BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---------- ---------- CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN “NHÀ KINH
TẾ TRẺ – NĂM 2011”
TÊN CÔNG TRÌNH:
ẢNH HƢỞNG CỦA NHÀ ĐẦU TƢ TỔ CHỨC
ĐẾN QUẢN TRỊ CÔNG TY - BẰNG CHỨNG TỪ
NHÀ ĐẦU TƢ TỔ CHỨC VIỆT NAM
THUỘC
Mục tiêu của bài nghiên này là tìm ra những tác động của nhà đầu tƣ tổ chức
đến quản trị công ty. Qua đó, tìm ra phƣơng pháp để nâng cao quản trị công ty của
các doanh nghiệp Việt Nam.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ở đề tài này đầu tiên chúng em tìm những lý thuyết của các học giả trên thế
giới nói về ảnh hƣởng của các nhà đầu tƣ tổ chức . Tiếp đó chúng em khảo sát mối
tƣơng quan của nhà đầu tƣ tổ chức tới quản trị công ty ở Việt Nam nhƣ thế nào
[3]
bằng các phƣơng pháp định lƣợng, thống kê mô tả. Cuối cùng là đúc kết những
bài học kinh nghiệm của thế giới và đƣa ra lời khuyên dành cho Việt Nam. Nguồn
dữ liệu của đề tài này một phần là dữ liệu thứ cấp đƣợc lấy từ những tạp chí
chuyên môn và các trang wed đáng tin cậy trên internet; một phần là dữ liệu sơ
cấp lấy từ cuộc báo cáo của IFC và tiến hành đánh giá lại.
4. Kết cấu đều tài
Kết cấu đề tài đƣợc chia làm 3 phần nhƣ sau :
CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ ẢNH
HƢỞNG CỦA NHÀ ĐẦU TƢ TỔ CHỨC ĐẾN QUẢN TRỊ CÔNG TY.
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG Ở VIỆT NAM.
CHƢƠNG 3: NHỮNG LỜI KHUYÊN VÀ KHUYẾN CÁO DÀNH CHO
VIỆT NAM.
PHỤ LỤC
DANH MỤC THAM KHẢO.
5. Đóng góp của đề tài
Chúng em hy vọng rằng với bài nghiên cứu này sẽ giúp cho chúng ta có cái
nhìn rõ hơn nữa về vấn đề quản trị doanh nghiệp và làm thế nào để cải thiện nó.
Mong rằng nếu nó không thể là một định hƣớng cho các nhà làm chính sách thì nó
cũng sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích cho các bạn sinh viên có cùng sở thích
2.4. Quản trị công ty và giá trị thị trƣờng ở Việt Nam ......................................... 35
CHƢƠNG 3: NHỮNG LỜI KHUYÊN VÀ KHUYẾN CÁO DÀNH CHO VIỆT NAM
........................................................................................................................................ 38
3.1. Nâng cao tác động và ảnh hƣởng của các nhà đầu tƣ tổ chức đến quản trị
công ty ........................................................................................................................ 38
3.1.1. Nâng cao nhận thức .................................................................................. 39
3.1.2. Điều chỉnh khung pháp lý để nâng cao tính thực hiện của quản trị công
ty………………………………………………………………………………………………...39
3.1.3. Cải thiện quản trị công ty ở các tổ chức ngân hàng.................................. 40
3.2. Khuyến khích đầu tƣ của các tổ chức trong và ngoài nƣớc: ......................... 40
3.2.1. Tạo tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán ................................. 41
3.2.2. Cải thiện thủ tục và điều kiện giao dịch .................................................... 41
3.2.3. Giảm lãi suất và ổn định tỷ giá .................................................................. 41
3.2.4. Tăng cường sự phát triển của các định chế tài chính trung gian ............. 42
3.2.5. Phát triển các tổ chức hỗ trợ ..................................................................... 42
[5]
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 44
DANH MỤC PHỤ LỤC ................................................................................................ 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 57
Corporate governance thƣờng giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu
suất tài chính, chẳng hạn, bằng cách nào ngƣời chủ sở hữu doanh nghiệp động
viên các giám đốc họ sử dụng vận hành để đem lại lợi suất đầu tƣ hiệu quả hơn",
www.encycogov.com, Mathiesen [2002].
"Corporate governance giải quyết vấn đề cách thức các nhà cung cấp tài chính
cho doanh nghiệp đảm bảo quyền lợi của mình để có thể thu về lợi tức từ các
khoản đầu tƣ của mình", The Journal of Finance, Shleifer và Vishny [1997, tr.
737].
"Corporate governance là hệ thống ngƣời ta xây dựng để điều khiển và kiểm
soát các doanh nghiệp. Cấu trúc Corporate governance chỉ ra cách thức phân phối
quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới doanh
nghiệp nhƣ Hội đồng quản trị, Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên
quan. Corporate governance cũng giải thích rõ qui tắc và thủ tục để ra các quyết
định liên quan tới vận hành doanh nghiệp. Bằng cách này, Corporate governance
cũng đƣa ra cấu trúc thông qua đó ngƣời ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả
phƣơng tiện để đạt đƣợc mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc", OECD
4/1999.
[7]
"Corporate governance có thể đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp là quan hệ của một
doanh nghiệp với các cổ đông, hoặc theo nghĩa rộng là quan hệ của doanh nghiệp
với xã hội...", Financial Times [1997].
"Corporate governance nhắm tới mục tiêu thúc đẩy sự công bằng doanh
nghiệp, tính minh bạch và năng lực chịu trách nhiệm" J. Wolfensohn, Cựu Chủ
tịch World bank 6/1999.
"Corporate governance là chủ đề mặc dù đƣợc định nghĩa mờ nhạt nhƣng xem
nhƣ đối tƣợng, mục tiêu và thể chế để đảm bảo điều tốt đẹp cho cổ đông, nhân
viên, khách hàng, chủ nợ và thúc đẩy danh tiếng, vị thế của nền kinh tế” Maw và
các cộng sự [1994].
Hội đồng Quản trị đối với công ty và cổ đông.
1.2. Ảnh hƣởng của nhà đầu tƣ tổ chức đến quản trị công ty
1.2.1. Khi nhà đầu tư tổ chức tham gia vào quản trị công ty
Ở nhiều quốc gia thì sở hữu tổ chức đã tăng đáng kể trên thị trƣờng chứng
khoán trong suốt nữa sau của thế kỷ 20. Chẳng hạn, ở Mỹ, tổng mức sở hữu tổ
chức đã tăng từ 6.1% lên thành hơn 50% ở năm 2002 (Board of Governors of the
Federal Reserve System, 2003). Tài sản của tổ chức sở hữu cũng tăng trong những
thị trƣờng khác. Chẳng hạn, tất cả tài sản tài chính nắm giữ bởi các tổ chức đầu tƣ
trong EU đã tăng hơn 150% trong giai đoạn 1992-1999 (Conference Board, 2002).
Mặc dù các tổ chức đầu tƣ không đóng vai trò quan trọng trong thị trƣờng mới
nổi, nhƣng sự cải tiến trong tiền lƣơng hƣu và sự tƣ nhân hóa đã bắt đầu ảnh
hƣởng đến nguồn tài trợ của các tổ chức, từ đó ảnh hƣởng đến thị trƣờng vốn của
các nền kinh tế này. Ví dụ, các quỹ hƣu bổng nội địa tuy là nhà những cổ đông
thiểu số nhƣng lại quan trong nhất đối với các công ty đại chúng. Những quỹ hƣu
này cũng là nguyên nhân chính gây nên những khoản nợ cho công ty (Iglesias-
[9]
Palau, 2000; Lefort and Walker, 2000). Để xem xét sự khác nhau trong những sử
hữu tổ chức ở các thị trƣờng, chúng tôi quan tâm đến vai trò của cổ đông tổ chức,
họ đang tăng quyền kiểm soát trong nền kinh tế.
Vai trò của cổ đông tổ chức trong nền kinh tế vẫn đang đƣợc tranh luận. Các
cổ đông – những ngƣời sở hữu công ty – sẽ có những quyền nhƣ quyền bầu hội
đồng quản trị. Và hội đồng sẽ đại diện cho cổ đông để giám sát ban giám đốc. Nếu
các cổ đông tổ chức không vừa lòng với cách làm của hội đồng quản trị, với hoạt
động công ty, họ sẽ có ba sự lựa chọn: (1) Rời khỏi công ty, bán cổ phần v v ; (2)
Vẫn giữ cổ phần nhƣng sẽ lên tiếng sự bất bình của họ; (3) Vẫn giữ cổ phiếu và …
không làm gì cả.
Và một câu hỏi đƣợc đặt ra là: Ở những môi trƣờng nào thì sẽ khiến cho các tổ
chức đầu tƣ lựa chọn 1 trong 3 lựa chọn trên.
1.2.1.1. Vai trò giám sát của nhà đầu tư tổ chức
cho vay. Các nghiên cứu trƣớc đó đã phản bác rằng những nhà cho vay chiếm một
vị trí quản trị đặc biệt trong khả năng quản lý và giám sát.Đã có những tranh luận
rằng, trong một số trƣờng hợp cụ thể, các ngân hàng có lợi thế tƣơng đối trong
giám sát công ty vì họ có những thông tin nội bộ về công ty. Các ngân hàng khi
nắm giữ cổ phần công ty sẽ có những thông tin tốt hơn những thông tin sẳn có của
những ngƣời cho vay khác trên thị trƣờng, nên sẽ giảm đƣợc chi phí đại diện của
việc tài trợ nợ (Fama, 1985). Các nghiên cứu về những quốc gia giới hạn việc đầu
tƣ của các tổ chức cho vay đã cung cấp những bằng chứng thực tế cho quan điểm
này. Chẳng hạn, ở Mỹ, trong phần lớn thời gian của thế kỷ 20, luật pháp cấm các
ngân hàng nắm giữ cổ phiếu trong công ty. Tuy nhiên, ở Nhật Bản thì các ngân
hàng có thể nắm giữ một lƣợng lớn cổ phiếu, ngay cả trong những công ty mà họ
cho vay.Nhƣ vậy, theo lý thuyết này, chi phí đại diện ở Nhật Bản sẽ thấp hơn ở
Mỹ do các ngân hàng nhật bản có quyền kiểm soát tốt hơn.
Prowse (1990) và Kaplan and Minton (1994) đã đƣa ra những bằng chứng từ
thị trƣờng Nhật Bản để ủng hộ lý thuyết trên. Nhƣng sau đó Kang và Stulz (2000)
đã báo cáo rằng, suốt thập niên 90, các công ty phụ thuộc và các cổ đông ngân
hàng có sự thể hiện kém hơn những công ty khác. Lý do đƣợc đƣa ra là các ngân
[11]
hàng quan tâm đến những lợi ích ngắn hạn từ việc cho vay hơn là lợi ích dài hạn
của cổ đông công ty. Boehmer (1999), Franks và Mayer (1998) đã đƣa ra những
bằng chứng ở Đức các ngân hàng chỉ đóng một vai trò khiêm tốn trong sự thể hiện
của công ty. Nhƣ vậy vai trò của các ngân hàng trong quản trị công ty, trong hiệu
quả hoạt động của công ty là chƣa rõ ràng.
1.2.1.2. Lý thuyết và bằng chứng về ảnh hưởng của nhà đầu tư tổ chức đến tính
minh bạch của công ty
Một vai trò khác của nhà đầu tƣ tổ chức là khả năng tăng tính minh bạch thông
tin trong công ty, theo Chidambaran và John (2000), các nhà đầu tƣ tổ chức lớn có
thể đem những thông tin kiếm đƣợc từ việc quản lý cho các cổ đông khác. Nhƣng
điều này chỉ khả thi khi họ năm giữ một lƣợng cổ phiếu đủ lớn trong một thời gian
thay đổi của sở hữu tổ chức, và sẽ sẳn sàng sa thải các nhà quản lý.
Holmstrom và Tirole (1993) cho rằng ngoài những lợi ích trên, thì việc gia
tăng sở hữu tổ chức cũng gánh chịu những chi phí. Chẳng hạn việc gia tăng sở
hữu tổ chức, khi các tổ chức này bán cổ phần sẽ làm cho giá cổ phần giảm sút
mạnh, và làm giảm tính thanh khoản của cổ phiếu, từ đó khiến các nhà đầu tƣ
khác cũng muốn bán cổ phần đi. Các bài nghiên cứu đã tìm mối liên hệ giữa tính
thanh khoản cổ phiếu và vai trò giám sát (kiểm soát) của tổ chức sở hữu. Có quan
điểm cho rằng đây là mối tƣơng quan đối nghịch. Trong lịch sữ, các nhà đầu tƣ tổ
chức thích thanh khoản hơn là kiểm soát bởi vì khả năng thực hiện kiểm soát việc
quản lý doanh nghiệp đòi hỏi một sự sụt giảm trong tính thanh khoản, đây là chi
phí khó chấp nhận đƣợc đối với nhà đầu tƣ tổ chức (Coffee, 1991). Ví dụ nhƣ ở
Mỹ, khi hầu hết các quy định đều khuyến khích tính thanh khoản, thì cũng đồng
thời khuyến khích việc phân tán quyền sở hữu cổ phần (Bhide, 1994). Các nhà
làm luật lúc đó cho rằng, điều này sẽ làm giảm khả năng các cổ đông và nhà quản
lý thiết lập mối quan hệ riêng, từ đó có thể trao đổi những thông tin nội bộ nhằm
thu lợi riêng. Nói cách khác, giao dịch nội bộ và không minh bạch thông tin sẽ
làm tăng tính thanh khoản cho những cổ đông tiêu cực, và giảm đi vai trò giám sát
của các cổ đông tích cực, từ đó tác động xấu đến quản trị công ty.
Ủy ban chứng khoán đã ban hành những quy định về tính minh bạch. Hơn thế
nữa, các tổ chức đầu tƣ thƣờng chỉ đƣợc nắm giữ lƣợng cổ phần <10%. Quy định
[13]
nằm nhằm tránh việc các tổ chức giao dịch ngắn hạn, hoặc giao dịch nội bộ. Điều
này sẽ làm tăng các vấn đề đại diện.
Tóm lại, có nhiều chi phí liên quan hết hoạt động cổ đông và sự gia tăng trong
sở hữu tổ chức. Hơn nữa, tồn tại những quy định làm hạn chế quản trị công ty nhƣ
phân tán quyền sở hữu và làm tăng tính thanh khoảng. Nhƣng điều đó đồng thời
cũng làm hạn chế việc đầu tƣ. Mặc cho việc phải đối mặt với những hạn chế này,
trong những năm gần đây, những nhà đầu tƣ tổ chức và những cổ đông lớn khác
vẫn tìm cách tăng khả năng giám sát của mình dù khi quyền kiểm soát bị hạn chế.
đƣợc vấn đề ở Disney.
Mặc dù các tổ chức đầu tƣ đã bắt đầu hành động, nhƣng số khác nhìn chung
vẫn miễn cƣỡng khi tham gia các hoạt động này để chống lại các công ty mà họ
góp vốn, vì họ sợ sẽ bị trả đủa.
Nhƣ chúng tôi đã chỉ ra trƣớc đó, do những quan hệ hiện tại cũng nhƣ là
những quan hệ tiềm năng với công ty trong tƣơng lai, các tổ chức có thể buộc phải
bỏ phiếu ủng hộ ban quản lý ngay cả khi việc này trái với lợi ích của họ (Pound
(1988), và Brickley, Lease, và Smith (1988)). Nhƣ vậy, có thể giả định rằng một
số nhà đầu tƣ mâu gặp mâu thuẩn trong việc giám sát nhà quản lý. Tuy nhiên,
Romano (1993) không tìm thấy bằng chứng hỗ trợ cho giả thiết rằng các quỹ
lƣơng hƣu tƣ nhân thì giám sát nhà quản lý hiệu quả hơn bởi vì họ tự quản lý
nguồn vốn của họ, trái ngƣợc với các quỹ hƣu trí công cộng vì các quỹ này thƣờng
ủy quyền quyền quản lý cho tổ chức quản lý khác. Romano đã trích dẫn một cuộc
khảo sát các nhà đầu tƣ tổ chức từ IRRC, rằng không có sự khác biệt đáng kể
trong chính sách biểu quyết của các quỹ hƣu trí tƣ nhân và công cộng.
Một số nghiên cứu khác đã cố gắng để xác định sự khác biệt giữa các tổ chức
đầu tƣ ảnh hƣởng trong hoạt động của cổ đông. Trong một cuộc khảo sát 40 quỹ
hƣu bổng lớn nhất, 40 tổ chức quản lý đầu tƣ lớn nhất, và 20 quỹ từ thiện lớn nhất,
Useem, Bowman, Myatt, và Irvine (1993) đã báo cáo rằng có sự khác biệt lớn
giữa các tổ chức đầu tƣ, kể cả những tổ chức cùng loại. Chẳng hạn, đối với các
quỹ đầu tƣ chỉ số, chúng ta có thể hi vọng rằng họ sẽ hành độc tích cực hơn bởi vì
họ không thể bán cổ phiếu của công ty, vì thế làm cho tiếng nói của họ bị hạn chế
trong công ty.
[15]
Sự hiệu quả và phụ hợp của những hành động tích cực của những tổ chức đầu
tƣ là vấn đề đang đƣợc tranh luận. Những ngƣời ủng hộ cho rằng hành động tích
cực của các nhà đầu tƣ tổ chức sẽ cải thiện quản trị công ty, đây là nhân tố tích
cực bởi vì việc giám sát của các tổ chức sẽ mang lại lợi ích cho tất cả cổ đông. Họ
cho rằng sự giám sát này khuyến khích các giám đốc tập trung vào công ty trong
nghiên cứu gặp khó khăn trong quá trình lấy mẫu quan sát.
Các bằng chứng về ảnh hƣởng của các hoạt động của cổ đông đã cho ra nhiều
kết quả khác nhau. Mặc dù các nghiên cứu tìm thấy những phản ứng của thị
trƣờng từ những hành động của cổ đông trong ngắn hạn, nhƣng có rất ít các bằng
chứng phản ánh điều này trong dài hạn. Các nghiên cứu đã tìm thấy những thay
đổi trong hoạt động của công ty dƣới áp lực của cổ đông, nhƣng khó mà thiết lập
đƣợc một mối quan hệ nhân quả cho điều này.
1.2.2.3. Ảnh hưởng của môi trường pháp lý.
Hệ thống luật của quốc gia sẽ ảnh hƣởng đến vai trò của cổ đông tổ chức. Ví
dụ nhƣ, khả năng giám sát của tổ chức có thể bị giới hạn trong môi trƣờng pháp lý
và các quy định. Ở một số nƣớc châu Âu, hệ thống bầu cử đòi hỏi các cổ đông
phải “share blocking”, tức là các cổ đông muốn bỏ phiếu thì phải có mặt tại cuộc
họp thƣờng niên (ngƣợc lại, ở Mỹ, chỉ cần nắm giữ cổ phiếu kể từ ngày chốt danh
sách cổ đông là đƣợc bầu). “share blocking” giúp cho kiểm soát cổ đông tốt hơn,
những sẽ giảm tính thanh khoản.
Thật thú vị, Palepu, Khanna, và Kogan (2002) cho thấy rằng hai nƣớc phụ
thuộc lẫn nhau về kinh tế thì có xu hƣớng áp dụng luật về quy chế quản trị công ty
giống nhau. Tuy nhiên, ở mỗi nƣớc, sự bảo vệ cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu
số là một phần quan trong của quản trị công ty, nó quyết định khả năng công ty
tiếp tục thu hút nguồn vốn nƣớc ngoài. (La Porta, và cộng sự, 1997). Vì các công
ty rất cần tăng vốn, nên các tổ chức nƣớc ngoài sẽ quyết định mạnh mẽ đến sự bảo
vệ cổ đông và quản trị công ty, họ sẽ đóng vai trò xúc tác để cải thiện môi trƣờng
pháp lý của các nƣớc mới nổi.
1.2.3. Cấu trúc sở hữu
Cấu trúc sở hữu và cơ cấu quản trị thì khác nhau ở các nền kinh tế trên thế
giới. Một số quốc gia thì cấu trúc sở hữu phân tán, một số khác thì tập trung, và
[17]
một số khác nƣớc thì ngƣời lao động ảnh hƣởng lớn đến công ty. Trong nữa sau
1.2.3.2. Mức độ minh bạch thông tin cổ đông lớn
Mức độ minh bạch của cổ đông lớn không những giúp dự đoán những chi phí
đại diện có thể xảy ra, mà còn giúp giảm thiểu các chi phi này, qua đó cải thiện
quản trị công ty. Có hai cơ chế:
Cơ chế đầu tiên, công bố thông tin giao dịch của cổ đông lớn, điều này
có thể giúp làm rõ những giao dịch của cổ đông lớn bằng thông tin nội
bộ, hoặc những hình thức lạm dụng thị trƣờng khác. Quan trọng hơn,
công bố thông tin của ngƣời kiểm soát cuối cùng sẽ giúp dễ dàng phát
hiện những hành động chuyển tài sản của công ty.
Đối với những công ty có quyền sở hữu phân tán, thì việc minh bạch thông tin
sẽ giúp thị trƣờng dễ dàng kiểm soát công ty, thông qua cơ chế thôn tín, tiếp quản.
Cơ chế thứ hai, đó là tạo điều kiện giao tiếp giữa công ty và cổ đông,
giữa các cổ đông với nhau. Điều này sẽ giúp giảm chi phí đại diện một
cách gián tiếp, khi các cổ đông giao tiếp tốt với nhau, họ sẽ trao đổi
những suy nghĩ của mình cho nhau, từ đó đi đến những quyết định hiệu
quả hơn từ những quyền của mình.
1.2.4. Ảnh hưởng của nhà đầu tư nước ngoài đến quản trị công ty
Cổ phần sở hữu bởi những nhà đầu tƣ tổ chức nƣớc ngoài thƣờng có một liên
hệ quan trọng đến quản trị công ty ở cấp độ công ty, cũng nhƣ cấp độ quốc gia, dù
nguyên nhân của mối hệ này khó mà xác định chính xác. Một mặt, những doanh
nghiệp nói riêng hay một quốc gia nói chung có thể đƣợc thúc đẩy cải thiện hệ
thống quản trị nhằm mục đích thu hút hơn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Mặt khác, gia
tăng đầu tƣ từ những tổ chức nƣớc ngoài có thể đƣa đến những thể chế mới có tác
động thay đổi trong quản trị.
Dù cho nguyên nhân là gì, thì việc gia tăng dòng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đã ảnh
hƣởng lớn đến nhiều nền kinh tế, đặc biệt là những nền kinh tế mới nổi, nơi mà
nhu cầu vốn đang gia tăng. Theo nhƣ báo cáo gần đây của IMF, phát hành trái
phiếu, vốn cổ phần, (syndicated loans) ở những nền kinh tế mới nổi đã tăng đến
32% trong năm 2000 vào khoảng 216 triệu đô la. Chỉ riêng vốn cổ phần tăng 80%
lên cung cầu rõ ràng đang giúp cải thiện hệ thống quản trị. Những chứng cứ đã
cho thấy có một mối liên hệ giữa sự thay đổi của cấu trúc quản trị và thay đổi của
đầu tƣ nƣớc ngoài.
[20]
Các dẫn chứng chỉ ra mối tƣơng quan giữa giá trị thị trƣờng và quản trị công ty
trong những công ty Nga, Hàn Quốc. Tƣơng tự với những khám phá này, Klapper
và Love ( 2002) biện luận rằng những điều khoản về mức độ quản trị doanh
nghiệp là quan trọng hơn trong những đất nƣớc có môi trƣờng luật pháp yêu kém.
Hơn thế nữa, Aggarwal, Klapper and Wysocki (2003) nhận thấy rằng những quỹ
tƣơng trợ của Mĩ đầu tƣ nhiều hơn vào những đất nƣớc mà cổ đông có quyền
mạnh mẽ cũng nhƣ khuôn khổ luật pháp vững mạnh. Trong những đất nƣớc này,
quĩ tƣơng trợ cũng có sự phân biệt dựa trên nền quản trị cơ bản của công ty,họ
đầu tƣ nhiều hơn vào những doanh nghiệp có cấu trúc quản trị tốt hơn.
Những nghiên cứu trong những doanh nghiệp nƣớc ngoài ỡ Mĩ cũng chỉ ra
rằng những nhà đầu tƣ định chế thích hệ thống quản trị tốt hơn. Một số nghiên cứu
(Coffee, 1999, 2002; Stulz, 1999; Reese and Weisbach, 2002; Doidge, Karolyi
and Stulz, 2003) đã tranh luận về việc doanh nghiệp đƣợc niêm yết chéo ở Mĩ
giảm đƣợc những vấn đề đại diện lien quan tới việc những cổ đông nắm quyền
kiểm soát đang cố gắng thôn tín những cổ đông thiểu số. Nhƣ vậy, những doanh
nghiệp Mỹ đƣợc hƣởng sự bảo vệ cổ đông mạnh hơn, nên cổ đông của những
công ty niêm yết chéo vào thị trƣờng Mỹ cũng có nhiều lợi ích hơn. Những dẫn
chứng khác cũng thống nhất với quan điểm này. Doidge,Karolyi, và Stulz cũng
nhận định rằng những công ty niêm yết chéo vào thị trƣờng Mỹ có giá trị cao hơn
những công ty khác cũng cùng quốc gia nhƣng không niêm yết chéo ở Mỹ. Reese
and Weisbach thấy rằng lợi ích của việc niêm yết chéo cũng dành cho những cổ
đông thiểu số tại đất nƣớc của họ.
Eleswarapu and Venkataraman (2003) đƣa ra những dẫn chứng rằng chi phí
giao dịch của những công ty đƣợc niêm yết chéo ở Mĩ phụ thuốc vào môi trƣờng
quản trị doanh nghiệp tại đất nƣớc sở tại của những công ty này.
trên bốn khía cạnh chính trong quản trị doanh nghiệp: quyền-nghĩa vụ của cổ
đông, các quy định để chống thốn tín, tính công khai, cấu trúc ban quản trị.
Ở Nga, học viện luật và quản trị doanh nghiệp đã đánh giá công ty dựa trên
tính hiệu quả trong việc quản trị và đƣa ra xếp hạng. Standard and Poor’s thì phát
triển một hệ thống xếp hạng quản trị cho những thị trƣờng mới nổi. Hơn nữa, thời
gian gần đây, ít nhất là 4 hệ thống xếp hạng đã công bố thông tin xếp hạng của các
[22]
công ty Mỹ nhƣ: The Corporate Library,GovernanceMetrics, Institutional
Shareholder Services, và Standard and Poor’s.
Sự tồn tại của những hệ thống này này phản ánh nhu cầu ngày càng cao về
thông tin quản trị trong doanh nghiệp của những nhà đầu tƣ tổ chức trƣớc khi họ
đƣa ra quyết định đầu tƣ của mình.
Quản trị công ty cũng đƣợc phản ảnh qua tính thanh khoản của thị trƣờng
chứng khoán. Frost, Gordon và Hayes (2001) đã tìm ra bằng chứng rằng tính minh
bạch của hệ thống thị trƣờng chứng khoán thì tƣơng quan tích cực đến tính thanh
khoản của thị trƣờng.
Mặc cho các hoạt động bán cổ phần của nhà đâu tƣ tổ chức, cũng nhƣ các hoạt
động cụ thể của công ty nhằm mục đích cải thiện quản trị công ty, thì hiện vẫn còn
áp lực lớn về cải cách quy chế quản trị ở cả những nƣớc phát triển và ở thị trƣờng
mới nổi. Những sự kiện gầy đây nhƣ sự sụp độ đổ của Enron, Worldcom đã làm
dấy lên mối quan tâm hơn về cải cách quản trị công ty.
1.3. Ảnh hƣởng của quản trị công ty đến giá trị doanh nghiệp
Hẳn chúng ta vẫn còn nhớ những vụ bê bối của các công ty lớn nhƣ Adelphia,
Enron và WorldCom, những vụ này đều có liên quan đến quản trị công ty. Vậy
quản trị công ty ảnh hƣởng đến giá trị công ty nhƣ thế nào?
Quản trị công ty ảnh hƣởng đến giá trị công ty thông qua các biến: mức độ tập
trung trong quyền sở hữu, mức sở hữu nội bộ, vai trò của hội đồng quản trị.
1.3.1. Mức độ tập trung của quyền sở hữu
Cấu trúc vốn bao gồm có vốn cổ phần và nợ. Theo lý thuyết, các công ty sẽ lựa
hết là rơi vào tay các cổ đông. Ngƣợc lại, khi tỷ lệ nắm giữ của nhà quản lý tăng,
họ sẽ có xu hƣớng làm việc tốt hơn vì khi đó, họ sẽ đƣợc hƣởng lợi ích nhiều hơn
từ số cổ phần họ nắm giữ (Jensen and Meckling, 1976, Burkart, Gromb, and
Panunzi, 1997).
Tuy nhiên, Hermalin and Weisbach (1991), McConnell and Servaes (1990)
and Morck, Shleifer and Vishny (1988) cho thấy rằng mối quan hệ giữ sở hữu cổ
đông nội bộ và giá trị công ty là mối quan hệ phi tuyến. Khi mức sở hữu tăng lên
thì sẽ làm tăng giá trị công ty, nhƣng khi mức độ sở hữu tập trung quá cao, thì giá
trị công ty lại giảm.
[24]
Cụ thể, Morck và các đồng nghiệp (1988), sử dụng mẫu là các công ty lớn, đã
cho thấy mối quan hệ giữ sở hữu nội bộ và chỉ số Tobin’s Q là tích cực khi mức
sở hữu dƣới 5% hoặc khi mức sở hữu cao hơn 25%. Còn nếu mức sở hữu tăng từ
5% lên 25% thì giá trị Tobin’Q lại giảm. Ngƣợc lại, McConnell và Servaes (1990)
khi sử dụng mẫu là các công ty lớn và nhỏ, thì lại tìm ra rằng mối quan hệ giữa sở
hữu nội bộ và giá trị công ty có đồ thị hình chữ U ngƣợc và giá trị công ty đạt
đƣợc tối đa khi mức sở hữu là khoảng 40-50%. Kole (1995) đã tìm thấy sự khác
biệt này là do kích thƣớc công ty, và giá trị tối ƣu của mức sở hữu ở những công
ty nhỏ thì cao hơn ở những công ty lớn. Short và Keasey (1999) phân tích mối
quan hệ giữa sở hữu nội bộ và giá trị công ty ở Anh, với mẫu nghiên cứu là 225
công ty niêm yết ở Anh trong thời kì 1988-1992, và phát hiện ra rằng, sở hữu nội
bộ có quan hệ tích cực với giá trị công ty khi mức sở hữu thấp hơn 12% hoặc cao
hơn 40%, và có mối tƣơng quan âm khi mức sở hữu nằm trong khoảng 12-40%,
hai ông cho rằng kết quả này là do sự khác biệt về thể chế ở Anh so với các đối
tác khác.
Tóm lại, các nhà nghiên cứu đồng ý rằng mối quan hệ giữ sở hữu nội bộ và giá
trị công ty là mối quan hệ phi tuyến, nhƣng vẫn chƣa nhất trí mối quan hệ này là ở
dạng hàm nào.
1.3.3. Vai trò của hội đồng quản trị
Đầu tiên là kiến thức quản trị công ty. Cách đây không lâu thì cụm từ “quản
trị công ty” đã khá phổ biến và quen thuộc trong cộng đồng doanh nghiệp Việt
Nam. Tuy nhiên, rất ít ngƣời thật sự hiểu đúng nghĩa về chúng. Họ thƣờng hay
nhầm lẫn hai khái niệm “quản trị công ty” và “quản lý công ty”, và họ cũng chỉ
hiểu có nghĩa đại loại nhƣ là kiểm soát điều hành hoạt động của công ty. Cộng
đồng doanh nghiệp đã là vậy, cho nên giới nhà báo và các phƣơng tiện thông tin
đại chúng cũng không hiểu khá hơn. Nguyên nhân của điều này một phần cũng là
do giáo dục và đào tạo ở những bậc cao của Việt Nam chƣa có nghiên cứu về
quản trị công ty, và cũng chƣa thật sự quan tâm đến vấn đề này.
Thứ hai là các khuôn khổ pháp lý liên quan, trong nhiều năm vừa qua chính
phủ Việt Nam đã đƣa ra nhiều văn bản pháp lý mà nó liên quan trực tiếp đến các