mỹ kể cả lớn tuổi ngoài giờ làm
việc họ thường ăn mặc rất thoải mái.
Tại đây không có lề ước và tiêu chuẩn thẩm mỹ xã hội mạnh và bắt buộc như ở các nước
khác.Các nhóm người khác nhau vẫn sống theo văn hóa tôn giáo của mình và theo thời
gian hòa trộn, ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự khác biệt trong thói quen tiêu dùng ở Mỹ so
với các nước Châu Âu.Vì thế thị hiếu tiêu dùng của Mỹ rất đa dạng với các nền văn hóa
khác nhau : sở thích khác nhau từ miền Bắc xuống miền Nam( người miền Bắc thích màu
ấm cúng như đỏ, nâu trong khi người miền Nam thích các màu mát như xanh dương,
trắng ).Đặc biệt người Mỹ rất thích các loại trang phục thay đổi theo từng thời gian và
khí hậu, cùng với những sản phẩm độc đáo nhạy bén trên thị trường.Cùng một số đồ vật
nhưng thời gian sử dụng của họ có thể chỉ bằng một nửa thời gian sử dụng của người tiêu
dùng các nước khác.Điều này giải thích tại sao hàng hóa tiêu dùng từ một số nước đang

Từ năm 2008-2011, nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ tiếp tục tăng. Năm 2012, nhập khẩu
hàng dệt may của Mỹ chứng kiến sự sụt giảm mạnh của các mặt hàng sử dụng chất liệu
bông, do giá các mặt hàng này tiếp tục đứng ở mức cao so với giá của các sản phẩm cùng
loại nhưng sử dụng chất liệu khác, dù giá nhập khẩu trung bình của nhóm hàng này đã
giảm hơn10% so với năm 2011. Nhập khẩu nhóm mặt hàng sử dụng chất liệu bông của
Mỹ đã giảm tới 4% về lượng và giảm 6% về trị giá so với năm 2011; trong khi nhập khẩu
nhóm mặt hàng sử dụng chất liệu nhân tạo lại tăng 2,73% về lượng và tăng 6,3% về trị
giá so với năm 2011. Giá các mặt hàng chất liệu bông cao, nhiều người đã chuyển sang
tiêu dùng các mặt hàng sử dụng chất liệu nhân tạo, khiến nhu cầu về mặt hàng này cao
hơn, đẩy giá của mặt hàng này đã tăng tới 9,2% trong năm 2012. Dù vậy, đây tiếp tục là
8
nhóm hàng người tiêu dùng lựa chọn trong năm 2013, vì các mức giá vẫn khá hấp dẫn so
với nhóm hàng sử dụng chất liệu bông.
1.1.3.3.Những thị trường dệt may Hoa Kỳ nhập khẩu chủ yếu
Biểu đồ 1.1.3.3: Cơ cấu một số thị trường dệt may Hoa Kỳ nhập khẩu
Đơn vị: %
Nguồn: Bộ thương mại Hoa Kỳ
Từ năm 2008-2012, Trung Quốc củng cố vị trí dẫn đầu là nhà cung cấp lớn nhất của Mỹ
trong, đã tăng thị phần của mình cả về giá trị và khối lượng, thị phần nhập khẩu của Mỹ
từ Trung Quốc đã tăng từ 35 % đến 40,3 % về giá trị và từ 40,9% đến 44,5% về khối
lượng. Việt Nam cũng là một trong những nước đứng đầu trong việc xuất khẩu hàng dệt
may sang Mỹ, thị phần có năm tăng tới gần 8%. Nhập khẩu từ các nhà cung cấp hàng
đầu khác đã giảm về giá trị và sản lượng như Campuchia, Honduras, Mexico và Thái Lan
đều giảm ở mức hai con số và thị phần cũng bị giảm mạnh. Trong khi đó, thị phần nhập
khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Bangladesh tăng dần, Ấn Độ và Indonesia lúc tăng lúc
giảm không ổn định. Năm 2013, nhập khẩu hàng dệt may vào Mỹ tiếp tục gia tăng, Việt
Nam và Băngladesh trở thành 2 nhà cung cấp đứng đầu trong việc cung cấp hàng dệt may
cho các nước phía Tây nước Mỹ.
1.2.Thực trạng Việt Nam xuất khẩu hàng dệt may sạng thị trường Hoa Kỳ
1.2.1.Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ

đất nước.
10
1.2.2.Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Nhìn chung cơ cấu hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ rất phong phú và
đa dạng.
Biểu đồ 1.2.2a: Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ giai
đoạn 2006-2012 Đơn vị: %
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam
Biểu đồ 1.2.2b: Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Hoa kỳ 7/2013
Đơn vị: %
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam
Dựa vào các biểu đồ trên ta thấy trong những năm gần đây các sản phẩm áo sơ mi, quần
dài sooc nam và quần dài sooc nữ được người Mỹ rất ưa chuộng chiếm hơn 50% trong cơ
cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu. Người Mỹ luôn thích tự do và thoải mái trong phong
cách ăn mặc nên họ có nhu cầu cao về áo sơ mi. Hơn nữa các sản phẩm dệt kim của Việt
Namm thì luôn đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của họ. Có thể thấy xu hướng tiêu
dùng hàng Việt Nam của người Mỹ khá là nhất thống trong những năm gần đây. Theo
thống kê xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ của Cổng thông tin điện tử tập đoàn dêt
may Việt Nam thì các sản phẩm áo sơ mi không dệt kim, áo len Việt Nam còn chiếm trị
giá khá thấp trong có cấu xuất khẩu. Vì vậy, cần nâng cao chất lượng các sản phẩm này
để đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng Mỹ.
1.2.3.Chất lượng và giá cả
Nhìn chung chất lượng hàng dệt may của Việt Nam được khách hàng Mỹ đánh giá chưa
cao. Mặc dù Việt Nam đã có những cải tiến để cải thiện chất lượng hàng dệt may của Việt
11
Nam nhưng do hàng Việt Nam chủ yếu là gia công cộng thêm việc trình độ lao động thấp
nên khó co thể đưa ra những sản phẩm phù hợp với thị hiếu người dân Hoa Kỳ.
Nhìn chung hàng Việt Nam chưa có sự cạnh tranh cao về giá. Giá hàng Việt Nam xuất
khẩu vào Mỹ vẫn ở mức cao (cao hơn đến 5-7% thậm chí lên đến 10% so với các nước
Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh, Indoonesia ).

trường Hoa Kỳ như Trung Quốc.
1.2.4.Về mẫu mã thương hiệu
1.2.4.1.Về mẫu mã
Nhìn chung mẫu mã của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ chưa đa dạng vì chủ
yếu xuất theo các đơn đặt hàng. Các doanh nghiệp Việt nam chỉ căn cứ vào những mẫu
đã đươc yêu cầu sẵn nên hàm lượng chất xám trong các sản phẩm không cao. Các mẫu
mã mà Việt Nam xuất khẩu sang chủ yếu là những mẫu mã đơn giản phù hợp với phong
cách tự do của người Mỹ. Việt Nam chưa có đội ngũ thiết kế mẫu mã sản phẩm được đào
tạo chuyên nghiệp để đáp ứng xu thế thời trang thế giới.
1.2.4.2.Về thương hiệu
Hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu là hàng gia công xuất khẩu. Việt Nam hiện
nay cũng gia công cho nhiều hãng thời trang nổi tiếng trên thế giới như Nike, Lacoste,
Clark, Prada Các sản phẩm này mang thương hiệu " Made in Viet Nam", đã được mang
đi bày bán nhiều nơi trên thế giới trong đó có Mỹ và được người dân Mỹ rất ưa chuộng.
Công nhân Việt Nam có sự khéo léo và chuyên môn kĩ thuật cao nên có thể làm ra những
sản phẩm may mặc mang tính chính xác cao.
Hiện một số thương hiệu dệt may Việt Nam đang được người tiêu dùng Mỹ biết đến như
Molis ( Công ty dệt Phong Phú), Fhouse (Công ty may Phương Đông), Sanding ( Công ty
may Sài Gòn 2), Newera (Công ty may Đức Giang), Silki (Công ty dệt Thái Tuấn) Các
thương hiệu này đã trở thành tài sản vô hình đáng kể của doanh nghiệp và góp phần làm
tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
13
Tuy đã có tiến bộ trong việc phát triển thương hiệu nhưng trong những năm gần đây để
có thể cạnh tranh với những sản phẩm của những đối thủ nặng kí như Trung Quốc, Ấn
Độ các doanh nghiệp Việt Nam cần coi trọng chiến lược phát triển thương hiệu.
1.2.5.Hình thức xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ
Hàng dệt may của Việt Nam thâm nhập vào Mỹ theo bốn hình thức sau:
- Thứ nhất, các doanh nghiệp tiếp cận khách hàng bằng cách trực tiếp giới thiệu sản
phẩm. Đó là phương thức nhiều doanh nghiệp Việt Nam áp dụng như: Công ty may
Thăng Long, dệt Việt Thắng, dệt may Hà Nội, dệt may Thàng Công

Ngày nay, SA8000 trở thành tiêu chuẩn toàn cầu về bảo vệ quyền lợi của người lao động
trên toàn thế giới, gồm 9 nội dung: lao động trẻ em, súc khỏe và an toàn, thời gian làm
việc, tiền lương Tiêu chuẩn SA8000 được giám sát lại từ thang 1-3/2001, hiện nay đã có
phiên bản mới nhất là phiên bản 2008.
1.2.6.3.Tiêu chuẩn trách nhiệm hàng dệt may toàn cầu WRAP
Tiêu chuẩn WRAP gồm 12 nguyên tắc về tuân thủ luật và các quy định lao động, cấm lao
động cưỡng bức, cấm sử dụng lao động trẻ em… Chương trình chứng nhận WRAP gồm
ba cấp giấy chứng nhận bạc, vàng, bạch kim nhằm đánh giá sự công nhận tiến bộ của
doanh nghiệp trong quá trình tiến tới hoàn thiện sự tuân thủ nguyên tắc WRAP bằng các
cập độ thích hợp.
1.2.6.4.Các tiêu chuẩn ký thuật khác
Ngoài những tiêu chuẩn nêu trên, hệ thống TBT của Hoa Kỳ còn sử dụng một số tiêu
chuẩn do Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đưa ra như tiêu chuẩn ISO9000, ISO4000…
ISO9000 là bộ tiêu chuẩn quốc tế về hệ thống quản lý chất lượng, áp dụng cho mọi hình
thức tổ chức, doanh nghiệp nhằm đảm bảo khả năng cung cấp sản phẩm đáp ứng yêu cầu
15
khách hàng và luật định một cách ổn định và thường xuyên nâng cao sự thỏa mãn của
khách hàng.
ISO14000 là bộ tiêu chuẩn về hệ thống quản lý môi trường do ISO đưa ra nhằm đưa ra
các chuẩn mực để xác định, kiểm soát và theo dõi những ảnh hưởng của tổ chức đến môi
trường, đưa ra những phương pháp quản lý và cải tiến hệ thống quản lý môi trường cho
bất kỳ tổ chức nào muốn áp dụng.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ TIÊU CHUẨN SỬ DỤNG LAO
ĐỘNG CỦA HOA KỲ ÁP DỤNG ĐỐI VỚI DỆT MAY NHẬP
KHẨU TỪ VIỆT NAM – KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA DOANH
NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
2.1.Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với mặt hàng dệt may
Trong những năm qua, hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường Hoa Kì luôn có mức tăng
trưởng đột biến. Hiện nay, Hoa Kì đã trở thành thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn
nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, phía Mỹ luôn có những đòi hỏi khắt khe về đạo đức và an

giờ luôn nhận được mức thù lao đúng mức.
Tiền lương: Tiền lương trả cho thời gian lao động một tuần phải đáp ứng được yêu cầu
của pháp luật và tiêu chuẩn ngành, và phải đáp ứng được với nhu cầu cơ bản của người
lao động và gia đình họ, không được áp dụng biện pháp xử phạt bằng cách trừ lương. Đối
với yêu cầu của SA 8000 phải xác định các nhu cầu cơ bản dựa trên các yếu tố sinh
hoạt:Nhu cầu dinh dưỡng cơ bản (gạo, thịt, rau…), tiền đi lại, tiền thuê nhà, số người mà
người lao động phải nuôi dưỡng…
17
Theo cách tiếp cận này, mỗi vùng địa lý sẽ có mức lương cơ bản khác nhau phụ thuộc
vào mặt bằng giá cả và điều này phù hợp với người lao động.
Hệ thống quản lý: Các tổ chức muốn đạt và duy trì chứng chỉ cần xây dựng và kết hợp
tiêu chuẩn này với các hệ thống quản lý và công việc thực tế hiện có tại tổ chức mình
2.1.2.Tiêu chuẩn WRAP
Chương trình WRAP ( worldwide responsible accredited production) – Chương trình
trách nhiệm xã hội toàn cầu là chương trình lớn nhất thế giới cấp giấy chứng nhận cho
các doanh nghiệp đối với các ngành may mặc và giày da.
Chương trình chứng nhận WRAP gồm có ba cấp giấy chứng nhận – giấy chứng nhận bạc.
vàng và bạch kim, nhằm đánh giá sự công nhận tiến bộ của doanh nghiệp trong quá trình
tiến tới hoàn thiện sự tuân thủ các nguyên tắc của WRAP bằng các cấp độ thích hợp.
Giấy chứng nhận bạc
Giấy chứng nhận sáu tháng sẽ được cấp cho các doanh nghiệp đạt được sự tuân thủ đáng
kể đối với các nguyên tắc của WRAP nhưng vẫn còn những sự không tuân thủ nhỏ cần
được giải quyết trong chính sách, các thủ tục, chương trình đào tạo của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp không có sự vi phạm nghiêm trọng đối với các nguyên tắc về lao động trẻ
em, an toàn và sức khỏe, lao động cưỡng bức, quấy nhiễu và lạm dụng. Doanh nghiệp
phải chứng minh được rằng công nhân được trả mức lương tối thiểu pháp luật qui định
cộng với tiền làm thêm ngoài giờ.
Giấy chứng nhận vàng
Giấy chứng nhận một năm được cấp cho các doanh nghiệp chứng minh được sự tuân thủ
đầy đủ các nguyên tắc của WRAP trong quá trình kiểm tra đầu tiên hoặc lần kiểm tra tiếp

19
Cấm phân biệt đối xử: các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc sẽ sử dụng lao động, trả
lương, bổ nhiệm hay cho họ nghỉ việc dựa trên khả năng làm việc chứ không phải dựa
trên tính cách cá nhân hay tín ngưỡng riêng
An toàn và sức khỏe: Các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc sẽ cung cấp cho người
lao động môi trường làm việc an toàn và đảm bảo sức khỏe. Ở những nơi có nhà nội trú
cũng phải đảm bảo sức khỏe và an toàn
2.2.Thực trạng đáp ứng của doanh nghiệp dệt may Việt Nam đối với các tiêu chuẩn
về sử dụng lao động của Hoa Kỳ
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu với khu vực và thế giới, các doanh
nghiệp Việt Nam buộc phải có quan hệ với các đối tác nước ngoài. Để có mối quan hệ
chặt chẽ với các đối tác này, các doanh nghiệp Việt Nam phải thực hiện một số quy định
về trách nhiệm trong lĩnh vực An toàn – Bảo vệ sức khỏe và Bảo vệ môi trường do các
đối tác nước ngoài dựng lên, trong đó áp dụng khá phổ biến có bộ quy tắc ứng xử như
tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA 8000 và WRAP.
2.2.1.Thực trạng đáp ứng tiêu chuẩn SA 8000
Hiện nay, theo thống kê của SAI ( Social Accountability international) năm 2011, Việt
Nam có 56 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận SA8000, trong đó có 22 doanh
nghiệp dệt may, chiếm khoảng 40% tổng số doanh nghiệp được cấp chứng nhận SA8000.
Mặc dù hiện nay Việt Nam có khoảng 5000 doanh nghiệp dệt may nhưng chỉ có 22 doanh
nghiệp được cấp chứng nhận SA8000 (, chiếm khoảng 0,4%).
Hơn nữa, trong 22 doanh nghiệp này thì có đến 11 doanh nghiệp là doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài hoặc liên doanh, chỉ có 50% trong số doanh nghiệp dệt may Việt Nam
được cấp chứng nhận SA8000 là doanh nghiệp 100% vốn nội địa. Con số các doanh
nghiệp dệt may Việt Nam được cấp chứng nhận SA8000 quá nhỏ so với tổng số doanh
nghiệp dệt may, đặc biệt trong điều kiện việc thực hiện SA8000 ở Việt Nam có rất nhiều
thuận lợi.
20
Những tiêu chuẩn của SA8000 đưa ra có nhiều điểm tương đồng với các văn bản pháp
luật và chính sách liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người lao động của Việt Nam. Ví

2.2.3.Một số quy định Việt Nam mắc phải
2.2.3.1.Điều kiện làm việc
Môi trường làm việc tại các xưởng may Việt Nam vẫn chưa thực sự an toàn, việc hướng
dẫn phòng cháy, chữa cháy còn hạn chế đã dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng
Trong khoảng thời gian gần đây, số lượng các doanh nghiệp dệt may xảy ra cháy
nổ đã tăng lên rất nhanh và đã dẫn đến nhiều người tử vong và nhiều công nhân bị
thương nặng.
Ngày 30/10/2012, một vụ cháy đã xảy ra ở công ty TNHH Nam Vang (xã Tiền Phong,
Thường Tín, Hà Nội).
Ngày 15.9/2012, một vụ cháy xảy ra tại Công ty TNHH may mặc King Star (đường Lê
Văn Quới, P.Bình Hưng Hòa A, Q.Bình Tân, TP.HCM).
Ngày 6/4/2013, một vụ hỏa hoạn lớn vừa xảy ra tại công ty Cổ phần May xuất khẩu Hà
Phong ở xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang).
2.2.3.2.Tiền lương
Trên thực tế tình hình bình đẳng giới trong doanh nghiệp dệt may vẫn tồn tại nhiều bất
cập. Phần lớn, phụ nữ tập trung ở các công việc phổ thông với mức lương thấp, đặc biệt
trong các khu vực tư nhân. Biểu hiện là nhiều doanh nghiệp dệt may không ký hợp đồng
lao động dài hạn đối với lao động nữ, hoặc khi lao động nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ
dưới 12 tháng mà hết hạn hợp đồng thì doanh nghiệp không giao kết hợp đồng tiếp. Điều
này trái với quy định về sử dụng lao động quy định trong Bộ Luật Lao động không được
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với NLĐ nữ có thai, nuôi con nhỏ dưới 12
tháng tuổi (theo quy định tại Khoản 3, Điều 39 và Khoản 3 Điều 111 Bộ luật lao động) .
Về mức lương của lao động nữ làm việc trong các ngành sử dụng nhiều lao đông nữ như
dệt may, da giày thường thấp dưới 2 triệu đồng/tháng thấp hơn tiền lương bình quân của
22
NLĐ (Tiền lương bình quân của NLĐ năm 2011 là 3,84 triệu đồng/người/tháng). Mức
lương bình quân tron ngành da giày, dệt may và thủy sản thấp hơn rất nhiều so với các
ngành khác. Đồng thời, cường độ công việc ở những ngành nghề này khá cao, việc trả
lương chưa thực sự tương xứng, môi trường làm việc không an toàn nguy cơ mắc các
bệnh nghề nghiệp cao. Do đó, doanh nghiệp dệt may cũng là một trong những doanh

định về an toan – bảo vệ sức khỏe và tỷ lệ cao nhất là ở ngành Da Giầy – Dệt May
(82,9%), sau đó đến Khai thác mỏ (61,7%) và thấp nhất ở ngành Xây dựng (54,2%). Điều
này đã chứng minh doanh nghiệp ngành Da Giầy – Dệt May đã thực hiện tôt các quy
định của SA 8000 hoặc WRAP, trong đó nội dung an toàn bảo vệ sức khỏe và bảo vệ môi
trường là một trong những nội dung quan trọng.
Để đánh giá điều kiện lao động – an toàn và sức khỏe của người lao động:
Bảng 2.3.1: Các yếu tố Điều kiện lao động gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của
người lao động Đơn vị: %
STT
Tiêu chí đánh giá
Chung tấ
t cả 5
ngành
Phân theo ngành
Da
Giày –
D.May
Khai
thác
mỏ
Thuỷ
sản
Xây
dựng
Dịch
vụ –
TM
1.1 ĐKLĐ có
ảnh hưởng
xấu đến

Các yếu tố
nguy hiểm
dễ gây tai
nạn cho
người lao
động trong
quá trình
làm việc
Sàn trơn, gồ
ghề
7,7 - - 33,3 9,1 -
4.2
Máy móc
không che
chắn
3,8 - - - 18,2 -
4.3
Không có
biển báo an
toàn
9,6 - - - 27,3 28,6
4.4 Đường hẹp 38,5 - 45,5 22,2 72,7 -
4.5 Hàng dễ đổ 32,7 100,0 4,5 55,6 36,4 57,1
4.6 Vật liệu nổ 51,9 90,9 9,1 85,7
4.7 Khác

Nguồn: Bộ lao động thương binh – xã hội
Qua bảng ta có thể thấy những yếu tổ ảnh hưởng đến môi trường lao động ngành dệt may
chủ yếu bụi, tiếng ồn… các doanh nghiệp luôn cố gắng tạo môi trường làm việc tốt nhất,
xây dựng và tổ chức thực hiện các biên pháp nhằm giảm thiểu các nguyên nhân gây nguy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status