Tâm lý và hành vi người tiêu dùng
Với mong muốn chia sẻ một chút tư duy chủ quan của tôi về tâm lý và
hành vi của con người trong quá trình tiêu dùng SPDV. Tài liệu này sẽ đề cập
tới các vấn đề từ khái niệm về người tiêu dùng; hành vi, suy nghĩ của họ; diễn
biến của tri thức, tri hành trong quá trình mua cho tới phân tích quá trình mua
và các ứng dụng trong thực tế.
Tài liệu này do ông Phan Hà biên tập dựa trên kinh nghiệm học tập, làm
việc và có biên tập lại một số phần trong đề tài có sẵn của một sinh viên thực
tập tại Công ty Market Connect.
Mọi góp ý, khuyên nhủ xin vui lòng gửi thư cho ông Phan Hà với địa chỉ
email như sau: [email protected]
Khám phá tâm lý hành vi người tiêu dùng 13
Phương pháp quan sát 13
Phương pháp điều tra: 14
Phỏng vấn trực tiếp: 14
Phỏng vấn bằng điện thoại: 14
Phỏng vấn bằng thư tín: 14
Phỏng vấn trên Internet bằng các trang Web: 14
Thu thập thông tin thứ cấp: 15
Những ứng dụng trong kinh doanh 15
Ứng dụng trong phân khúc nhu cầu 15
Nguyên tắc khi phân khúc 15
Nhiệm vụ của phân khúc 15
Tiêu chí phân khúc 15
Phương pháp phân khúc 16
Ứng dụng trong công tác nghiên cứu thị trường 16
Ứng dụng trong công tác truyền thông 16
Ứng dụng trong công tác tiếp thị 17
Ứng dụng trong công tác bán hàng 17
Thông tin là bí quyết thành công trong kinh doanh. 18
Người tiêu dùng
Một con người có thể đóng nhiều vai trò khác nhau trong việc mua một sản
phẩm, dịch vụ. Một con người trong xã hội có thể là:
1. Người tiêu dùng: là người tham gia vào quá trình làm sản phẩm, dịch vụ
bị hao mòn hoặc mất giá trị sử dụng. Họ cũng được gọi là người sử dụng
cuối cùng (end user).
2. Người mua hàng: là người bỏ ra một giá trị tương xứng với SPDV cần mua
để đổi lấy nó. Quá trình này kết thúc sẽ chuyển đổi quyền sở hữu về SPDV
Thế giới
quan
Cảm xúc
Suy nghĩ
Tri thức
Quá trình tâm l
ý
và hành vi của con n
g
ười
nhận để loại bỏ mong muốn. Đây có thể là các giá trị cảm xúc như yêu/ghét,
tình bạn/kẻ thù, hòa thuận/đối nghịch.v.v.
Quá trình đi từ nhận thức tới ý thức là hiện thực chủ quan – cái tôi. Đây là các
giá trị thông tin mong muốn trong con người. Nó có thể được thể hiện ra hoặc
không thể hiện ra tùy thuộc vào trạng thái cảm xúc của mỗi người. Đây là các
cảm xúc được sở hữu, được quyết định, được kiểm soát một sự vật, hiện tượng
nào đó. Nhiệm vụ của người kinh doanh là phải khám phá được các trạng thái
cảm xúc đó để sản xuất ra các SPDV đúng như họ mong muốn.
Trang thái tâm lý
Tùy thuộc vào mức độ phát triển của các giác quan và cơ chế phản xạ của mỗi
con người mà trong xã hội chúng ta có thể gặp những con người có một số khí
chất như sau:
1. Nhóm hướng ngoại:
a. Người sôi nổi: họ là những người năng động, tác phong mạnh bạo,
quan hệ trung thực, cởi mở, thẳng thắn, nhiệt tình đôi lúc hấp tấp,
dễ nóng nảy, dễ bị kích động.
b. Người linh hoạt: họ là những người lạc quan, tự tin, vui vẻ, quan
hệ rộng, dễ tiếp xúc, dễ thích nghi, có nhiều sáng kiến mưu mẹo.
Tình cảm dễ bị thay đổi, nhận thức nhanh nhưng không sâu sắc.
2. Nhóm hướng nội:
nghĩ để có được giá trị sử dụng cuối cùng phải là tối thiểu.
Tri hành, tri thức của NTD trong quá trình
mua
Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng là nghiên cứu những cảm xúc của NTD
với các cảm giác từ 5 giác quan và cảm tính chung mà con người có được.
Cảm xúc của người tiêu dùng
Là thông tin về nhu cầu mà NTD có thể ý thức được cách thực hiện nó. Có
hai dạng cảm xúc: cảm xúc đến từ tri thức và cảm xúc đến từ tri hành
1. Cảm xúc thuộc về tri thức: là những cảm xúc gây ra do quá trình biến
thiên về thông tin trong bộ não tạo ra và gọi ngắn gọn là suy nghĩ về nhu
cầu. Đây là quá trình phụ thuộc vào tri giác chủ quan của mỗi người do đó
nó tạo ra các nhận thức về SPDV ở các mức độ khác nhau (mức độ nhận
biết về SPDV).
2. Cảm xúc thuộc về tri hành: là những cảm xúc gây ra do cảm xúc về nhu
cầu lên cao, thôi thúc hành động. Đôi lúc cũng có cảm xúc không qua tri
hành – đó là mua một cách vô thức, không có sẵn ý thức. Đây là quá trình
phục thuộc mạnh vào cảm xúc sở hữu SPDV của NTD.
Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng
Người tiêu dùng chịu sự ảnh hưởng từ thế giới quan rất nhiều. Nó có thể từ
gia đình, nhà trường, xã hội, công sở, bạn bè, đồng nghiệp, đi du lịch, các cơ
hội hiếm có mua sắm, các nguyên nhân chủ quan bắt buộc phải hành động
(bệnh tật), hàng độc quyền bán …
Những yếu tố bên ngoài:
1. Văn hóa: Văn hoá được hiểu là toàn bộ những niềm tin, giá trị đạo đức,
chuẩn mực, nguyên tắc sống, phong tục tập quán vùng miền được dùng để
gia tăng nhận thức, ý thức của con người trong xã hội. Văn hoá là lịch sử,
chúng được hình thành qua quá trình học hỏi và được lưu truyền từ người
lớn và duy trì ổn định trong xã hội và được sắp xếp theo thứ bậc đẳng cấp.
Chúng có những đặc trưng quyết định bởi những quan điểm giá trị, lợi ích,
hành vi đạo đức. Đặc trưng của giai cấp trong xã hội:
a. Những người cùng một giai cấp có khuynh hướng suy nghĩ và hành động
giống nhau.
b. Con người có những quyền lực hành động cao hoặc thấp tuỳ vào họ
thuộc giai cấp nào.
c. Giai cấp xã hội được xác định trên cơ sở nghề nghiệp, thu nhập, tài sản,
học vấn, các giá trị tâm lý vô hình khác.
Có thể thấy các giai cấp xã hội đều có những đặc trưng về sở thích rõ rệt
đối với những SPDV. Vì vậy nhiệm vụ của người tiếp thị, bán hàng khi
quan tâm đến tầng lớp xã hội không phải là xem nhóm này có địa vị cao
hơn nhóm kia mà là vấn đề tìm hiểu xem điểm chung của thái độ và thói
quen của các thành viên trong giai cấp đó, từ đó xác định hành vi mua
và tiêu dùng của họ. Ví dụ những người ở tầng lớp cao, nhiều tiền thích
mua hàng sang trọng đắt tiền, đối với họ giá c
ả không thành vấn đề. Cái
họ quan tâm là nơi mua hàng trông nó như thế nào, nó có sang trọng
hay không, cách trình bày hàng hoá có nổi bật không, cách thức mua
hàng như thế nào, nhãn hiệu hàng hoá có nổi tiếng không…
3. Nhóm ảnh hưởng, tác động: Là những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp hay
gián tiếp đến thái độ hay hành vi của con người. Đó là những nhóm mà cá
nhân người đó tham gia vào trong nhóm và tác động qua lại với các cá thể
trong nhóm. Chúng bao gồm:
a. Nhóm cơ sở: tác động mang tính chất khá thường xuyên như gia đình,
bạn bè, láng giềng, đồng nghiệp và thường các tác động này có tính
chất ảnh hưởng khá cao.
b. Nhóm thứ cấp: tác động không thường xuyên và mang tính chất hình
thức như tổ chức xã hội, nghiệp đoàn, công đoàn.
c. Nhóm gián tiếp: là những nhóm mà cá nhân không phải là thành viên,
5. Cấu trúc thu nhập (mức độ thành công, thành đạt): Thu nhập của cá nhân
ảnh hưởng rất lớn đến cách lựa chọn hàng hoá của họ. Nếu một người đang
ở tình trạng thu nhập khả quan (thu nhập cao, tài sản nhiều) họ có thể lựa
chọn hoặc mua những hàng hoá có giá trị cao hoặc đắt tiền, lượng hàng hoá
họ mua cũng có thể nhiều hơn. Ngược lại một người đang tình trạng kinh tế
khó khăn việc chi tiêu của họ có phần hướng về tiết kiệm nhiều hơn và sản
phẩm của họ chủ yếu là hàng thiết yếu, rẻ tiền. Tình trạng kinh tế có thể
xác định qua thu nhập, tài sản tích tụ, khả năng vay mượn, chi tiêu so với
thu nhập và chi tiêu so với tích lũy. Qua đó các nhà doanh nghiệp kinh
doanh mặt hàng phụ thuộc vào mức thu nhập của người tiêu dùng cần phải
theo dõi kỹ lưỡng những biến động của các chỉ tiêu kinh tế để có những biện
pháp tức thời thay đổi kết cấu, vị trí, giá cả hàng hoá,… để bảo vệ mình,
đặc biệt là khi các chỉ tiêu đó nói lên sự suy thoái.
4. Phong cách sống (Thuộc về nhóm):Là tập hợp những thói quen, hành vi mà
cá nhân đó tự cho rằng phù hợp với mình hoặc học đòi làm theo vì phong
cách sống của một người chịu ảnh hưởng của văn hoá, các nhóm ảnh hưởng
trong xã hội. Phong cách sống của một người ảnh hưởng đến hành vi tiêu
dùng của người đó.
5. Cá tính: Cá tính hay tính cách được định nghĩa như là đặc tính tâm lý bên
trong biểu hiện qua thái độ, qua cách ứng xử bên ngoài của một người đối
với hoàn cảnh, môi trường xung quanh người đó. Cá tính ổn định và khó
thay đổi vì thế thái độ, cách cư xử của một người trước các tình huống khác
nhau có thể dự đoán được. Điều này khiến các doanh nghiệp quan tâm đến
cá tính khi các quyết định tiêu dùng về sản phẩm của họ liên quan đến tính
cách cá nhân.
Những yếu tố tâm lý bên trong con người:
1. Nhu cầu và động cơ:
Động cơ người tiêu dùng là cảm xúc đủ mạnh để suy nghĩ và hành
động. Việc hiểu động cơ người tiêu dùng giúp chúng ta hiểu được điều gì đã
thúc đẩy họ sử dụng sản phẩm này hay sản phẩm khác. Hiện tại thường có sự
Các nhà sản xuất rất quan tâm đến niềm tin của con người đối với những
hàng hoá và dịch vụ cụ thể. Từ những niềm tin này, hình thành nên những
hình ảnh hàng hoá và nhãn hiệu trong tâm trí NTD. Căn cứ vào những niềm tin
này con người có khả năng hành động cao. Nếu có niềm tin nào đó không đúng
đắn và cản trở việc thực hiện hành vi mua hàng thì nhà sản xuất cần có hành
động để lấy lại niềm tin của NTD. Nói tóm lại là họat động thương mại chính là
hoạt động mua niềm tin của khách hàng và bán SPDV mà họ đã tin dùng.
4. Thái độ: Thái độ là một tập hợp của cảm xúc và biểu hiện qua các bộ phận
của cơ thể. Cảm xúc xấu thì thái độ xấu và ngược lại. Thông qua thái độ,
con người truyền tải các suy nghĩ, quan điểm của mình về sự vật hiện
tượng. Do vậy nghiên cứu thái độ có thể tìm ra cảm xúc của NTD.
Quá trình quyết định mua
Khuyến khích để nhận ra nhu cầu cũng là công việc cần thiết của nhà
kinh doanh để thúc đẩy người tiêu dùng vào một quá trình ra quyết định mua
sắm. Khi thừa nhận nhu cầu xảy ra, người tiêu dùng sẽ hướng vào việc tìm
kiếm thông tin để từ đó đi đến việc chọn lựa giữa các nhãn hiệu và cuối cùng đi
đến quyết định mua. Sơ đồ mô tả quá trình quyết định mua của người tiêu
dùng như sau:
Xét theo sơ đồ người tiêu dùng phải trải qua tất cả năm giai đoạn trong
mỗi lần mua hàng bất kỳ. Tuy nhiên khi thực hiện mua hàng thường ngày họ
thường có xu hướng bỏ qua một giai đoạn hay thay đổi trình tự của chúng.
Ví dụ một người phụ nữ mua kem đánh răng nhãn hiệu quen thuộc với mình,
sau khi nhận biết được nhu cầu là thông qua ngay quyết định mua hàng, bỏ
qua các giai đoạn thu thập thông tin và đánh giá các phương án vì cô ta đã
có cảm xúc tốt về nhãn hiệu đó. Nhưng dù sao mô hình trên cũng được sử
dụng thường xuyên nhất khi phân tích quá trình quyết định mua hàng của
người tiêu dùng vì nó phản ánh tất cả sự cân nhắc nảy sinh khi người tiêu
thụ gặp phải một tình huống mới đối với họ.
Nhận biết nhu cầu:
Tìm kiếm thông tin:
Tìm kiếm là giai đoạn thứ hai của quá trình ra quyết định mua. Tuy
nhiên giai đoạn này có thể có hoặc không tuỳ theo sản phẩm người NTD cần là
gì. Trong trường hợp hàng hoá đó dễ tìm kiếm hoặc đã mua quen thì giai đoạn
này sẽ bị bỏ qua. Khi tìm kiếm thông tin, người tiêu dùng có thể sử dụng
những nguồn thông tin sau:
1. Nguồn thông tin thuộc các nhóm ảnh hưởng
2. Nguồn thông tin đại chúng thông qua các phương tiện truyền thông, các
nguồn thông tin từ NSX, người bán, trên bao bì SPDV.
3. Nguồn thông tin từ trải nghiệm thực tế như xem xét, sờ mó, sử dụng thử
hàng hoá.
Quá trình thu thập thông tin sẽ người tiêu dùng hiểu rõ hơn các nhãn hiệu
hiện có trên thị trường. Những nhãn hiệu quen thuộc sẽ tạo thành thông tin sơ
cấp cho các tri hành, những nhãn hiệu mới sẽ rất khó khăn để NTD nhớ thêm
vì mỗi người thường chỉ nhớ được từ 2 tới 5 nhãn cho cùng 1 loại hàng hóa. Từ
các thông tin về nhãn hiệu NTD sẽ quyết định việc lựa chọn của mình. Vì vậy
các doanh nghiệp phải xây dựng được một hệ thống nhận dạng thương hiệu
sao cho nó đưa được nhãn hiệu của DN vào chuỗi thông tin nhãn hiệu “đã biết”
hoặc ưa thích để lựa chọn của người tiêu dùng.
Đánh giá các phương án:
Ta biết rằng NTD sẽ sử dụng thông tin về các nhãn hiệu đã biết để phục vụ cho
việc lựa chọn cuối cùng. Vấn đề ở chỗ việc lựa chọn nhãn hiệu cụ thể trong số
đó được thực hiện như thế nào, người tiêu dùng đánh giá thông tin ra sao?
Người tiêu dùng có nhiều cách đánh giá khác nhau để đi đến quyết định mua
hàng. Người tiếp thị, bán hàng cần chú ý các xu hướng sau:
1. Người tiêu dùng cho rằng bất kỳ một SPDV nào cũng có các thuộc tính đặc
tính nhất định và họ đánh giá sản phẩm thông qua những thuộc tính hay
đặc tính ấy. Đó chính là phần hóa, lý tính của SPDV.
2. Người tiêu dùng thường tin rằng mỗi nhãn hiệu đại diện cho một niềm tin,
một hình ảnh về SPDV. Đó chính là phần cảm tính của SPDV.
Tóm lại hành vi người tiêu dùng có thể được xem như một quá trình quyết định
mua hàng bao gồm ba giai đoạn chính trước trong và sau khi tiêu thụ SPDV và
hành động mua hàng chi là một giai đoạn trong quá trình đó, những giai đoạn
trước và sau khi mua hàng phải được xem xét để hiểu rõ hành vi mua hàng.
Hiểu được nhu cầu của người tiêu dùng và quá trình mua hàng là cơ sở
thành công của tiếp thị và bán hàng. Sau khi hiểu rõ quá trình quyết định mua
của người tiêu dùng và cái gì ảnh hưởng chủ yếu đến hành vi của họ, người
tiếp thị, bán hàng có thể soan thảo một chương trình tiếp thị hiệu quả nhằm
duy trì khả năng bán SPDV cho thị trường mục tiêu.
Các tình huống mua hàng
Như chúng ta đã thấy ở trên, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi
người tiêu dùng. Tuy nhiên chúng cũng không thể giải thích được tất cả các
hành vi của NTD. Tâm trạng người tiêu dùng vào thời điểm mua hàng, tình
huống xảy ra lúc ấy, những điều kiện môi trường xung quanh…là những yếu tố
ngẫu nhiên có thể ảnh hưởng đến việc mua hàng. Những yếu tố ấy thường
được gọi là tình huống mua hàng.
Tình huống mua hàng là tập hợp các yếu tố gắn liền với một thời điểm cũng
như một địa điểm nào đó, có ảnh hưởng rõ rệt đến hành vi chủa chủ đề. Các
tình huống mua hàng thường gặp:
Trước khi mua
Nhận biết nhu cầu Tìm
kiếm thông tin
Trong khi mua
Đánh giá lựa chọn
Quyết định mua
Sau khi mua
Vận chuyển, vận hành,
phương thức tiêu dùng.
pháp sau:
Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp dùng các giác quan hoặc các thiết bị hỗ trợ để ghi
nhận các hiện tượng hoặc tác phong của con người mà có thể không cần đến
sự hợp tác của đối tượng quan sát. Khi quan sát, không phải mọi thông tin đều
được ghi nhận mà chỉ ghi nhận những thông tin cần thiết cho cuộc nghiên cứu.
Ghi chép một cách khoa học vì các hiện tượng xảy ra rất nhanh và nhiều. Để
thực hiện quan sát tốt cần tiến hành theo những bước sau:
1. Bước 1: xác định rõ mục đích quan sát như: quan sát để xác định đối tượng
mua hàng, để phân tích thái độ, để xác định cơ cấu hàng bán,…
2. Bước 2: xác định nội dung quan sát. Nội dung này phụ thuộc vào mục đích
quan sát. Ví dụ quan sát để xác định đối tượng mua hàng thì nội dung bao
gồm: giới tính khách hàng, độ tuổi, trang phục (để xác định đối tượng thuộc
tầng lớp nào), phương tiện khách hàng đi đến cửa hàng,…
3. Bước 3: chuẩn bị quan sát. Bước này rất quan trọng vì nó quyết định đến sự
thành công hay thất bại của quá trình quan sát. Công việc gồm: chọn địa
điểm quan sát; lập các biểu mẫu quan sát; chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ
nếu cần thiết; các thủ tục cần thiết khi tiến hảnh quan sát;…
4. Bước 4: tiến hành quan sát. Phải ghi nhận đầy đủ các hiện tương; thời gian
đủ lớn để tránh những yếu tố ngẫu nhiên; cách ghi nên thực hành ghi ký tự
hoặc mã số,…
Ưu điểm: do hiện tượng diễn ra trước mắt người quan sát nên dữ liệu thu
thập được có cơ sở để tin cậy, đồng thời mang yếu tố khách quan vì đối tượng
không được biết trước.
Khuyết điểm: khó đảm bảo yếu cầu lấy mẫu vì tổng thể cần quan sát là
rất khó xác định. Thứ hai là quan sát không cho phép ghi chép những thông tin
được xem là tiềm ẩn trong tiểm thức của đối tượng.
Phương pháp điều tra:
Việc điều tra có thể diễn ra trực tiếp với chính người tiêu dùng bằng bảng
câu hỏi, cũng có thể điều tra qua nhân viên bán hàng, các nhà bán lẻ, các đại
trả lời. Bảng câu hỏi phải được trình bày đẹp và hấp dẫn.
Phỏng vấn trên Internet bằng các trang Web:
1. Có sẵn mẫu: hình thức này giống như thư tín nhưng người nghiên cứu phải
biết trước đối tượng tham gia. Thông thường các NSX đã có danh sách email
của các đại lý và họ gửi thư trực tiếp tới từng đại lý và đề nghị tham gia trả
lời. Hình thức này khá nhanh chóng và thuận lợi và có độ tin cậy khá cao.
2. Mẫu ngẫu nhiên: hình thức này giống như trên nhưng không biết người trả
lời là ai. Thông thường cách này chỉ để tham khảo xu thế khuynh hướng
chung chứ không xác định được tại sao họ có suy nghĩ và hành động như
vậy. Hình thức này chỉ để tạo ra thông tin thứ cấp.
Thu thập thông tin thứ cấp:
1. Sử dụng nguồn thông tin từ các báo cáo bán hàng để nhận ra một tập quán,
thói quen của khách hàng, nhóm khách hàng hay
2. Sử dụng nguồn thông tin từ sách, báo, tạp chí.
3. Sử dụng thông tin thứ cấp từ các cuộc nghiên cứu khác….
4. Dù sử dụng phương pháp nào cũng cần phải lưu ý những điểm sau: (1)
Hành vi tiêu dùng là những hiện tượng hay thay đổi và khó lượng hoá chính
xác. Điều này hàm nghĩa rằng khi phân tích người tiêu dùng phải phân tích
họ trong một thị trường trọng điểm, trong một bối cảnh xã hội, trong các
giai đoạn cụ thể, trong sản phẩm và trong từng nhóm hoặc từng cá nhân.
(2) Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng phải chú ý đến mối quan hệ tương
quan giữa nhận thức, hành vi của cá nhân và môi trường xung quanh.
Mặc dù khó nghiên cứu nhưng hành vi người tiêu dùng có thể nghiên cưu
trên nền tảng các phương pháp khoa học. Tuyệt đối không thể nghiên cứu mà
dựa vào linh cảm hay sự suy đoán vì điều đó có thể dẫn đến xác xuất sai lầm
rất lớn.
Những ứng dụng trong kinh doanh
Ứng dụng trong phân khúc nhu cầu
Từ việc hiểu tâm lý và hành vi trong quá trình mua hàng của NTD ta có thể
phân khúc nhu cầu NTD theo nhiều góc độ khác nhau:
Ứng dụng trong công tác truyền thông
Tìm
kiếm
thông tin
Nhận
biết nhu
cầu
Đánh
giá lựa
chọn
Quyết
định
mua
Đánh
giá sau
khi mua
Ứn
g
d
ụ
n
g
cho ho
ạ
t đ
ộ
n
g
tin
hướng
dẫn bảo
trì, sửa
chữa (5)
Tìm
kiếm
thông tin
Nhận
biết nhu
cầu
Đánh
giá lựa
chọn
Quyết
định
mua
Đánh
giá sau
khi mua
Ứn
g
d
ụ
n
g
cho ho
ạ
t đ
ộ
vụ của
DN với
NTD (4)
NCTT
về mức
độ hài
long của
NTD sau
khi mua
(5)
Ứng dụng trong công tác tiếp thị
Ứng dụng trong công tác bán hàng Tìm
kiếm
thông tin
Nhận
biết nhu
cầu
bán hàng (3)
Chính sách
phục vụ (4)
Chính sách
quan hệ
khách hàng
(5)
Tìm
kiếm
thông tin
Nhận
biết nhu
cầu
Đánh
giá lựa
chọn
Quyết
định
mua
Đánh
giá sau
khi mua
Ứn
g
d
ụ
n
g
cho ho
ạ
dựng khách
hàng trung
thành, bốc
thăm trúng
thưởng (4)
TVTH các
CT hội nghị
khách hàng,
đối tác,
CRM (5)
Thông tin là bí quyết thành công trong
kinh doanh.
Quý vị hãy ghi nhớ hay giao cho ai đó có trách nhiệm ghi nhớ lại thông
tin về chúng tôi vì chúng tôi cũng có thể là một trong các thông tin mang lại
thành công cho quý vị.
Trung Tâm Nghiên Cứu Thị Trường iScan
Công Ty Kết Nối Thị Trường
25-25A Phạm Viết Chánh, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
Điện Thoại: (848) 925-6236 Fax: (848) 839-5065
Email: [email protected]
Website: www.welcome.com.vn
Người phục vụ quý vị: (ông) Quang Bình
P.Giám Đốc iScan
Số điện thoại di động: (8490) 850-9353
Email: [email protected]
Người thay thế khi ông Bình đi công tác hay bận đột xuất: chị Nhã
Số điện thoại di động: (8498) 243-8678
Email: [email protected]