MỞ ĐẦU
1. Tính cần thiết của đề tài
Trong những năm qua cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, việc
đa dạng hóa hình thức sở hữu là một trong những vấn đề mấu chốt của đổi
mới trong lĩnh vực kinh tế. Từ chỗ chỉ công nhận hai thành phần kinh tế cơ
bản (kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể), đến nay mọi doanh nghiệp, mọi
công dân được đầu tư, sản xuất, kinh doanh theo các hình thức do luật định và
được pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh theo các hình thức sở
hữu khác nhau được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình
đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở
hữu và quyền kinh doanh của doanh nghiệp; chuyển các DNNN kinh doanh
sang hoạt động theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc CTCP; bảo
đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinh doanh
của doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật; xóa bỏ bao cấp của
nhà nước đối với doanh nghiệp đã làm cho các thành phần kinh tế phát triểm
và góp phần ổn định xã hội. Một trong những nội dung của đa dạng hóa hình
thức sở hữu là vấn đề sắp xếp, đổi mới các công ty nhà nước (trước đây
thường gọi là DNNN).
Việc đổi mới, sắp xếp các công ty nhà nước đã được bắt đầu từ năm
1992, hiện nay, Chính phủ đang tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi
mới doanh nghiệp ở các Tập đoàn kinh tế, các Tổng Công ty. Quá trình đổi
mới, sắp xếp các doanh nhà nước đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ,
song vẫn tồn tại những vấn đề hậu sắp xếp, đổi mới cần phải được quan tâm,
giải quyết trên cả nước nói chung và ở Nghệ An nói riêng.
Ở Tỉnh Nghệ An, công tác CPH các DNNN về cơ bản đã hoàn thành,
tuy nhiên, vốn nhà nước trong các doanh nghiệp không thuộc đối tượng cần
nắm giữ vẫn chiếm tỷ lệ khá cao. Cơ chế quản lý vốn nhà nước trong các
1
doanh nghiệp nói chung và trong các CTCP nói riêng đã được đề cập ở nhiều
văn bản. Tuy vậy, vấn đề này còn có nhiều ý kiến khác nhau cần đi đến thống
tác quản lý vốn nhà nước trong các CTCP thuộc tỉnh Nghệ An.
Nhiệm vụ: Với mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ
yếu sau:
- Hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luận về quản lý vốn nhà nước.
- Đánh giá, phân tích thực trạng quản lý vốn nhà nước trong các CTCP
ở tỉnh Nghệ An; tìm ra các nhân tố, nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả
quản lý vốn nhà nước trong các CTCP. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn trong các CTCP Nghệ An, góp
phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các
CTCP và tình hình thực hiện quản lý vốn nhà nước tại các CTCP được chuyển
đổi từ công ty nhà nước thuộc tỉnh Nghệ An từ năm 2001 đến năm 2007.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta; Nghị quyết và các giải pháp tổ chức thực hiện cơ chế chính sách của của
Đảng bộ và chính quyền tỉnh Nghệ An nhằm phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp
khác như: tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh và tổng kết thực tiễn v.v
6. Ý nghĩa và những đóng góp của luận văn
Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới công tác quản lý vốn nhà nước
tại các công ty nhà nước chuyển đổi sang hoạt động cổ phần, góp phần đẩy
3
nhanh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững của tỉnh Nghệ
An.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo
cho các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả công tác
quản lý vốn nhà nước tại các CTCP trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Ngoài ra, luận
thay đổi đại lượng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng
thêm giá trị. Chính sự vận động ấy biến giá trị đó thành tư bản" [17, tr.228].
Khẳng định trên của C.Mác đã vạch rõ bản chất và chức năng của tư
bản (vốn) trong phát triển kinh tế. Bản chất của tư bản là giá trị; chức năng
của tư bản là sinh lời. Tuy nhiên, để giá trị trở thành tư bản và tư sản sinh lời
phải trải qua sự vận động. Thông qua sự vận động, tư bản sinh sôi nảy nở và
lớn lên không ngừng.
5
Ngày nay, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn không chỉ là yếu tố cần
thiết đối với quá trình sản xuất của các nước phát triển mà còn là yếu tố đóng
vai trò quan trọng của hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển.
Vì vậy, phạm trù vốn trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học
tiếp tục nghiên cứu và tiếp cận nó trên nhiều bình diện khác nhau.
Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, trong ấn phẩm Chú giải thuật ngữ kế
toán Mỹ, tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng, vốn là "tổng số tiền
biểu hiện nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để
tạo ra thu nhập và lợi tức" [16, tr.29].
Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong tác phẩm Lịch sử tư tưởng kinh tế,
I.Đ.Udanxốp và F.I.Pôlianxki kết luận: Vốn là "một trong ba yếu tố đầu vào
phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn). Vốn bao gồm các sản phẩm lâu
bền được chế tạo để phục vụ sản xuất (tức là máy móc, công cụ, thiết bị, nhà
cửa, kho dự trữ thành phẩm hoặc bán thành phẩm" [13, tr.11].
Ở Việt Nam, cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học cũng chỉ
ra rằng: Vốn là "tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh nhằm
sinh lợi" [32, tr.1126].
Những cách tiếp cận trên đây về vốn đã nêu rõ tính đa dạng, nhiều hình
thái tồn tại của vốn. Vốn có thể coi là tiền hay tài sản được giá trị hoá. Mặt
khác, với tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động
sản xuất - kinh doanh để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập
trong tương lai. Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận động vµ đảm nhiệm chức
cách là hàng hoá, vốn có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng; có chủ sở
hữu và là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
Tính đặc biệt của "hàng hoá vốn" thể hiện ở chỗ: vốn có khả năng sinh
lời. Với tư cách là hàng hoá đặc biệt, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn
7
tách rời nhau. Đặc điểm này của vốn không có ở các loại hàng hoá thông
thường. Chủ sở hữu vốn sẽ nhận được một khoản lợi tức (giá bán hay lãi suất
quyền sử dụng vốn) khi bán quyền sử dụng vèn cho người mua (các nhà đầu tư).
Nhà đầu tư khi mua quyền sử dụng vốn phải bỏ ra một khoản gọi là chi phí (giá
mua quyền sử dụng vốn). Nhờ có sự tách rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử
dụng vốn làm cho vốn trở nên linh hoạt trong lưu thông và sinh lời.
Thứ ba, vốn có mối quan hệ mật thiết với thời gian
C.Mác viết:
tiền chỉ được đem nhượng lại với điều kiện, một là, nó sẽ quay
trở về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định, và hai là, nó sẽ quay
trở về điểm đó với tư cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi đã
thực hiện được cái giá trị sử dụng của nó, thực hiện được các khả
năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư [18, tr.525].
Như thế, chủ sở hữu vốn nhượng lại quyền sử dụng vốn cho nhà đầu tư
trong một khoảng thời gian xác định. Sau khi vốn trải qua chu kỳ vận động,
nó quay về tay chủ sở hữu, với một lượng giá trị lớn hơn. Lượng giá trị lớn
hơn đó là lợi tức của chủ sở hữu vốn hay là lãi suất phải trả của nhà đầu tư khi
sử dụng vốn. Mức lãi suất được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với lượng vốn
khi chủ sở hữu vốn nhượng, bán quyền sử dụng vốn theo đơn vị thời gian
(tháng, quý, năm ), phù hợp với nền kinh tế thị trường. Sự tách rời giữa
quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn, gắn với khoảng thời gian xác định
tất yếu dẫn đến quá trình tích tụ, tập trung vốn từ những khoản tiết kiệm nhỏ,
lẻ; những đồng tiền chưa có cơ hội đầu tư trở thành vốn và chuyển chúng đến
tay các nhà đầu tư. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, khi tiến hành hoạt
động sản xuất - kinh doanh, các nhà đầu tư luôn chú trọng tới yếu tố thời gian.
với thời hạn từ một năm đến dưới năm năm. Vốn dài hạn là lượng giá trị được
sử dụng để đầu tư với thời hạn từ năm năm trở lên.
+ Dựa vào quan hệ sở hữu, vốn có hai loại: Vốn chủ sở hữu (vốn tự có)
và vốn vay (huy động từ bên ngoài). Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc quyền quản
9
lý, sử dụng của mét hoặc nhiều chủ thể sở hữu. Vốn vay là vốn huy động
được từ bên ngoài để bổ sung, làm tăng lượng vốn của chủ thể kinh doanh,
đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất.
+ Dựa vào phương thức sử dụng, không chỉ có vốn sản xuất trực tiếp
phục vụ cho quá trình sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ, hàng hoá mà còn
cần vốn phục vụ gián tiếp cho sản xuất, bao gồm khối lượng lớn và phong
phú hệ thống kết cấu hạ tầng, các công trình công cộng
+ Dựa vào giá trị của vốn đầu tư trong thực tế và những chứng chỉ có
giá (cổ phiếu, trái phiếu ), vốn chia thành hai loại: vốn thực (tư bản thật) và
vốn ảo (tư bản giả)
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi cách tiếp cận khác nhau cho ta những
quan niệm khác nhau về vốn, song xét về bản chất là thống nhất. Việc phân
chia vốn thành nhiều loại khác nhau nhằm mục đích hiểu rõ bản chất của phạm
trù vốn - là hình thái giá trị, là thứ hàng hoá đặc biệt, có mối quan hệ mật thiết
với thời gian và nhận thức được tính đa dạng, nhiều vẻ và rất phức tạp.
1.1.1.3. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết để khởi sự
kinh doanh. Mọi doanh nghiệp đều cần có vốn để tồn tại và phát triển. Vai trò
của vốn đối với doanh nghiệp được thể hiện như sau:
* Vốn là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng nhất của hoạt
động sản xuất kinh doanh
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần chuẩn
bị các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, sức
lao động, … Tất cả các yếu tố đầu vào này phải được thuê, mua sắm bằng
tiền, tức là phải có vốn. Vốn là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nó vừa là tiền đề, vừa là kết quả của
11
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, pháp luật cho phép doanh
nghiệp có nhiều hình thức huy động và đầu tư vốn khác nhau. Điều này mở ra
nhiều cơ hội cho doanh nghiệp. Nhưng vấn đề đặt ra mang tính chất sống còn
cho doanh nghiệp là làm thế nào để sử dụng đồng vốn hiệu quả, mang lại
những lợi ích to lớn cho chủ doanh nghiệp và cả người lao động.
1.1.2. Vốn nhà nước trong các công ty cổ phần
1.1.2.1. Đặc trưng và ưu thế của công ty cổ phần
* Đặc trưng của CTCP
Công ty cổ phần là một doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp
vốn, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty
trong phạm vi phần góp vốn của mình. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005,
tại Chương IV, Điều 77 thì:
CTCP là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức,
cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng
tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa
vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào
doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của
mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi
biểu quyết và hạn chế đối với cổ đông sáng lập [20, tr.89-90].
Công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản sau đây.
- Là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, tồn tại riêng biệt và
độc lập với chủ sở hữu của nó.
- Các công ty này được tự do phát triển mọi hoạt động sản suất kinh
doanh theo pháp luật quy định, đa dạng hoá hay thay đổi thậm chí đình chỉ
hoạt động theo ý của công ty mà không phải tham khảo bất cứ một thẩm
do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết
nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa, hình thành các nhóm cổ đông đối
kháng nhau về lợi ích; Việc thành lập và quản lý CTCP cũng phức tạp hơn
các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp
luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán. Ngoài ra, chi phí cho việc thành lập
CTCP thường tốn kém; khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính trong các
công ty cổ phần thường bị hạn chế; phần lớn các cổ đông thường không có
kiến thức về kinh doanh và không hiểu biết lẫn nhau (thường 1 năm mới đại
hội một lần). Do có sự tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu và quyền quản
lý công ty cổ phần nên đôi khi có sự mâu thuẫn trong lợi ích và các kết quả
của đơn vị.
1.1.2.2. Khái niệm, đặc điểm của vốn nhà nước trong các công ty cổ phần
* Khái niệm
Theo Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 29/11/2005 thì vốn nhà nước trong các CTCP được hiểu là:
Phần vốn góp sở hữu nhà nước là phần vốn góp được đầu tư từ
nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn khác của nhà nước do
một cơ quan nhà nước hoặc tổ chức kinh tế làm đại diện chủ sở hữu.
Cổ phần sở hữu nhà nước là cổ phần được thanh toán bằng vốn
ngân sách nhà nước và nguồn vốn khác của Nhà nước do một cơ quan
nhà nước hoặc tổ chức kinh tế làm đại diện chủ sở hữu [21, tr.12].
Và khi doanh nghiệp có vốn sở hữu của Nhà nước trên 50% vốn điều lệ
gọi là DNNN.
* Vốn của Nhà nước ở các CTCP bao gồm:
- Vốn thuộc sở hữu nhà nước tại DNNN gồm tiền, giá trị quyền sử
dụng đất hay tiền thuê đất, giá trị tài sản thuộc sở hữu nhà nước được DNNN
đầu tư vào doanh nghiệp khác hoặc góp vốn liên doanh với tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước.
14
- Ngân sách nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp khác.
định cho ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp đó.
Ba là, vốn tạo niềm tin cho khách hàng và là sự đảm bảo đối với chủ nợ
về sức mạnh tài chính của doanh nghiệp. Quy mô vốn Nhà nước càng lớn thì
doanh nghiệp càng có sức mạnh cạnh tranh trên thị trường.
Bốn là, vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát
triển của doanh nghiệp, cho những dự án đầu tư lớn có hiệu quả và trang bị
đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến để hạ giá thành sản xuất, tăng
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Cuối cùng, trên cơ sở vốn phần vốn góp nhà nước, các CTCP có vốn
Nhà nước chi phối mới có thể tìm kiếm được các nguồn vốn tài trợ khác để
đảm bảo đủ vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, tăng sức mạnh cạnh tranh
và chống rủi ro trong cơ chế thị trường.
1.2. QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN
1.2.1. Sự cần thiết phải quản lý vốn nhà nước trong các công ty cổ phần
Với mục đích thúc đẩy các DNNN kinh doanh có hiệu quả hơn, có sự
đổi mới, chuyển biến thực sự về phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy
quản lý, Chính phủ đã đề ra chủ trương và tiến hành CPH các DNNN từ năm
1992. Đến nay tiến trình CPH DNNN đã được 16 năm và đạt được những kết
quả tích cực: CPH được triển khai đúng định hướng, các mục tiêu CPH đều
thực hiện được. Với điều kiện hiện nay, rõ ràng có nhiều doanh nghiệp sau cổ
phần làm ăn rất hiệu quả, nhưng cũng có doanh nghiệp thua lỗ, dẫn tới phá
sản. Tuy nhiên hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước trong
đó có CTCP trong thời gian qua vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu của
quá trình hội nhập: “Nhiều doanh nghiệp thực hiện chưa tốt việc bảo toàn và
phát triển vốn, tình trạng “ăn vào vốn”, mất vốn vẫn còn. Một số doanh
16
nghiệp chỉ có vốn trên sổ sách, thực chất đã hết vốn do treo lại các khoản lỗ,
công nợ khó đòi, tài sản tồn đọng…”, đó là kết luận của Bộ Tài chính về hiệu
quả sử dụng vốn nhà nước trong các doanh nghiệp hiện nay [33].
Trong điều kiện ngân sách nhà nước có hạn thì việc đầu tư dàn trải vào
sỏch ca Nh nc, do nh nc giao k hoch hoc t hng v theo giỏ,
khung giỏ hoc phớ do Nh nc quy nh m hot ng ch yu khụng vỡ
mc tiờu li nhun.
Nh nc vi vai trũ ch s hu, thc hin vic qun lý vn Nh nc
ti DNNN bng cỏc cụng c ch yu sau õy:
Bng h thng phỏp lut: Nh Lut doanh nghip 2005, Lut u
t, Ngh nh 199/2004/N-CP, N 109/2007/N-CP, N 138/2007/N-
CP, cỏc thụng t hng dn ch qun lý ti chớnh ti cỏc DNNN, cỏc cụng
c ti chớnh v mụ nh: chớnh sỏch thu, lói sut, t giỏ
B mỏy qun lý vn v ti sn Nh nc ti DNNN:
- B Ti chớnh (Cc Ti chớnh doanh nghip).
- S Ti chớnh (Phũng Ti chớnh doanh nghip).
B mỏy qun lý ti chớnh doanh nghip thc hin chc nng kim tra,
giỏm sỏt vic chp hnh phỏp lut Nh nc trong sn xut kinh doanh ca
cỏc doanh nghip. ng thi hng dn, giỳp , t vn phỏp lut giỳp cho
cỏc doanh nghip thc hin ỳng cỏc ch , chớnh sỏch ti chớnh quy nh
hin hnh ca Nh nc
i ng qun lý ca cỏc CTCP Nh nc (Giỏm c, Phú giỏm c,
K toỏn trng đợc chủ sở hữu vốn nhà nớc cử tham gia quản lý phần vốn và
giới thiệu vào các chức danh quản lý tại doanh nghiệp). Cỏc doanh nghip
thụng qua b mỏy k toỏn, kim toỏn ni b, cỏc hỡnh thc cụng khai hot
ng ti chớnh thc hin nhim v qun lý vn Nh nc ó giao cho
doanh nghip qun lý v s dng. ng thi, cỏc doanh nghip phi chu
18
trách nhiệm trước Nhà nước trong việc quản lý vốn, bảo toàn và phát triển
vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.
1.2.2.2. Hiệu quả quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong công ty cổ phần
Việc đánh giá hiệu quả quản lý vốn Nhà nước tại CTCP chỉ được thông
qua hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước của các doanh nghiệp. Lấy suất sinh lời
trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả của
trình sản xuất kinh doanh và ở các góc độ khác nhau. Cụ thể, các chỉ tiêu này
có thể chia thành các nhóm sau:
• Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu sử dụng vốn
Nội dung của nhóm chỉ tiêu này là việc phân tích kết cấu tài sản của
doanh nghiệp để thấy được việc phân bổ nguồn vốn cho từng hạng mục tài
sản; trên cơ sở so sánh với đặc thù lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, với số liệu của ngành để đánh giá tính hợp lý của việc phân bổ đó.
Đồng thời tiến hành so sánh kết cấu tài sản với kết cấu nguồn vốn để thấy
được việc tài trợ của từng nguồn vốn có phù hợp hay không.
Hệ số cơ cấu tài sản =
TSCĐ hoặc TSLĐ
Tổng tài sản
• Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán cũng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Nhóm chỉ tiêu này góp phần cho ta có nhìn nhận chuẩn xác
hơn về thực lực, khả năng tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp kinh
doanh có lãi nhưng nếu không cân đối được các khoản thu chi của mình rất có
thể để xảy ra tình trạng mất khả năng thanh toán và dẫn đến phá sản.
Một trong những thước đo khả năng thanh toán được sử dụng rộng rãi
nhất là khả năng thanh toán hiện hành.
20
Tỷ số thanh toán
hiện hành
=
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Tỷ số này cho thấy công ty có bao nhiêu tài sản để có thể chuyển đổi
thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số này ở
mức nào là chấp nhận được còn tùy thuộc vào sự so sánh với tỷ số của các
công ty cạnh tranh hoặc so sánh với các năm trước để thấy được sự tiến bộ
=
TS lưu động – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
lưu động, biểu hiện tốc độ chu chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh
hay chậm. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn lưu động
càng cao. Kỳ tính vòng quay vốn lưu động thường là 1 năm. Do đặc điểm đa
dạng của vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn được phân tích
chi tiết qua các chỉ tiêu về hiệu quả sử từng bộ phận vốn lưu động.
* Số vòng quay các khoản phải thu
Số vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc
thanh toán các khoản phải thu của doanh nghiệp. Khi khách hàng thanh toán tất
cả các hóa đơn của họ, lúc đó các khoản phải thu quay được một vòng.
Vòng quay các khoản
phải thu
=
Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Số vòng quay các khoản phải thu cao hay thấp phụ thuộc vào chính
sách bán chịu của công ty. Nếu số vòng quay thấp thì hiệu quả sử dụng vốn
kém do vốn bị chiếm dụng nhiều. Nhưng nếu số vòng quay các khoản phải
thu cao quá thì sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu.
* Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng
tồn kho
=
Doanh thu thuần
Hàng tồn kho bình quân
Số vòng luân chuyển hàng tồn kho cao hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm
ngành kinh doanh. Để có đánh giá đúng thì cần phải so sánh với hệ số trung
bình của ngành. Đối với bản thân doanh nghiệp, nếu số vòng quay hàng tồn
thu và vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra
được bao nhiêu đồng doanh thu.
• Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi
* Hệ số sinh lợi của vốn
Hệ số sinh lợi của
vốn
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn bình quân
Chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn sử dụng bình quân trong kỳ mang
về bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy vốn sử dụng
càng có hiệu quả.
* Hệ số sinh lợi của vốn lưu động
Hệ số sinh lợi của
vốn lưu động
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn lưu động bình quân
Vốn lưu động bình quân là số trung bình của giá trị vốn lưu động ở thời
điểm đầu kỳ và thời điểm cuối kỳ. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu
động tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ.
23
* Hệ số sinh lợi của vốn cố định
Hệ số sinh lợi của
vốn cố định
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn cố định bình quân
Trong đó, vốn cố định bình quân là giá trị bình quân của giá trị còn lại
đầu kỳ và giá trị còn lại cuối kỳ.
nước bảo
toàn cuối kỳ
=
Số vốn
nhà nước
đầu kỳ
+
Số vốn nhà nước
đầu tư
(thêm hoặc rút về)
+
Số vốn đầu tư
thêm từ lợi
nhuận sau thuế
• Các biện pháp bảo toàn vốn Nhà nước là:
- Thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản theo các quy
định của nhà nước.
- Thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng
của doanh nghiệp. Việc mua bảo hiểm tài sản để giảm bớt những rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bù
đắp những tổn thất về tài sản của doanh nghiệp.
- Trích lập các khoản dự phòng: Được hạch toán vào chi phí kinh
doanh để hình thành khoản dự phòng: giảm giá hàng tồn kho, dự phòng các
khoản phải thu khó đòi, dự phòng các khoản giảm giá giữa đồng tiền Việt
Nam so với đồng ngoại tệ, ; thực hiện chế độ trích lập quỹ dự trữ tài chính,
quỹ dự phòng mất việc làm trong các doanh nghiệp.
- Tính đúng, trích đủ khấu hao tài sản cố định theo quy định của Nhà
nước, khuyến khích các doanh nghiệp trích khấu hao nhanh nhằm đảm bảo
thu hồi sớm giá trị tài sản để tạo nguồn thay thế, đổi mới máy móc thiết bị
theo hướng áp dụng công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại phù hợp với yêu