Hoạt động tín dụng cho vay tiêu dùng và một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà TP Hồ Chí Minh - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
20 năm sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước ta đã có những
chuyển biến sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực văn hoá đời sống kinh tế xã hội.
Chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng bền vững tạo tiền đề cho các hoạt động
đầu tư, xây dựng, kinh doanh, buôn bán…phát triển, tạo thêm nhiều việc làm
góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế thị trường, hàng hoá tiêu dùng trở nên phong phú,
đa dạng với nhiều chủng loại, mẫu mã khác nhau phù hợp với nhu cầu người
mua. Tuy nhiên với mức thu nhập hiện nay, phần lớn người tiêu dùng không
thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm cùng lúc, đặc biệt là các vật dụng
đắt tiền. Nắm bắt được thực tế đó, các Ngân hàng đã thực hiện cung cấp các
dịch vụ cho vay tiêu dùng dưới nhiều hình thức nhằm tạo điều kiện cho khách
hàng có thể thoả mản nhu cầu của mình trước khi có khả năng thanh toán. Và
chỉ trong một thời gian ngắn khi các sản phẩm này ra đời, số lượng khách
hàng tìm tới Ngân hàng không ngừng tăng lên đã tạo nguồn thu nhập không
nhỏ cho hệ thống Ngân hàng. Mặc dù vậy, so với các hoạt động tín dụng khác
thì cho vay tiêu dùng vẫn chiếm một tỷ trọng vô cùng nhỏ bé cả về doanh số
cho vay lẫn dư nợ cho vay và chưa thực sự phát huy được vai trò vốn có của
nó. Với tư cách là trung gian quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế, các Ngân
hàng phải làm gì để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho vay tiêu dùng, trở thành
kênh kết nối hiệu quả giữa nguồn vốn huy động được với nhu cầu bị giới hạn
bởi khả năng thanh toán từ đó tạo ra lợi nhuận cho mình và cho sự phát triển
chung của toàn xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động cho vay tiêu dùng trong
đời sống xã hội nói chung và đối với toàn hệ thống Ngân hàng nói riêng, sau
một thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà TP Hồ Chí Minh
1
(HDBank) chi nhánh Hà Nội, kết hợp với những kiến thức trong quá trình học
tập, em đã chọn: “Hoạt động tín dụng cho vay tiêu dùng và một số giải
pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát
triển Nhà TP Hồ Chí Minh ” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp

tăng trưởng ngày càng mạnh bởi khoản tích luỹ của nhóm này tuy ít song thu
nhập trong tương lai của họ ổn định có thể chi trả cho những nhu cầu hiện tại.
+ Những cá nhân có thu nhập cao: Những người này thường cần tới
những khoản vay với tư cách là các khoản phụ trợ linh hoạt, trợ giúp thêm các
khoản thanh toán đặc biệt khi tiền của họ đã đầu tư vào các khoản đầu tư dài
3
hạn. Mặc dù việc vay mượn nhằm mục đích tiêu dùng của họ chỉ thể hiện một
tỷ trọng nhỏ trong tổng số tài sản mà họ sở hữu nhưng lại là một món tiền lớn
so với các nhóm khách hàng khác nên các ngân hàng rất quan tâm tới nhóm
khách hàng này.
- Phân theo tình trạng công tác hay lao động: Nhu cầu tiêu dùng của
các cá nhân còn phụ thuộc rất nhiều tính chất công việc, nghề nghiệp. Xét theo
khía cạnh này chúng ta có những nhóm khách hàng:
+ Cán bộ công nhân viên chức.
+ Những người làm công việc kinh doanh riêng.
+ Những người hành nghề chuyên nghiệp ( Bác sĩ, ca sĩ, tư vấn… ).
+ Những người lao động tự do.
Trên thực tế, những khách hàng thuộc ba nhóm khách hàng đầu tiên có
thu nhập cao và ổn định hơn so với nhóm khách hàng cuối nên nhu cầu vay
tiêu dùng cũng chủ yếu phát sinh từ 3 nhóm trên.
1.1.3. Đặc điểm cho vay tiêu dùng
- Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn
Các khách hàng tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng thường có
nhu cầu vốn không lớn lám. Đó là vì khi xác định mua sắm bất cứ vật dụng gì
người tiêu dùng phải có một khoản tích luỹ từ trước( vì không khi nào ngân
hàng cho vay 100% nhu cầu vốn). Tuy nhiên số lượng các khoản vay tiêu
dùng là lớn do đối tượng của vay tiêu dùng là mọi tầng lớp dân cư trong xã
hội.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất “ cứng nhắc”
Không như các khoản vay kinh doanh hiện nay có lãi suất có thể thay đổi

gia đình.
5
+ Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho
việc trang trải các chi phí như chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi
phí cho học hành, giải trí, du lịch…
- Căn cứ vào phương thức hoàn trả
+ Cho vay tiêu dùng trả góp: Đây là hình thức cho vay trong đó người đi
vay trả nợ (gồm cả gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn
nhất định trong thời hạn cho vay, phương thức này thường áp dụng cho các
khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng kỳ của người đi vay không đủ để
thanh toán hết một lần số nợ vay.
+ Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Đây là hình thức cho vay mà tiền vay
được khách hàng thanh toán chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản
vay tiêu dùng phi trả góp được cấp cho các nhu cầu vay nhỏ và thời hạn không
dài.
+ Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là khoản vay trong đó ngân hàng cho
phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc ngân hàng phát hành loại séc cho
phép thấu chi dựa trên số tiền trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này,
trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và
thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện
việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.
- Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ:
+ Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng
mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá
hay dịch vụ cho người tiêu dùng.
6
Sơ đồ 1: Mô hình các bước tiến hành cho vay tiêu dùng gián tiếp
(1)

(Nguồn: Thời báo ngân hàng số 15 tháng 4/2006)

Bên cạnh những ưu điểm trên, cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số
nhược điểm sau:
• Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán
chịu.
• Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán
chịu hàng hoá.
• Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong
đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu
nợ từ những người này. Cho vay tiêu dùng trực tiếp thường được thực hiện
theo sơ đồ sau :
Sơ đồ 2: Mô hình các bước tiến hành cho vay tiêu dùng trực tiếp
(Nguồn: Thời báo ngân hàng số 15 tháng 4/2006)
Trong đó:
(1): Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay.
8
Ngân hàng Công ty
bán lẻ
Người tiêu
dùng
(3)
(1)
(5)
(2)
(4)
(2): Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty
bán lẻ.
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán
lẻ.
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.

vốn vay
Nhằm mục đích phục vụ đời sống
như mua sắm hàng hóa, dịch vụ,
xây dụng và tu sửa nhà cửa…
Nhằm tài trợ cho việc xây dụng
nhà xưởng, mua sắm trang thiết
bị máy móc, nguyên vật liệu
phục vụ sản xuất kinh doanh
Đặc điểm - Các khoản cho vay tiêu dùng
thường có lãi suất “cứng nhắc”
- Các khoản vay tiêu dùng có độ
rủi ro cao
- Quy mô mỗi khoản vay tiêu dùng
nhỏ nhưng số lượng các khoản vay
tiêu dùng lớn
- Các khoản vay tiêu dùng mang
lại lợi nhận cao cho ngân hàng
- Chi phí các khoản vay tiêu dùng
thường lớn
- Các khoản vay kinh doanh có
lãi suất thay đổi theo điều kiện
thị trường
- Các khoản vay kinh doanh có
độ rủi ro thấp hơn
- Quy mô mỗi khoản vay lớn hơn
nhưng số lượng các khoản vay
nhỏ hơn
- Các khoản vay kinh doanh có
độ rủi ro thấp hơn nhưng mang
lại thu nhập thấp hơn cho ngân

ra thông suốt, đảm bảo sự phát triển bền vững, hạn chế những rắc rối tổn hại
đến lợi ích của các bên tham gia quan hệ vay mượn. Nếu hệ thống pháp luật
có quy định đầy đủ cụ thể các vấn đề về cho vay tiêu dùng sẽ thúc đẩy người
11
tiêu dùng tìm đến ngân hàng đồng thời cũng khuyến khích tính tích cực của
các ngân hàng tham gia lĩnh vực này. Ngược lại, nếu tất cả các quy định đều
mang tính chung chung không rõ ràng sẽ khiến cả ngân hàng và khách hàng
gặp nhiêu khó khăn trong việc đi đến một thỏa thuận chung.
Môi trường văn hóa như thói quen, tâm lý, trình độ học vấn, bản sắc dân
tộc (thể hiện qua những nét tính cách của người dân như thích tằn tiện hay ưa
hưởng thụ) hoặc các yếu tố về nơi ở, nơi làm việc…cũng ảnh hưởng lớn đến
thói quen chi dùng của người tiêu dùng.
Hoạt động cho vay tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của hệ thống các chính
sách và chương trình kinh tế của nhà nước, nếu nhà nước tăng đầu tư hoặc đưa
ra các biện pháp thông thoáng để khuyến khích đầu tư trong nước và tăng đầu
tư nước ngoài như giảm các thủ tục rườm rà, giảm thuế cho các công ty mới
thành lập, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Đây rõ ràng là tiền đề
thuận lợi để phát triển cho vay tiêu dùng. Mặt khác các chính sách như giảm
thuế thu nhập, áp dụng lãi suất ưu đãi đối với cho vay hộ nông dân, hộ nghèo,
các hộ dân tộc ở miền núi, các chương trình xóa đói giảm nghèo nhằm thực
hiện công bằng xã hội. Tất cả các biện pháp này sẽ có ảnh hưởng đến cầu tiêu
dùng của dân cư trước mắt và lâu dài
Tuy nhiên, muốn thực hiện tốt tất cả những chủ trương chính sách và
những chương trình hành động trên cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa
các cấp, các nghành, các cơ quan, doanh nghiệp với nhau và giữa các tổ chức
đó với các ngân hàng thương mại.
12
1.1.6.2. Các nhân tố vi mô.
Những nhân tố vi mô ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng nằm
trong phạm vi ngân hàng bao gồm các nhân tố khách quan từ phía khách hàng

bình thì việc thu hồi nợ của ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn do họ không
biết trước thời điểm sẽ nhận được thu nhập là khi nào, và bao giờ mới tích luỹ
đủ để trả nợ ngân hàng. Ngày nay, phần lớn các món vay tiêu dùng quy định
nguồn trả là thu nhập thường xuyên của khách hàng trong tương lai, ngoại trừ
các khoản cho vay ngắn hạn.
Tài sản đảm bảo là cơ sở pháp lý có thêm nguồn thu nợ thứ hai cho ngân
hàng ngoài nguồn thu nợ thứ nhất, mang tính dự phòng rủi ro. Mặc dù nắm
giữ tài sản đảm bảo song nếu khách hàng không trả nợ thì ngân hàng phải đối
mặt với rủi ro thu nhập vì muốn phát mại tài sản phải có thời gian và phải mất
chi phí khác liên quan, đó là chưa kể đến có thể tại thời điểm đó giá trị tài sản
trên thị trường không được duy trì như khi định giá để cho vay. Vì vậy, tài sản
đảm bảo không giữ vai trò quyết định trong việc khách hàng vay hay không
mà nó chỉ là một tiêu chuẩn để xét duyệt khi cho vay.
* Những yêu tố chủ quan:
Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng của
ngân hàng thương mại nằm trong các quy định và các định hướng phát triển
của ngân hàng. Nếu ngân hàng không có một định hướng toàn thể về phát
triển cho vay tiêu dùng thì cũng có nghĩa là không có một hoạt động nào dành
cho sự phát triển của hoạt động này.
Nội dung làm việc và chế độ thưởng phạt nghiêm minh cũng ảnh hưởng
nhất định đến hoạt động cho vay tiêu dùng, nội quy làm việc quy định nghiêm
ngặt sẽ nâng cao trách nhiệm của các cán bộ trong công việc cũng như thái độ
14
của họ đối với khách hàng. Việc thưởng phạt nghiêm minh sẽ khuyến khích
các cán bộ ngân hàng học hỏi, phấn đấu để nâng cao khả năng trình độ của
mình, những yếu tố trên không những tạo tâm lý thoải mái cho khách hàng khi
đến ngân hàng mà còn thu hút được sự quan tâm của số lượng lớn các khách
hàng đối với những sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
Nếu như đạo đức người vay được xếp vào vai trò hàng đầu các nhân tố
khách quan thì đạo đức cán bộ tín dụng cũng ở vị trí tương đương trong nhóm

trong khu vực và trên thế giới. Có được điều đó, bên cạnh sự nỗ lực của tất cả
các thành viên trong xã hội còn có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà
nước thể hiện trong việc hoạch định đường lối, chính sách theo hướng thông
thoáng hơn, phù hợp với tình hình chung trên thế giới.
Năm 2006, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng ổn định ở mức gần
8,2%, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn viện trợ phát triển chính
thức đạt mức kỷ lục (10,2 tỷ USD), xuất khẩu tăng trưởng cao với tổng kim
ngạch đạt 39,6 tỷ USD, thị trường chứng khoán bùng nổ với chỉ số VN –
Index đã lên tới trên 1000 điểm. Sự kiện Việt Nam chính thức là thành viên
của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) từ tháng 1 – 2007 và Tổng thống
Mỹ ký Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt Nam (PNTR) tạo
cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập bình đẳng với nền kinh tế thế giới.
Kinh tế phát triển đã thúc đẩy nhiều hoạt động, một trong số đó là hoạt
động tiêu dùng của người dân. Nếu như trước đây, mong ước của họ chỉ là “ăn
no mặc ấm” thì đến nay điều họ quan tâm là “ăn ngon mặc đẹp” và làm sao
đảm bảo cuộc sống tốt hơn cho bản thân và những người xung quanh. Mặc dù,
thu nhập hiện nay trong dân đã tăng nhưng chưa đồng đều, một bộ phận nhỏ là
có thu nhập cao còn lại là có thu nhập thấp và trung bình, số thu nhập này
16
thường không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu và họ phải đi vay. Nắm bắt được
thực tế đó, các tổ chức tín dụng đã thực hiện cung cấp các khoản cho vay tiêu
dùng dưới nhiều hình thức và quy mô, đáp ứng nhu cầu khác nhau của người
dân. Các Ngân hàng thương mại quốc doanh, trước đây, không quan tâm chú
trọng nhiều đến lĩnh vực cho vay tiêu dùng nên thường cung cấp những khoản
cho vay có quy mô nhỏ nhưng hiện nay đã bắt đầu nhìn ra tiềm năng to lớn
của thị trường này và có những chiến lược cạnh tranh hợp lý. Các Ngân hàng
thương mại cổ phần và ngân hàng nước ngoài thực hiện cho vay tiêu dùng khá
sớm (Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng nhà Hà Nội,
Sacombank…) với các sản phẩm như cho vay mua nhà, cho vay tiêu dùng đối
với các cán bộ công nhân viên chức, cho vay các tiểu thương … nhưng do quy

sãn sàng bước vào hội nhập quốc tế, tạo điều kiện cho các hoạt động của ngân
hàng nói chung và hoạt động cho vay tín dụng nói riêng ngày càng phát triển.
- Những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Nhằm tạo động lực thúc đẩy kinh tế đất nước vượt qua khó khăn thử
thách, tiếp tục quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và tạo môi trường
thuận lợi cho hoạt động sản xuất- kinh doanh, hoạt động tài chính- tiền tệ,
lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trưng, chính sách mới, phù
hợp với nhu cầu và nguyện vọng của người dân, trong số đó có quyết định
tăng số ngày nghỉ lên 2 ngày/tuần và quyết định tăng lương với mức tối thiểu
là 450.000 đồng/1lao động/1 tháng đã thúc đẩy hoạt động tiêu dùng của người
dân tăng mạnh
Hoạt động tiền tệ- tín dụng cũng đạt được những kết quả mới sau khi
chuyển từ ấn định lãi suất sang áp dụng lãi suất thỏa thuận, làm cho tăng
trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động- điều chưa từng xảy ra trong
18
các năm trước đó. Tâm lý nắm giữ USD giảm hẳn do tỷ giá VND/USD ổn
định, tốc độ tăng giá đồng USD năm 2005 là 1.2%, bằng một nửa tốc độ tăng
giá hàng tiêu dùng và bằng một nửa so với năm 2003.
Bảng 3: Tổng phương tiện thanh toán, huy động vốn và dư nợ tín
dụng so với GDP trong thời kỳ 1989-2004
(Nguồn: Thông cáo của ngân hàng nhà nước Viêt Nam3/2007)
* Những khó khăn
- Tỷ lệ thất nghiệp tại các đô thị còn khá lớn và diễn biến phức tạp
19
Bảng 4: Tỷ lệ thất nghiệp tại các thành phố lớn
Năm
Chỉ tiêu
2000 2001 2002 2003
Tp Hà Nội
7.95 7.39 7.08 6.84

Ngoài các yếu tố trên, các yếu tố về văn hoá- xã hội, cạnh tranh ngân
hàng… cũng có ảnh hưởng rất mạnh đối với hoạt động tín dụng nói chung và
hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng của các ngân hàng.
1.2.3. Các đối thủ cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng
Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đang ngày càng gay gắt, không chỉ
giữa các ngân hàng trong nước với nhau, mà còn giữa các ngân hàng trong
nước với ngân hàng nước ngoài, giữa các ngân hàng với các tổ chức tài chính.
Tuy nhiên trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng, các tổ chức tài chính chưa thực sự
là đối thủ cạnh tranh mạnh vì họ chưa quan tâm nhiều đến lĩnh vực này. Còn
lại, hầu hết các ngân hàng đều tích cực phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng,
bởi lẽ, hơn ai hết, họ ý thức được những lợi ích to lớn mà cho vay tiêu dùng
mang lại: việc tập trung tương đối vào khu vực dân cư đã tạo điều kiện thuận
lợi cho các ngân hàng tạo dựng danh tiếng trong khu vực này đồng thời có thể
thu hút nguồn vốn ổn định và tưng đối rẻ do đó, thu về một tỷ suất lợi nhuận
cao hơn.
Hiện nay, đối thủ cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng có thể
được chia thành 3 nhóm chính:
+Nhóm 1: Bao gồm các Ngân hàng thương mại quốc doanh. Đây là các
ngân hàng có ưu điểm nổi trội về vốn, thị trường, bề dày hoạt động và mạng
lưới đối tác. Các ngân hàng này có quy mô hợp lý, cơ cấu tối ưu, giá thành
huy động vốn rẻ vì vậy họ cạnh tranh mạnh về giá song điểm yếu của họ là
chất lượng và tinh thần phục vụ, tác phong làm việc còn mang nặng tính quan
liêu. Tuy nhiên, gần đây họ đã bắt đầu đầu tư vào nâng cấp chất lượng dich vụ
21
và cạnh tranh ngày càng mạnh trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng, tạo sức ép
ngày càng tăng lên các ngân hàng cổ phần.
+Nhóm 2: Gồm các ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng liên doanh
vốn. Các ngân hàng này nhằm vào các khách hàng truyền thống là cộng đồng
người nước ngoài tại Việt Nam do họ có ưu thế về chất lượng dịch vụ, nổi bật
trong số này là HSBC, ANZ…. Bên cạnh đó, trên tiến trình hội nhập WTO

chức tín dụng, cán bộ nhân viên trong chính tổ chức tín dụng đó thẩm định
quyết định cho vay. Tổ chức tín dụng cũng không được cho vay đối với bố,
mẹ, vợ, chồng, con của các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng
giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc)”. Như vậy, với quy
định mới này, những đối tượng trên sẽ không được vay (kể cả cho mục đích
tiêu dùng) tại những tổ chức tín dụng mà bản thân họ là người làm nhiệm vụ,
người giữ chức vụ hoăc có thân nhân là người trực tiếp làm nhiệm vụ hoặc giữ
chức vụ.
Bên cạnh các văn bản pháp quy quy định về cho vay tiêu dùng đối với
khách hàng, Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam cũng ban hành các văn bản pháp
luật quy định việc cho vay tiêu dùng đối với các cán bộ công nhân viên nhằm
mục đích chính đáng như nâng cấp nhà ở, mua phương tiện đi lại…
Tuy nhiên, các văn bản đó chỉ đưa ra những quy định chung nhất, khi
áp dụng vào thực tế hoạt động của các ngân hàng thì còn nhiều điểm thiếu,
chưa phù hợp. Do vậy, mỗi ngân hàng, tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và
đặc điểm của mỗi sản phẩm, dịch vụ cung cấp, đều đưa ra những quy định
riêng dựa trên cơ sở những quy định chung đó. Là một trong những Ngân
hàng thương mại cổ phần thực hiện hoạt động cho vay tiêu dùng ngay từ khi
23
nhu cầu của dân cư bắt đầu tăng, HDBank cũng đã ban hành một số quy định
cụ thể về hoạt động cho vay tiêu dùng thông qua thực tiễn hoạt động:
- Quyết định số 00163/QĐ-HĐQT ngày 08/02/2002 của hội đồng quản
trị Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Nhà TP HCM về “Quy chế cho
vay đối với khách hàng”, khoản 4 điều 6 quy định điều kiện vay vốn “Có khả
năng tài chính đủ đảm bảo thực hiện phương án kinh doanh, phương án phục
vụ đời sống và đủ trả nợ trong thời gian cam kết: Phải có vốn tự có tham gia
vào phương án kinh doanh, phương án phục vụ đời sống với tỷ lệ tối thiểu là
30% tổng chi phí thực hiện phương án kinh doanh, phương án phục vụ đời
sống đối với trường hợp cá nhân vay vốn”
- Quyết định số 00622/TCB-QĐ.TGĐ ngày 8/7/2002 của Tổng giám đốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status